Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Muốn phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, chủ yếu phải dựa vào
nâng cao năng suất lao động. Chính vì vậy, việc đưa ra các giải pháp để nâng
cao năng suất lao động là vấn đề luôn được quan tâm từ trước tới nay.
Trước đây, Nhà nước ta rất quan tâm đến việc sử dụng chỉ tiêu năng
suất lao động để đánh giá chất lượng của các cơ sở kinh tế quốc dân. Nhưng,
từ khi đổỉ mới cơ chế kế hoạch hoá, chỉ tiêu năng suất lao động ít được chú ý
đến, tình hình này làm cho những nghiên cứu tính toán của các chỉ tiêu năng
suất lao động trong ngành cơ khí nói riêng cũng như toàn nền kinh tế nói
chung có phần bị sao nhãng. Vài năm gần đây nhu cầu đánh giá, xác định hiện
trạng của sự phát triển chung nền kinh tế cũng như trong ngành cơ khí nước ta
trong quan hệ giao lưu hợp tác quốc tế mở rộng, thì các chỉ tiêu năng suất lao
động trong ngành cơ khí đã bước đầu được quan tâm nghiên cứu một cách
toàn diện hơn.
Với tinh thần đó sau quá trình thực tập tại công ty cơ khí chính xác số I,
em mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao
động tại công ty cơ khí chính xác số I Thanh Xuân Hà Nội’’.
Do quá trình thực tập có hạn, bản chuyên đề của em không tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế mong thầy cô giáo, ban lãnh đạo công ty thông cảm
và đóng góp ý kiến để bài viết được hoàn thiện hơn.
Nội dung của chuyên đề gồm những phần sau:
Phần I: Những lý luận cơ bản về năng suất lao động.
Phần II: Phân tích năng suất lao động tại công ty CKCXI.
Phần III: Một số giải pháp nâng cao năng suất lao động tại công ty.
1
Luận văn tốt nghiệp
PHẦN I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
I. KHÁI NIỆM NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ TĂNG NĂNG SUẤT
LAO ĐỘNG.
(1). C. Mác. Tư bản quyển 1. T
1
. NXB Sự thật. H nà ội, 1960 - trang 26
2
Luận văn tốt nghiệp
Tác động tổng hợp cuả năng suất lao động là hoàn thiện chất lượng cuộc sống
con người. Lợi ích từ năng suất được phân chia tốt hơn cho chủ sở hữu, người
lao động và khách hàng.
2. Tăng năng suất lao động.
Tăng năng suất lao động “sự tăng lên của sức sản xuất hay năng suất của
lao động, nói chung chúng ta hiểu là sự thay đổi trong cách thức lao động,
một sự thay đổi làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra
một hàng hoá, sao cho số lượng lao động
h
ít hơn mà lại có được sức sản xuất
ra nhiều giá trị sử dụng hơn’’
(3)
.
II. PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT
Việc phân loại năng suất phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, có
hai cách phân loại chủ yếu sau:
1. Căn cứ vào tính chất, năng suất chia thành ba loại: tổng năng suất,
năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất bộ phận.
a. Tổng năng suất.
Phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của tất cả các
yếu tố sản xuất. Chỉ tiêu này phản ánh trạng thái tổng quát về năng suất mà
không đi sâu phân tích đóng góp của từng yếu tố riêng và được tính theo công
thức sau:
Pt =Qt/ (L+C+R+Q)
Trong đó:
a. Năng suất lao động cá biệt.
Năng suất lao động cá biệt phản ánh hiệu quả của lao động sống, và
thường đo bằng khối lượng đầu ra trên một giờ lao động. Năng suất lao
động cá biệt ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chuẩn sống và hầu hết các doanh
4
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp đều chấp nhận trả công lao động theo năng suất cá biệt hoặc theo
mức độ thực hiện của từng cá nhân.
b. Năng suất của doanh nghiệp.
Năng suất của doanh nghiệp là tỷ số giữa tổng đầu ra của doanh nghiệp
với tổng đầu vào có điều chỉnh hệ số lạm phát trong một khoảng thời gian
nhất định. Vì thế, cạnh tranh scủa doanh nghiệp phụ thuộc vào chi phí và chất
lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Chi phí thấp với chất lượng cao
của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra tạo ra sự cạnh tranh của doanh
nghiệp.
c. Năng suất quốc gia.
Năng suất quốc gia phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một lao động ở một
nước cụ thể. Năng suất quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của một đất nước và
là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tiêu chuẩn sống. Năng suất quốc gia là
chỉ số của nền kinh tế quốc dân nói chung và chỉ số để so sánh giữa các nước.
III. NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN.
1. Mối quan hệ giữa năng suất và hiệu quả kính tế
Hiệu quả được hiểu là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Hiệu
quả là phạm trù rộng bao trùm mọi vấn đề. Hiệu quả của các hoạt động kinh
tế cuả doanh nghiệp không chỉ phản ánh thông qua các chỉ tiêu tài chính mà
bao gồm cả các kết quả xã hội mà nó mang lại. Hiện nay, theo khái niệm của
các nước, khái niệm năng suất rộng hơn và sẽ bao trùm cả hiệu quả. Năng
suất được hiểu hai mặt là hiệu quả và tính hiệu quả. Hiệu quả là nói về mức
độ sử dụng các nguồn lực và tính hiệu quả của chi phí hay hiệu qủa của việc
khai thác, huy động sử dụng các nguồn lực đầu vào, nó gắn với lợi nhuận hơn.
và tăng mức thỏa mãn nhu cầu. Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất
phản ánh khả năng cạnh tranh là chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm
hoặc trong giá trị gia tăng.
Việc tăng khả năng cạnh tranh lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở
rộng thị phần, tăng quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và trình độ tay
nghề người lao động được nâng cao, tăng khả năng đầu tư vào mở rộng sản
6
Luận văn tốt nghiệp
xuất. Nhờ đó lại tạo điều kiện cho tăng năng suất và nó lại tiếp tục làm tăng
khả năng cạnh tranh. Đây là mối quan hệ trong trạng thái phát triển không
ngừng.
3. Mối quan hệ giữa năng suất với tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tăng năng suất và tăng việc làm.
Thực tế cho thấy, nếu không có khả năng tổ chức phát triển tốt, tăng năng suất
không dẫn đến giảm việc làm. Hầu hết các nước có trình độ năng suất cao lại
là những nước giải quyết tốt vấn đề việc làm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với tăng năng suất và việc làm như sau:
GDP = (GDP/Việc làm)*Việc làm.
Do GDP/Việc làm = Năng suất lao động
Vì vậy GDP= Năng suất lao động*Việc làm
Từ đó, ta cũng có thể biểu hiện tăng trưởng kinh tế qua công thức sau:
Tăng trưởng kinh tế = tăng năng suất lao động + tăng việc làm
Trên phạm vi quốc gia, sự thay đổi năng suất không chỉ phản ánh sự
thay đổi đầu ra trên một lao động trong từng khu vực kinh tế mà còn thể hiện
sự chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng từ tái phân bố lao động từ những
khu vực có năng suất thấp đến các khu vực có năng suất cao.
Trong doanh nghiệp, sự thay đổi phản ánh trong: thay đổi sản phẩm,
lao động, thị phần.
4. Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương.
Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương là một chỉ số rất cơ
thời gian làm việc và tăng năng suất lao động thông qua việc tăng cường cơ
8
Luận văn tốt nghiệp
sở vật chất kỹ thuật. Điều này đòi hỏi sản phẩm làm ra không phải đem toàn
bộ dùng để nâng cao tiền lương thực tế mà còn phải tích lũy càng cao thì tốc
độ tăng năng suất lao động càng cao.
Tóm lại, trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như nội bộ doanh
nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy thì cần duy trì tốc độ tăng
năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. Nhưng mối
quan hệ giữa tốc độ tăng (∆t) năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền
lương bình quân bao nhiêu là hợp lý, lại còn phụ thuộc vào một số điều kiện
kinh tế và chính sách tiền lương của từng thời kỳ, từng ngành và doanh
nghiệp cụ thể và được xác định bằng công thức sau đây.
∆t = (I
tl
-1)/ (I
w
– 1)
Trong đó : ∆t : là số % tiền lương bình quân tăng lên khi 1% năng suất
lao động tăng lên.
I
Tl
: Là chỉ số tiền lương giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
I
W
: là chỉ số năng suất giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
IV. CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có nhiều loại chỉ tiêu tính năng suất lao động. Lựa chọn chỉ tiêu nào
phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp. Có ba loại chỉ tiêu chủ yếu
sau: năng suất lao động tính bằng hiện vật; năng suất lao động tính bằng giá
Chỉ tiêu này có ưu điểm là có thể dùng tính cho các loại sản phẩm khác
nhau, khắc phục được nhược điểm của chỉ tiêu tính bằng hiện vật. Chỉ tiêu
này được áp dụng cho các cấp doanh nghiệp và quốc gia, có thể dùng để so
10
Luận văn tốt nghiệp
sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp sản xuất, giữa các ngành
với nhau.
Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm như không khuyến khích
tiết kiệm vật tư và dùng vật tư rẻ, chịu ảnh hưởng của cách tính tổng sản
lượng theo phương pháp phân xưởng. Nếu lượng sản phẩm hiệp tác với ngoài
nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của
doanh nghiệp. Dùng chỉ tiêu này trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản
xuất không thay đổi hoặc thay đổi ít vì cấu thành sản xuất sản phẩm thay đổi
sẽ làm thay đổi mức và tốc độ tăng năng suất lao động.
3. Chỉ tiêu tính năng năng suất lao động bằng thời gian lao động.
Chỉ tiêu này dùng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm (hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện năng suất lao động.
Công thức tính là:
L=T/Q
Trong đó L là lượng lao động của sản phẩm (tính theo đơn vị thời
gian).
T là thời gian lao động đã hao phí.
Q là số lượng sản phẩm.
Thời gian lao động đã hao phí được tính bằng cách tính thời gian hao
phí của các bước công việc, các chi tiết của sản phẩm và được phân chia
thành: lượng lao động công nghệ (L
cn
), lượng lao động chung(L
ch
), lượng lao
+ L
pvs
+ L
ql
11
Luận văn tốt nghiệp
Trong đó, L
pv
là lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ, L
qvs
là
lượng lao động phục vụ quá trình sản xuất, L
ql
là lượng lao động quản lý sản
xuất bao gồm lượng thời gian lao động hao phí của cán bộ kỹ thuật, nhân viên
quản lý doanh nghiệp và các phân xưởng, tạp vụ, chữa cháy, bảo vệ.
Chỉ tiêu này có ưu điểm là thể hiện một cách rõ ràng thời gian lao động
hao phí của từng bước công việc cũng như từng chi tiết sản phẩm.
Tuy nhiên, nhược điểm của nó là công việc thống kê để xác định thời
gian hao phí cho từng bước công việc, từng chi tiết sản phẩm là rất khó. Chỉ
tiêu này không dùng để tính cho năng suất lao động của một ngành hay một
doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Ngoài ba loại chỉ tiêu chủ yếu trên, còn có một số loại chỉ tiêu tính
năng suất lao động khác. Tuy nhiên, mức độ phổ biến của nó chưa rộng. Việc
lựa chọn chỉ tiêu nào là tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và thực tế từng
doanh nghiệp.
V. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có những cách phân loại khác nhau về các yếu tố tác động tới năng
suất lao động. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động có thể được chia
thành ba nhóm sau: các yếu tố gắn liền với con người và quản lý con người;
+ Kết cấu công nhân viên ảnh hưởng tới năng suất lao động của doanh
nghiệp như thế nào.
+ Khả năng giảm lượng lao động của sản phẩm để tăng năng suất lao
động được thực hiện như thế nào (bao gồm khả năng giảm lượng lao động
năm thực hiện so với kế hoạch và khả năng giảm lượng lao động hao phí cho
một triệu đồng giá trị sản lượng).
+ Khả năng sử dụng hợp lý thời gian lao động công nhân để tăng năng
suất lao động (bao gồm việc sử dụng quỹ thời gian lao động ngày, tháng và
năm).
+ Phân tích quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tăng tiền
lương bình quân qua một số năm.
13
Luận văn tốt nghiệp
Ngoài ra, người ta có thể dùng một số nhân tố khác để phân tích về
năng suất lao động của doanh nghiệp. Việc phân tích những nhân tố nào là tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp và tùy thuộc vào mục đích
nghiên cứu.
Các yếu tố gắn liền với điều kiện thiên nhiên ảnh hưởng không nhỏ
tới năng suất lao động. Sự ảnh hưởng của yếu tố này tới năng suất lao động là
một khách quan. Điều kiện thiên nhiên của mỗi quốc gia khác nhau rất khác
nhau và tác động đến năng suất lao động cũng không giống nhau. Điều kiện
đó tạo ra những thuận lợi và khó khăn riêng và con người cần phát huy lợi thế
và hạn chế sự ảnh hưởng không có lợi của tự nhiên. Điều kiện khí hậu nóng
lạnh khác nhau đã tạo ra những sản phẩm khác nhau với giá trị không giống
nhau. Nếu như đất đai ảnh hưởng đến nông nghiệp rất lớn, tạo ra năng suất và
chủng loại cây trồng khác nhau thì sự giàu có về tài nguyên khoáng sản và địa
hình thuận lợi đã tạo điều kiện rất tốt cho công nghiệp khai khoáng với giá
thành rẻ hơn và năng suất khai thác cao hơn.
Con người đã khai thác những nguồn năng tiềm tàng của tự nhiên để
phục vụ cho cuộc sống với hiệu quả khai thác và sử dụng ngày càng cao. Và
khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng theo quyết định của Nhà nước.
Trên cơ sở nhà máy cơ khí điện ảnh sát nhập với phân xưởng thuỷ lực
của nhà máy công cụ số I. Công ty cơ khí chính xác được mang tên thành lập
theo quyết định số 1091- CL/CB ngày 04/12/1978 của bộ trưởng bộ cơ khí
luyện kim.
Các giai đoạn phát triển của công ty:
Từ năm 1962-1978, công ty chuyên sản xuất máy chiếu phim, sản xuất
phụ tùng máy chiếu.
15
Luận văn tốt nghiệp
Từ năm 1979-1995, công ty chuyên sản xuất quạt điện, sản xuất tủ hồ
sơ, tủ văn phòng, sản xuất két bạc, sản xuất phụ tùng, linh kiện xe máy.
* Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty:
Mục đích hoạt động của công ty là thông qua các hoạt động sản xuất
kinh doanh, từ đó khai thác có hiệu quả các nguồn vốn, vật tư, nguyên liệu,
nhân lực phục vụ sản xuất tiêu dùng trong nước và hướng tới xuất khẩu. Từ
năm 1979 đến nay, công ty đã có nhiều sản phẩm đa dạng:
Các loại quạt như: quạt bàn, quạt cây, quạt treo tường, quạt hút công
nghiệp.
Sản xuất động cơ, phụ tùng cơ khí, các sản phẩm ngành điện nhằm đáp
ứng nhu cầu thị trường tạo công ăn việc làm cho người lao động và tăng
doanh thu cho công ty.
Sản xuất bơm thuỷ lực, bơm nước, các phụ kiện lắp đặt ngành nước.
Dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng phương tiện vận tải đường bộ và kinh doanh
xe máy.
Các sản phẩm khác như: nhựa, bao bì, bàn nâng hạ xe máy…. giúp cho
công ty chủ động sản xuất kinh doanh ngay cả khi thị trường có biến động.
Công ty tổ chức lại hệ thống kinh doanh tiêu thụ sản phẩm để phù hợp
với yêu cầu của xu hướng của thời đại mới: mở rộng thị trường tiêu thụ, đổi
mới phương pháp kinh doanh đưa hàng đến tận các đại lý, các hộ tiêu thụ, tổ
2300
0
2. Tổng doanh thu Triệu
đồng
1460
0
1103
0
1420
0
1520
0
1700
0
2000
0
3. Tổng số CNV, trong đó: Ngườ
i
580 498 462 402 430 450
a. Lao động quản lý, CM,
KT
Ngườ
i
178 170 125 90 90 94
b. Công nhân sản xuất Ngườ
i
402 328 337 312 340 356
4. Tổng quỹ tiền lương Ngườ
i
2100 2100 2200 2300 2400 2600
đồng
36,3
2
33,6
2
42,1
4
48,7
2
50 56,1
8
9.Tiền lương bình quân
(9=4/3)
Triệu
đồng
3,62 4,22 4,76 5,72 5,58 5,77
Nguồn: báo cáo tài chính cuối năm của công ty
Từ bảng trên ta thấy: nhìn chung giá trị tổng sản lượng tăng đều qua
các năm. Giá trị tổng sản lượng năm 2001 tăng tuyệt đối so với năm 1996 là
4700 triệu đồng, tăng tương đối là 25,68%. Giá trị tổng sản lượng năm 2001
tăng tuyệt đối so với năm 2000 là 2200 triệu đồng, tăng tương đối là 10,58%.
Tổng doanh thu năm 2001 tăng tuyệt đối so với năm 1996 là 5400 triệu đồng,
tăng tương đối là 36,99%. Tổng doanh thu năm 2001 so với năm 2000 tăng
tuyệt đối là 3000 triệu đồng, tăng tương đối là 17,65%.
Giá trị tổng sản lượng và doanh thu đều tăng dần qua các năm và tốc độ
tăng khá cao, trung bình từ 10% trở lên, mặc dù số lượng lao động giảm dần
qua các năm. Năm 2000 giảm 130 lao động so với năm 1996, tổng số cán bộ
công nhân viên năm 1999 giảm so với năm 1996 là 78 người. Lý do công ty
mở rộng sản xuất mua những máy móc hiện đại thay thế những máy móc cũ
kỹ lạc hậu, khấu hao tàu sản thì lớn, tống nguyên vật liệu, tốn điện. Với sự
1996) tăng một lượng tuyệt đối là 2,15 triệu đồng, tăng tương đối là 59,39%
nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động định gốc với số tuyệt đối là 19,27
triệu đồng, số tương đối là 76,55%. Cụ thể là 59,39%<76,55%. Như vậy,
công ty đã đảm bảo tốt nguyên tắc trả lương, tức là tốc độ tăng tiền lương
bình quân định gốc nhỏ hơn tốc độ tăng năng suất lao động bình quân.
Ngoài thu nhập từ sản xuất kinh doanh, công ty còn có thêm nguồn thu
nhập khác từ: cho thuê phân xưởng, toà nhà cho thuê. Công ty còn có thêm
nguồn vốn và tăng thu nhập cho người lao động: năm 2000 là 500 triệu đồng,
năm 2001 là 700 triệu đồng nên đời sống của người lao động cũng được cải
thiện. Năm 2000, thu nhập bình quân của một lao động là 6,74 triệu đồng,
năm 2001, thu nhập bình quân của một lao động là 7,33 triệu đồng.
19
Luận văn tốt nghiệp
Như vậy, công ty đã có những hoạt động với những tín hiệu đáng mừng
nhưng chưa thật rõ ràng, vững chắc. Trong những năm tới cần sự cố gắng
nhiều hơn nữa của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong công ty. Phải đồng
sức đồng lòng đưa công ty phát triển phù hợp với tiến trình toàn cầu hoá.
1.2.2. Thuận lợi và khó khăn của công ty.
* Thuận lợi:
Công ty là một đơn vị vừa quản lý vừa sản xuất kinh doanh nên một
nửa sản lượng được ổn định bằng vốn giao dế hoạch. Còn lại công ty sản xuất
theo đơn đặt hàng.
Sản phẩm làm ra công ty phải chịu trách nhiệm bán hàng, tự hạch toán
chính điều này tạo ra sự độc lập của công ty.
Công ty có bề dày hơn 30 năm kinh nghiệm xây dựng và phát triển trên
một địa bàn ổn định là khu vực nội thành. Nằm trong trung tâm khu vực kinh
tế, thuận lợi trong việc phân phối các mặt hàng.
Đội ngũ cán bộ công nhân viên lâu năm, nhiều kinh nghiệm trong việc
sản xuất kinh doanh.
Công ty được sự quan tâm của các cấp các ngành chủ quản.
và quyền hạn của mình các phòng ban chủ động giải quyết công việc mỗi khi
được giám đốc giao. Giữa các phòng ban có sự phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau
trong công tác, cung cấp số liệu, hồ sơ liên quan đến các mặt hoạt động của
công ty. Những nhiệm vụ giám đốc giao có liên quan đến các phòng ban đề
có sự trao đổi, bàn bạc.
Cơ cấu tổ chức của công ty: bảng trang bên.
Chức năng và nhiệm vụ của từng phòng ban: là một doanh nghiệp Nhà
nước, hạch toán kinh tế độc lập. Công ty quản lý theo một cấp, đứng đầu là
giám đốc công ty và hai phó giám đốc.
21
Luận văn tốt nghiệp
- Giám đốc công ty: là người lãnh đạo cao cấp nhất của công ty, có
quyền quyết định mọi quá trình hoạt động của công ty và chịu trách nhiệm
chung,phụ trách chung, điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty. Giám đốc do bộ trưởng bộ công nghiệp bổ nhiệm.
- Phó giám đốc kỹ thuật: giúp giám đốc trong công tác sản xuất, kỹ
thuật, chỉ đạo và điều hành các phân xưởng bộ phận sản xuất và các sản phẩm
bảo đảm đúng quy cách và chất lượng.
- Phó giám đốc hành chính: giúp giám đốc trong hoạt động kinh doanh
như khâu tiêu thụ sản phẩm và chăm la đời sống cán bộ công nhân viên.
- Phòng tổ chức lao động tiền lương: có nhiệm vụ bố trí sắp xếp lao
động trong công ty. Lên kế hoạch về số lượng lao động cần thiết trong công
ty, trình độ tay nghề của lao động trong công ty. Thực hiện chấm công hàng
22
Luận văn tốt nghiệp
SƠ ĐỒ BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC KĨ THUẬT
PHÓ GIÁM ĐỐC HÀNH CHÍNH
PHÒNG
TĨNH ĐIỆN
PX
LẮP RÁP
PX
CƠ ĐIỆN
23
Luận văn tốt nghiệp
Ghi chú: → Quan hệ trực tiếp
↔ Quan hệ phối hợp
24
Luận văn tốt nghiệp
tháng để trả lương cho công nhân và chế độ chính sách của Nhà nước về lao
động tiền lương.
- Phòng kế hoạch: có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất, ký hợp
đồng mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cung ứng vật tư sản xuất, công tác
quản lý hệ thống kho bán thành phẩm nội bộ và mua ngoài.
- Phòng kỹ thuật: thiết kế và chế tạo sản phẩm, xây dựng quy trình
công nghệ, áp dụng khoa học kỹ thuật cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm,
huấn luyện nông cao tay nghề công nhân.
- Phòng kinh doanh: tạo lập thị trường tiêu thụ, giới thiệu và quảng cáo
sản phẩm, quản lý hệ thống kho thành phẩm và tổ chức hệ thống bán buôn
bán lẻ.
- Phòng kế toán tài chính: quản lý tài sản của công ty. Tạo nguồn vốn
phục vụ sản xuất, sử dụng tài chính doanh nghiệp đúng chế độ. Thống kê sản
xuất kinh doanh, báo cáo theo quy định của công ty và Nhà nước, phân tích
hoạt động kinh tế giảm giá thành nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đảm
bảo cho sự phát triển của công ty.
- Văn phòng giám đốc: chịu trách nhiệm trong công tác xây dựng sơ
bản, chống nóng, chống giột, chống ngập, y tế, khám chữa bệnh chăm lo sức
khoẻ công nhân viên, công tác vệ sinh công nghiệp, vệ sinh môi trường, tổ