Luận văn tốt nghiệp 1 Luận văn:
“Một số giải pháp nhằm nâng cao năng
suất lao động tại công ty cơ khí chính xác
số I Thanh Xuân Hà Nội’”
Luận văn tốt nghiệp 2
LỜI NÓI ĐẦU
Muốn phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, chủ yếu phải dựa vào
nâng cao năng suất lao động. Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp để nâng
cao năng suất lao động là vấn đề luôn được quan tâm từ trước tới nay.
Trước đây, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc sử dụng chỉ tiêu năng
suất lao động để đánh giá chất lượng của các cơ sở kinh tế quốc dân. Nhưng,
từ khi đổỉ mới cơ chế kế hoạch hoá, chỉ tiêu năng suất lao động ít được chú ý
đến, tình hình này làm cho những nghiên cứu tính toán của các chỉ tiêu năng
suất lao động trong ngành cơ khí nói riêng cũng như toàn nền kinh tế nói
con người trong một đơn vị thời gian nhất định. Năng suất lao động phản ánh
hiệu quả sử dụng lao động sống tron
C
g quá trình sản xuất và được biểu hiện
bằng số lượng sản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian lao động hoặc
bằng lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Quan niệm truyền thống về năng suất chủ yếu là hướng vào đầu vào, tập
trung hướng vào các yếu tố đầu vào như lao động, vốn trong đó lao động sống
là yếu tố trung tâm. Vì vậy, ở nhiều nước, nhiều khi người ta đồng nhất năng
suất với năng suất lao động.
Theo Uỷ ban năng suất thuộc hội đồng năng suất Châu Âu thì “năng suất
là một trạng thái tư duy. Nó là thái độ nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì
đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng, con người hôm nay có thể làm việc
tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa, nó đòi
hỏi những cố gắng phi thường không ngừng để thích ứng với các hoạt động
kinh tế trong những điều kiện luôn luôn thay đổi, luôn ứng dụng những lý
thuyết và phương pháp mới. Đó là một sự tin tưởng chắc chắn trong quá trình
tiến triển của loài người”
(2)
.
Đây là một khái niệm trừu tượng, nhấn mạnh đến mặt chất và phản ánh
tính phức tạp của năng suất với các đặc trưng : năng suất được hiểu rộng hơn,
như là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế-xã hội. Quan niệm này
đòi hỏi mối quan hệ lợi ích người lao động-doanh nghiệp-người tiêu dùng.
(1). C. Mác. Tư bản quyển 1. T
1
. NXB Sự thật. Hà nội, 1960 - trang 26
Luận văn tốt nghiệp
Pt là tổng năng suất.
Qt là tổng đầu ra.
L là nhân tố lao động.
(2). Tạp chí Năng suất lao động
Luận văn tốt nghiệp 5
C là nhân tố đầu vào.
R là nguyên liệu thô.
Q là những hàng hóa và những dịch vụ khác.
b. Năng suất bộ phận
Chỉ tiêu này thường dùng để đánh giá sự đóng góp của từng nhân tố riêng
biệt.
Năng suất bộ phận = đầu ra (gộp hoặc ròng)/(một nhân tố).
Có hai loại năng suất bộ phận quan trọng nhất là năng suất lao động và
năng suất vốn.
c. Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
Đây là chỉ tiêu đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng tổng hợp các
yếu tố đầu vào. Về bản chất, TFP là năng suất được tạo nên do tác động của
các nhân tố vô hình (thay đổi cơ cấu sản xuất, đổi mới công nghệ nâng cao
chất lượng lao động, cải tiến quản lý và cải tiến tổ chức…) thông qua sự biến
đổi của các nhân tố hữu hình (đặc biệt là lao động và vốn). Đó là kết qủa sản
xuất tạo ra thêm ngoài phần đóng góp của các yếu tố sản xuất được sử dụng.
Theo quan điểm phát triển, TFP phản ánh hiệu suất đích thực của nền
kinh tế. Một nền kinh tế phát triển khi đạt được tổng mức đầu ra lớn hơn tổng
mức đầu vào. Song nếu mức lớn hơn đó chỉ dựa vào đơn thuần vào sự gia
tăng của các yếu tố đầu vào thì nền kinh tế đó tuy phát triển song chưa có hiệu
tế cuả doanh nghiệp không chỉ phản ánh thông qua các chỉ tiêu tài chính mà
bao gồm cả các kết quả xã hội mà nó mang lại. Hiện nay, theo khái niệm của
các nước, khái niệm năng suất rộng hơn và sẽ bao trùm cả hiệu quả. Năng
suất được hiểu hai mặt là hiệu quả và tính hiệu quả. Hiệu quả là nói về mức
độ sử dụng các nguồn lực và tính hiệu quả của chi phí hay hiệu qủa của việc
khai thác, huy động sử dụng các nguồn lực đầu vào, nó gắn với lợi nhuận hơn.
Tính hiệu qủa chủ yếu đề cập đến mặt chất của đầu ra như tính hữu ích, mức
độ thoả mãn người tiêu dùng, mức độ bảo đảm các yêu cầu về xã hội.
Đối với các doanh nghiệp, tăng năng suất là phạm trù rộng hơn hiệu
quả, bao gồm đồng thời việc hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng và
nguồn lực để tăng lợi nhuận lẫn việc mở rộng số lượng và chủng loại hàng
Luận văn tốt nghiệp 7
hoá, nâng cao không ngừng chất lượng và dịch vụ của hàng hoá nhằm tăng
thoả mãn của hàng hoá đối với người tiêu dùng và cả xã hội. Nâng cao năng
suất cần thiết phải bảo đảm sử dụng nhiều lao động hơn với chất lượng lao
động cao hơn.
2. Mối quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh.
Quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh là mối quan hệ nhân
quả, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong mối quan hệ năng suất và cạnh tranh thì năng suất là cơ sở cho
cạnh tranh lâu dài và bền vững. Năng suất có tác động mạnh tới khả năng
cạnh tranh do:
Tài sản cạnh tranh kết hợp với quá trình cạnh tranh tạo ra khả năng
cạnh tranh.
Trước kia, người ta coi khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào lợi thế so
sánh về tài nguyên và nhân lực. Điều này không thể giải thích được tại sao
Do GDP/Việc làm = Năng suất lao động
Vì vậy GDP= Năng suất lao động*Việc làm
Từ đó, ta cũng có thể biểu hiện tăng trưởng kinh tế qua công thức sau:
Tăng trưởng kinh tế = tăng năng suất lao động + tăng việc làm
Trên phạm vi quốc gia, sự thay đổi năng suất không chỉ phản ánh sự
thay đổi đầu ra trên một lao động trong từng khu vực kinh tế mà còn thể hiện
sự chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng từ tái phân bố lao động từ những
khu vực có năng suất thấp đến các khu vực có năng suất cao.
Trong doanh nghiệp, sự thay đổi phản ánh trong: thay đổi sản phẩm,
lao động, thị phần.
4. Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương.
Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương là một chỉ số rất cơ
bản và là thước đo hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp. Về nguyên
tắc, tốc độ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp phải lớn hơn tốc độ tăng
tiền lương bình quân. Bởi vì:
a. Do yêu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh.
Luận văn tốt nghiệp 9
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện thông qua tổng mức
chi phí lao động bình quân cho một đơn vị sản phẩm (ULC). Nâng cao năng
suất lao động sẽ cho phép giảm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm.
ULC = tổng chi phí lao động/tổng sản phẩm
Chia cả tử và mẫu cho số lao động bình quân ta có:
ULC = (tổng chi phí lao động/lao động)/ (tổng sản phẩm/lao động)
= Mức tiền lương bình quân/năng suất lao động
Từ đó ta có:
Tốc độ tăng mức chi phí lao động/sản phẩm = (tốc độ tăng tiền lương)
bình quân bao nhiêu là hợp lý, lại còn phụ thuộc vào một số điều kiện kinh tế
và chính sách tiền lương của từng thời kỳ, từng ngành và doanh nghiệp cụ thể
và được xác định bằng công thức sau đây.
t = (I
tl
-1)/ (I
w
– 1)
Trong đó : t : là số % tiền lương bình quân tăng lên khi 1% năng suất
lao động tăng lên.
I
Tl
: Là chỉ số tiền lương giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
I
W
: là chỉ số năng suất giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
IV. CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có nhiều loại chỉ tiêu tính năng suất lao động. Lựa chọn chỉ tiêu nào
phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp. Có ba loại chỉ tiêu chủ yếu
sau: năng suất lao động tính bằng hiện vật; năng suất lao động tính bằng giá
trị; năng suất lao động tính bằng thời gian lao động.
1. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật.
Là chỉ tiêu dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu hiện
mức năng suất lao động cuả một công nhân hoặc một công nhân viên.
Công thức tính: W = Q/ T
Luận văn tốt nghiệp
12
sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp sản xuất, giữa các ngành
với nhau.
Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm như không khuyến khích
tiết kiệm vật tư và dùng vật tư rẻ, chịu ảnh hưởng của cách tính tổng sản
lượng theo phương pháp phân xưởng. Nếu lượng sản phẩm hiệp tác với ngoài
nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của
doanh nghiệp. Dùng chỉ tiêu này trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản
xuất không thay đổi hoặc thay đổi ít vì cấu thành sản xuất sản phẩm thay đổi
sẽ làm thay đổi mức và tốc độ tăng năng suất lao động.
3. Chỉ tiêu tính năng năng suất lao động bằng thời gian lao động.
Chỉ tiêu này dùng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm (hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện năng suất lao động.
Công thức tính là:
L=T/Q
Trong đó L là lượng lao động của sản phẩm (tính theo đơn vị thời
gian).
T là thời gian lao động đã hao phí.
Q là số lượng sản phẩm.
Thời gian lao động đã hao phí được tính bằng cách tính thời gian hao
phí của các bước công việc, các chi tiết của sản phẩm và được phân chia
thành: lượng lao động công nghệ (L
cn
), lượng lao động chung(L
ch
), lượng lao
động sản xuất (L
pvs
+ L
ql
Luận văn tốt nghiệp 13
Trong đó, L
pv
là lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ, L
qvs
là
lượng lao động phục vụ quá trình sản xuất, L
ql
là lượng lao động quản lý sản
xuất bao gồm lượng thời gian lao động hao phí của cán bộ kỹ thuật, nhân viên
quản lý doanh nghiệp và các phân xưởng, tạp vụ, chữa cháy, bảo vệ.
Chỉ tiêu này có ưu điểm là thể hiện một cách rõ ràng thời gian lao động
hao phí của từng bước công việc cũng như từng chi tiết sản phẩm.
Tuy nhiên, nhược điểm của nó là công việc thống kê để xác định thời
gian hao phí cho từng bước công việc, từng chi tiết sản phẩm là rất khó. Chỉ
tiêu này không dùng để tính cho năng suất lao động của một ngành hay một
doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Ngoài ba loại chỉ tiêu chủ yếu trên, còn có một số loại chỉ tiêu tính
năng suất lao động khác. Tuy nhiên, mức độ phổ biến của nó chưa rộng. Việc
lựa chọn chỉ tiêu nào là tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và thực tế từng
doanh nghiệp.
V. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
nghiệp phụ thuộc vào trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng và
năng lực của đội ngũ lao động. Nêú không có sự phối hợp phát triển tốt nguồn
nhân lực thì các yếu tố vốn, công nghệ khó có thể phát huy tác dụng.
Trong một doanh nghiệp, khi xét đến các nhân tố tác động tới năng suất
lao động thì người ta thường đề cập đến các nhân tố như:
+ Biến động về mức và tốc độ năng suất lao động qua một số năm.
+ Kết cấu công nhân viên ảnh hưởng tới năng suất lao động của doanh
nghiệp như thế nào.
+ Khả năng giảm lượng lao động của sản phẩm để tăng năng suất lao
động được thực hiện như thế nào (bao gồm khả năng giảm lượng lao động
năm thực hiện so với kế hoạch và khả năng giảm lượng lao động hao phí cho
một triệu đồng giá trị sản lượng).
+ Khả năng sử dụng hợp lý thời gian lao động công nhân để tăng năng
suất lao động (bao gồm việc sử dụng quỹ thời gian lao động ngày, tháng và
năm).
+ Phân tích quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tăng tiền
lương bình quân qua một số năm.
Luận văn tốt nghiệp 15
Ngoài ra, người ta có thể dùng một số nhân tố khác để phân tích về
năng suất lao động của doanh nghiệp. Việc phân tích những nhân tố nào là tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp và tùy thuộc vào mục đích
nghiên cứu.
Các yếu tố gắn liền với điều kiện thiên nhiên ảnh hưởng không nhỏ
tới năng suất lao động. Sự ảnh hưởng của yếu tố này tới năng suất lao động là
một khách quan. Điều kiện thiên nhiên của mỗi quốc gia khác nhau rất khác
nhau và tác động đến năng suất lao động cũng không giống nhau. Điều kiện
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG TẠI CÔNG TY.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
1.1. Quá trình hình thành, phát triển và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của
Công ty.
* Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty cơ khí chính xác số I có trụ sở chính ở số 275 đường Nguyễn
Trãi quận Thanh Xuân – Hà Nội. Điện thoại liên lạc: 8584387 và 8581694
Tổng diện tích mặt bằng nhà máy là 21750 m
2
. Trong đó, diện tích văn
phòng và cửa hàng là 5950 m
2
, diện tích kho và nhà xưởng là 15800 m
2
.
Công ty cơ khí chính xác số I là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc
Tổng công ty máy động lực, máy nông nghiệp thuộc bộ công nghiệp, có tư
cách pháp nhân thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập, được mở tài
khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng theo quyết định của Nhà nước.
Trên cơ sở nhà máy cơ khí điện ảnh sát nhập với phân xưởng thuỷ lực
của nhà máy công cụ số I. Công ty cơ khí chính xác được mang tên thành lập
theo quyết định số 1091- CL/CB ngày 04/12/1978 của bộ trưởng bộ cơ khí
luyện kim.
Các giai đoạn phát triển của công ty:
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp 18
Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước làm ăn độc lập tự hạch toán. Từ
khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, do có sự thay đổi nên công ty
đã gặp không ít khó khăn nhưng nhờ sự quyết tâm, đồng sức đồng lòng của
các cán bộ và lao động trong công ty. Nhờ vậy, công ty đã dần vượt qua
những khó khăn bước đầu. Kết qủa sản xuất kinh doanh của công ty những
năm gần đây được đánh giá qua một số chỉ tiêu chủ yếu trong biểu dưới đây:
KẾT QỦA SẢN XUẤT KINH DOANH QUA CÁC NĂM 1996-2001
Biểu số 1
Chỉ tiêu Đơn
vị
1996
1997
1998
1999
2000
2001
1. Giá trị tổng sản lượng Triệu
đồng
1830
Ngườ
i
178 170 125 90 90 94
b. Công nhân sản xuất Ngườ
i
402 328 337 312 340 356
4. Tổng quỹ tiền lương Ngườ
i
2100
2100
2200
2300
2400
2600
5. Nộp ngân sách Triệu
đồng
231 435 649 856 1133
1300
Luận văn tốt nghiệp 19
2
42,1
4
48,7
2
50 56,1
8
9.Tiền lương bình quân
(9=4/3)
Triệu
đồng
3,62 4,22 4,76 5,72 5,58 5,77
Nguồn: báo cáo tài chính cuối năm của công ty
Từ bảng trên ta thấy: nhìn chung giá trị tổng sản lượng tăng đều qua
các năm. Giá trị tổng sản lượng năm 2001 tăng tuyệt đối so với năm 1996 là
4700 triệu đồng, tăng tương đối là 25,68%. Giá trị tổng sản lượng năm 2001
tăng tuyệt đối so với năm 2000 là 2200 triệu đồng, tăng tương đối là 10,58%.
Tổng doanh thu năm 2001 tăng tuyệt đối so với năm 1996 là 5400 triệu đồng,
tăng tương đối là 36,99%. Tổng doanh thu năm 2001 so với năm 2000 tăng
tuyệt đối là 3000 triệu đồng, tăng tương đối là 17,65%.
Giá trị tổng sản lượng và doanh thu đều tăng dần qua các năm và tốc độ
tăng khá cao, trung bình từ 10% trở lên, mặc dù số lượng lao động giảm dần
qua các năm. Năm 2000 giảm 130 lao động so với năm 1996, tổng số cán bộ
công nhân viên năm 1999 giảm so với năm 1996 là 78 người. Lý do công ty
mở rộng sản xuất mua những máy móc hiện đại thay thế những máy móc cũ
kỹ lạc hậu, khấu hao tàu sản thì lớn, tống nguyên vật liệu, tốn điện. Với sự
đầu tư đó, công ty vừa tăng doanh thu giá trị tổng sản lượng, vừa tiết kiệm
được chi phí để sản xuất sản phẩm. Nhưng từ năm 2000, tăng lên 28 lao động
so với năm 1999, năm 2001 tăng 20 lao động so với năm 2000 do công ty
tuyển thêm những lao động có tay nghề, trình độ cao để đáp ứng được yêu
nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động định gốc với số tuyệt đối là 19,27
triệu đồng, số tương đối là 76,55%. Cụ thể là 59,39%<76,55%. Như vậy,
công ty đã đảm bảo tốt nguyên tắc trả lương, tức là tốc độ tăng tiền lương
bình quân định gốc nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động bình quân.
Ngoài thu nhập từ sản xuất kinh doanh, công ty còn có thêm nguồn thu
nhập khác từ: cho thuê phân xưởng, toà nhà cho thuê. Công ty còn có thêm
Luận văn tốt nghiệp 21
nguồn vốn và tăng thu nhập cho người lao động: năm 2000 là 500 triệu đồng,
năm 2001 là 700 triệu đồng nên đời sống của người lao động cũng được cải
thiện. Năm 2000, thu nhập bình quân của một lao động là 6,74 triệu đồng,
năm 2001, thu nhập bình quân của một lao động là 7,33 triệu đồng.
Như vậy, công ty đã có những hoạt động với những tín hiệu đáng mừng
nhưng chưa thật rõ ràng, vững chắc. Trong những năm tới cần sự cố gắng
nhiều hơn nữa của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty. Phải đồng
sức đồng lòng đưa công ty phát triển phù hợp với tiến trình toàn cầu hoá.
1.2.2. Thuận lợi và khó khăn của công ty.
* Thuận lợi:
Công ty là một đơn vị vừa quản lý vừa sản xuất kinh doanh nên một
nửa sản lượng được ổn định bằng vốn giao dế hoạch. Còn lại công ty sản xuất
theo đơn đặt hàng.
Sản phẩm làm ra công ty phải chịu trách nhiệm bán hàng, tự hạch toán
chính điều này tạo ra sự độc lập của công ty.
Công ty có bề dày hơn 30 năm kinh nghiệm xây dựng và phát triển trên
một địa bàn ổn định là khu vực nội thành. Nằm trong trung tâm khu vực kinh
tế, thuận lợi trong việc phân phối các mặt hàng.
Đội ngũ cán bộ công nhân viên lâu năm, nhiều kinh nghiệm trong việc
hành cao nhất và chịu trách nhiệm cho từng phòng ban. Trưởng phòng ban có
kế hoạch cụ thể xuống từng phân xưởng, từ đó chi tiết đến từng người lao
động.
Mối quan hệ giữa các phòng ban trong công ty: quan hệ giữa các phòng
ban và đơn vị trong công ty là mối quan hệ ngang bằng, chịu sự lãnh đạo trực
tiếp của Đảng uỷ và giám đốc trong công ty. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ
và quyền hạn của mình các phòng ban chủ động giải quyết công việc mỗi khi
được giám đốc giao. Giữa các phòng ban có sự phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau
trong công tác, cung cấp số liệu, hồ sơ liên quan đến các mặt hoạt động của
công ty. Những nhiệm vụ giám đốc giao có liên quan đến các phòng ban đề
có sự trao đổi, bàn bạc.
Luận văn tốt nghiệp 23
Cơ cấu tổ chức của công ty: bảng trang bên.
Chức năng và nhiệm vụ của từng phòng ban: là một doanh nghiệp Nhà
nước, hạch toán kinh tế độc lập. Công ty quản lý theo một cấp, đứng đầu là
giám đốc công ty và hai phó giám đốc.
- Giám đốc công ty: là người lãnh đạo cao cấp nhất của công ty, có
quyền quyết định mọi quá trình hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm
chung,phụ trách chung, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty. Giám đốc do bộ trưởng bộ công nghiệp bổ nhiệm.
- Phó giám đốc kỹ thuật: giúp giám đốc trong công tác sản xuất, kỹ
thuật, chỉ đạo và điều hành các phân xưởng bộ phận sản xuất và các sản phẩm
bảo đảm đúng quy cách và chất lượng.
- Phó giám đốc hành chính: giúp giám đốc trong hoạt động kinh doanh
như khâu tiêu thụ sản phẩm và chăm la đời sống cán bộ công nhân viên.
- Phòng tổ chức lao động tiền lương: có nhiệm vụ bố trí sắp xếp lao
DOANH
PHÒNG
TỔ CHỨC
PHÒNG
TÀI CHÍNH
PHÒNG
TỔNG
H
ỢP
PHÒNG
QUẢN TRỊ
PHÒNG
BẢO VỆ
KHO BÁN
THÀNH
PH
Ẩ
M
KHO
THÀNH
PH
ẨM
PX
CƠ KHÍ II
PX
CƠ KHÍ I