Nghiên cứu các yếu tổ tổn thất vải trong quá trình trải- cắt ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng vải - Pdf 11

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành dệt may hiện nay có vị trí quan trọng trong sự phát triển công nghiệp và
kinh tế - xã hội của đất nước, là thước đo hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế.
Với nhiều thương hiệu, kỹ thuật sản xuất được nâng cao , sản phẩm xuất khẩu
ngày càng nhiều và đa dạng . Dệt may Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế
của mình trong ngành dệt may khu vực và thế giới. Theo số liệu thống kê đến hết
tháng 7-2009 , nghành dệt may nước ta đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 5 tỷ USD
và trở thành ngành kinh tế đạt kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước. Trong đó,
xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ tăng 23,59% ,vào thị trường Nhật Bản tăng gần
20%, vào thị trường Đài Loan (Trung Quốc) tăng 34%, vào Hàn Quốc tăng
18%...Dự kiến năm 2009, toàn ngành có khả năng đạt kim ngạch xuất khẩu từ
9,1-9,3 tỷ USD.

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 1 -
Các
nước
Khác
16%
Nhật 9%
EU 18%
Hình 1.1:Cơ cấu thị trường hàng xuất khẩu dệt may Việt Nam
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
Khi nước ta gia nhập WTO ngoài những thuận lợi về việc mở rộng thị trường
xuất khẩu, ngành dệt may cũng phải đối mặt với nhiều thách thức lớn về chất
lượng , năng suất và giá thành do bị cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước sản xuất
dệt may khổng lồ trong khu vực như Trung Quốc , Ấn Độ, Pakistan, Bănglađét,
Inđônêsia...
Theo đánh giá của một số chuyên gia kinh tế trên thế giới thì sản phẩm dệt may
Việt Nam có chất lượng cạnh tranh so với các nước trong khu vực như :giao

dài bàn trải do hao phí đầu bàn,các lớp vải trải không đúng theo tác nghiệp, bàn
trải vải không phẳng...
Ngoài ra trong quá trình trải vải doanh nghiệp chỉ quan tâm tới khổ vải có trùng
với chiều rộng của sơ đồ hay không mà ít khi quan tâm tới chiều dài của cây vải
có phù hợp với chiều dài của sơ đồ nên gây ra hiện tượng lãng phí vải đầu tấm
không được sử dụng một cách triệt để. Vì vậy, việc nghiên cứu công tác lựa chọn
cây vải có thể trải số lớp thích hợp và lượng đầu tấm thu được phải nhỏ nhất là
cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất May công nghiệp, góp phần tiết
kiệm thời gian và nguyên liệu, nâng cao khả năng cạnh tranh của các Doanh
Nghiệp May Việt Nam trên thị trường thế giới.
Được sự hướng dẫn của PGS - TS. Trần Bích Hoàn , tác giả đã tiến hành nghiên
cứu và khảo sát thực tế tại một số các doanh nghiệp may chuyên sản xuất áo
sơmi, Jăckét tại miền Bắc như Đức Giang, May 10, Á Đông công đoạn trải – cắt
và nhận thấy rằng các công ty đều có khó khăn chung trong việc làm thế nào để
hạn chế số lượng vải đầu tấm tại khâu trải – cắt. Trong công đoạn trải – cắt tại

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 3 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
các công ty , việc tính toán lựa chọn các cây vải đều thực hiện ở dạng thử
nghiệm và kinh nghiệm của người làm công tác trải vải chứ không ứng dụng tính
toán một cách khoa học.
Hiện nay, thuật giải quy hoạch tuyến tính đã được nghiên cứu và ứng trong nhiều
ngành công nghệp khác nhau trong đó ngành may, quy hoạch tuyến tính là
phương án tối ưu để giải quyết những bài toán phức tạp, phạm vị ứng dụng rộng
và hiệu quả cao trong nhiều ngành công nghiệp trong đó có ngành May.
Từ những vấn đề nêu trên , tác giả đã được PGS.TS. Trần Bích Hoàn hướng dẫn
nghiên cứu các yếu tố tổn thất vải trong quá trình trải – cắt và ứng dụng thuật
giải di truyền để tìm ra lời giải thích hợp cho bài toán lựa chọn cây vải để tối ưu
lượng vải đầu tấm trong quá tình trải –cắt và cũng là lý do tôi thực hiện đề tài:

cây vải.
+ Kiểm tra khổ vải : tuỳ theo loại vải có mép biên trơn, xù lỗ kim tại vị trí biên
vải lớn hay nhỏ để xác định cụ thể theo qui định kỹ thuật.
+ Kiểm tra chất lượng : kiểm tra lỗi vải, tạp chất bẩn trong sợi, vết bẩn , lỗi do
quá trình in hoa , nhuộm màu...

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 6 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
- Nhận và kiểm tra sơ đồ giác: Sơ đồ sau khi giác xong đựoc gửi xuống cho bộ
phận trải cắt .Chiều dài của bàn vải phụ thuộc vào chiều dài của sơ đồ và diện
tích nhà cắt,nếu trên một sơ đồ mà ta ghép nhiều cỡ và nhiều sản phẩm thì sơ đồ
sẽ dài quá,không chính xác và rất khó khăn cho công việc trải vải đặc biệt là trải
vải bằng tay. Vì trong quá trình trải người thợ trải vải sẽ đi lại một khoảng cách
tương đối nhiều nên dễ gây ra tình trạng mệt mỏi cho người trải cũng như người
cắt , thông thường chiều dài bàn cắt đối với chi tiết dựng từ 0.5- 2m, chính và lót
từ 2- 6 m, chiều dài sơ đồ 7- 8 m ít được sử dụng .
-Phương tiện chọn vải:
+ Đối với cuộn tròn , dùng máy cuốn vải có đèn chiếu sang từ dưới lên, cho máy
chạy chậm đều , cuốn vải sang trục khác để kiểm tra hoặc dùng giá thủ công có 2
trục lăn, lồng cây vải vào trục và cuốn đều vải sang trục thứ hai.Dùng tay quay
đều sang trục 2 để kiểm tra.
+ Với vải xếp tập: dùng giá cao 2m có đèn chiếu , móc vải lên giá kéo từ từ và
phát hiện lỗi hoặc để tập vải lên trên bàn để kiểm tra, 2 người ngồi hai bên lật
từng lá kiểm tra.
+ Với vải loang màu, khi chiếu sang từ dưới lên không phát kiện được ,do đó
phải dùng đèn chiếu từ trên xuống hoặc ánh sang mặt trời . Đặt vải lên trên bàn
có màu sẫm tối dùng mắt quan sát hoặc chập từng đoạn 2m lại để so màu.
+ Chọn vải ke caro: chập 2 mép biên lại với nhau ,nếu mức lệch kẻ quá mức độ
cho phép thì bắt lỗi (khoảng 4 %).


MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 8 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
+ Trải vải với nhiều lớp và cùng kích thước : nhiều lá vải trên cùng có cùng kích
thước trên một bàn trải vải.
+ Trải vải với nhiều lớp và theo bậc nhiều lá vải không cùng chiều dài và chiều
rộng được xếp với nhau theo tầng trên cùng một bàn trải vải . Tầng dưới là lớp
vải dài nhất và rộng nhất tầng trên là lớp vải ngắn và nhỏ nhất .Trường hợp này
ít dùng vì nếu số lượng sản phẩm nhiều thì sẽ gây lãng phí rất lớn cho doanh
nghiệp vì khi đó sơ đồ giác phải theo lá vải trên cùng , do vậy xếp vải theo
phương pháp này chỉ áp dụng cho số lượng sản phẩm ít và có sự chênh lệch khổ
vải là không lớn.
* Phương pháp trải :
Dựa vào cách xếp các lớp vải để phân loại được phương pháp trải vải:
TT Phương pháp trải Hình vẽ
1 Phương pháp trải mặt phải úp xuống cùng
chiều
2 Phương pháp trải mặt phải lên cùng chiều
3 Phương pháp trải mặt phải úp với nhau
ngược chiều
4 Phương pháp trải mặt trái úp với nhau
cùng chiều
5 Phương pháp trải mặt trái úp với nhau
ngược chiều
6
Phương pháp trải vải ziczac
7
Phương pháp trải vải ống
8 Phương pháp trải vải gập đôi (khổ rộng)


MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 10 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
lót một lớp bản giấy rộng sau 24 giờ để ổn định sức căng của vải . Để giữ cho
các lớp vải không bị xô lệch trong quá trình trải cần sử dụng các loại kẹp hay vật
nặng để chặn bàn vải. Trải vải bằng tay cho năng suất thấp , chất lượng không
cao như :vải hay bị xô lệch, mép biên không đứng thành, tỉ lệ hao phí đầu bàn
cao do phải cắt bằng tay, độ căng đều của các lớp vải trải sẽ không đều .
- Trải vải bằng thiết bị bán tự động : Người điều khiển đặt cuộn vải lên trên máy
và đẩy theo đường ray dọc bàn cắt , vải sẽ được tở ra và trải trên bàn phía sau
máy . Đến cuối bàn cắt thì vải được cắt bằng tay rồi đẩy máy trở lại để trải các lá
khác , cứ như vậy cho đến khi trải đủ số lượng lá vải trên bàn cắt . Ở một dạng
khác thì máy được lắp động cơ và sẽ di chuyển nhờ động cơ đó. Thiết bị này có
ưu điểm là mép vải đứng thành và các lớp vải phẳng .Phương pháp này có qui
mô sản xuất nhỏ.
- Trải bằng máy tự động : Cây vải được đặt lên giá đỡ của máy và được lập trình
để lựa chọn các cuộn vải khác nhau và trải số lớp theo yêu cầu , công việc của
người điều khiển lúc này là ngồi theo dõi máy làm việc .Máy tự động trải và cắt
đầu bàn , so với trải bằng tay thì trải bằng máy đều hơn , phần nguyên liệu ở đầu
bàn được xén đều không quá 1 cm . Máy trải cũng có khả năng phát hiện các lỗi
mà máy kiểm tra lỗi vải tự động đã đánh dấu vì khi đưa cây vải lên máy kiểm tra
lỗi sợi và loang màu máy kiểm tra sẽ đánh dấu những vị trí lỗi sợi trên cây vải
vào bộ nhớ của máy trải, sau đó người điều khiển máy tính sẽ chuyển các dữ liệu
lỗi trên cây vải lên máy trải và khi máy trải trải đến vị trí lỗi sợi thì máy sẽ dừng
lại báo hiệu thông qua hệ thống cảnh báo và người điều khiển sẽ đánh dấu vị trí
lỗi bằng phấn để nhà cắt dễ nhận biết .

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 11 -

dạng mảnh . Tại xưởng cắt cây vải được cắt ra thành lớp xếp chồng lên nhau
theo chiều dài của sơ đồ (đã tính % hao hụt) tạo thành bàn trải. Sau đó bàn trải
cắt phá thành chi tiết rời theo hình vẽ các chi tiết trên sơ đồ .
* Quá trình cắt được chia ra làm 2 công đoạn: cắt phá và cắt gọt (cắt tinh), chi
tiết được cắt từ bàn trải vải dưới dạng cắt thô hay cắt phá, đối với chi tiết lớn như
thân áo , thân quần , tay áo... là dạng cắt thô. Những chi tiết nhỏ khó cắt chính
xác trên bàn cắt có thể cắt thành từng tập sau ,đó các chi tiết này được cắt gọt lại
ở dạng cắt tinh .

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 13 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
- Cắt phá bàn vải : Vải được trải thành nhiều lớp , độ dầy của bàn trải phụ thuộc
theo tính chất nguyên liệu, bảng tác nghiệp cắt, khả năng cắt của dao .Máy cắt
được đẩy bằng tay để cắt các chi tiết lớn trên bàn vải, đường cắt trước phải mở
đường cho đường cắt sau để đường cắt sau dễ dàng hơn.
- Cắt gọt : Sau khi cắt phá được những chi tiết của sản phẩm còn những chi tiết
nhỏ, hình dáng phức tạp phải sử dụng máy cắt gọt mới đảm bảo độ chính xác .
Sử dụng kẹp giữ chặt các chi tiết với mẫu . Khi cắt người cắt dùng hai tay đẩy
nguyên liệu về phía trước và điều khiển cho lưỡi dao cắt đúng đường chuẩn .
* Các phương pháp cắt : chia thành 2 nhóm cơ bản
- Cắt bằng dụng cụ hay thiết bị cơ khí tổng hợp: Kéo, máy cắt .Phương pháp này
cắt các chi tiết ở dạng hình thù bất kỳ, với độ chính xác cao nhưng đòi hỏi hao
tổn về sức lực , phụ thuộc vào tâm sinh lý của người sử dụng thiết bị, chất lượng
cắt các chi tiết không ổn định ,hạn chế việc tự động hoá quá trình cắt. Trong
nhóm này chủ yếu là dùng phương pháp cắt bằng cơ. Bộ phận chính của công cụ
hay thiết bị cắt là lưỡi thép mảng có một cạnh được vát góc . Góc càng nhỏ thì
lưỡi càng sắc nhưng không bền và dễ bị biến dạng .Góc vát trên lưỡi dao kéo có
giá trị 15 – 20
0

dấu.Nhược điểm của phương pháp này là các lá vải hay bị dính lại với nhau tại
các vết cắt, dễ làm tổn thương vật liệu có tính năng không chịu được nhiệt.
* Yêu cầu chất lượng cắt :
- Chi tiết sau khi cắt xong phải đảm bảo chính xác: không bị sai lệch theo
đường vẽ trên sơ đồ.

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 15 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
- Đường cắt phải nhỏ, dao cắt sắc nếu dao cùn dễ làm tổn thương vị trí cắt
như rách vải, rút sợi, xô lệch chi tiết .
- Trong quá trìng cắt chú ý tới tính chất nguyên liệu đặc biệt là nguyên liệu
Polyester vì trong quá trình cắt dễ do lực ma sát tại các vị trí cắt lên dao cắt
sinh nhiệt và các lớp vải sẽ dính lại với nhau trong quá trình cắt.
- Chi tiết cắt xong phải đảm bảo vệ sinh công nghiệp: không dầu mỡ, không
loang nếu sử dụng phương pháp cắt bằng tia nước.
1.2. Các yếu ảnh hưởng đến tiêu hao vải trên bàn vải
1.2.1. Vải
- Cấu tạo vải : loại vải này do các ngành dệt khác nhau tạo ra , mỗi loại vải đều
khác nhau về chất liệu, cấu tạo và có tính chất riêng .Do vậy khả năng tiêu hao
vải cũng phụ thuộc rất nhiều vào cấu tạo của vải như : mật độ vải , kết cấu vải,
bề mặt vải, kiểu dệt....
- Chiều dài cuộn vải: chiều dài cây vải phụ thuộc vào nhà sản xuất , tuỳ theo
từng chất liệu vải mà vải có chiều dài khác nhau nhằm mục đích thuận tiện trong
quá trình cuộn vải thành cây và vận chuyển. Chiều dài cây vải có thể từ vài chục
mét tới vài trăm mét.Thường là khi giác sơ đồ thì người giác mẫu phải dựa vào
khổ vải rồi sau đó tiến hành giác ,do vậy chiều dài của cây vải ít khi chia chẵn
cho chiều dài bàn trải do chiều dài cây có trước còn chiều dài bàn trải có sau .
Như vậy số lượng đầu tấm sẽ bị dư ra nhiều không chẵn được theo chiều dài cây
vải .Trong thực tế tại các xí nghiệp khi họ không quan tâm đến việc lựa chọn các

có lợi hơn cùng với hiệu quả của sơ đồ giác sẽ cao hơn.

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 17 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
Vải có tính ổn định tốt thì với khổ rộng của sơ đồ giác chỉ có thể nhỏ hơn 2 cm
so với khổ rộng của vải .Trong trường hợp này , hao hụt do biên vải có khổ rộng
100 cm là 2 % . Một phép tính đơn giản cho thấy hao hụt vải bên ngoài sơ đồ
giác bị ảnh hưởng mạnh bởi hạn định cho phép vải phế ở biên.Do đó cần cần
thiết phải kiểm soát sự biến thiên của khổ vải cùng với hạn định cho phép biên
vải.
- Chất lượng vải: chất lượng vải ảnh hưởng rất lớn đến việc tiết kiệm vải trong
quá trình trải vải . Nếu chất lượng vải không đảm bảo trong trường hợp vải lỗi ít
người kiểm tra chất lượng vải sẽ đánh dấu vị trí bị lỗi trên vải và vẫn đưa vào trải
vải bình thường. Còn trong trường hợp vải bị lỗi nhiều thì nhân viên trải vải sẽ
cắt đoạn vải lỗi đó bỏ đi rồi trải tiếp .Ngoài ra nếu cây vải mà bị lỗi cả cây mà
theo một chu kỳ hoặc là cách đều mép biên vải một khoảng cách là không đổi thì
để tận dụng cây vải đó nhân viên kiểm tra sẽ đo và báo cho bộ phận giác sơ đồ
giác theo cây vải bị lỗi .Nhưng dù khắc phục như thế nào đi chăng nữa thì chất
lượng vải mà không đảm bảo thì cũng bị ảnh hưởng đến quá trình trải vải và tiết
kiệm vải.
- Nhuộm và in hoa: Trong quá trình in, nhuộm màu sắc trên cùng một cây vải có
sự khác biệt như: lệch hao, sai màu ,loang màu . Nếu màu khác nhiều thì phải bỏ
đoạn vải đó đi. Còn khác màu ít nhưng sự khác biệt thể hiện không rõ ràng như
ánh màu khác nhau, sự không đồng đều màu sắc giữa đầu , giữa và cuối trong
cùng một cây vải, để khắc phục tình trạng khác ánh màu trên cùng một sản
phẩm, khi giác sơ đồ người ta sử dụng phương pháp giác sơ đồ cụm là các chi
tiết trên cùng một sản phẩm được ghép nối với nhau sẽ được đặt ở gần nhau để

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC

Thực tế là hầu hết các công ty may, kể cả các công ty nước ngoài tại Việt Nam
hiện nay đều tính số lớp vải của sơ đồ cắt và hạch toán bàn cắt bằng tay nên tốn
rất nhiều thời gian và số liệu dễ bị sai sót. Kỹ thuật ghép các size để đi sơ đồ
được tác nghiệp theo cảm tính nên không chọn được phương án hợp lý và làm
lãng phí nguyên liệu. Ngoài ra, thường không tính ngay được số liệu tiêu hao và
tiết kiệm của nguyên liệu nên ảnh hưởng đến kế hoạch chung của đơn vị... Để
khắc phục, nhiều công ty đã đầu tư nghiên cứu thực hiện công tác này trên máy
vi tính nhưng chỉ tổ chức ở mức độ đơn giản. Do đó đã tồn tại nhiều hạn chế sau
đây:
- Thời gian tác nghiệp một lô hàng rất lâu, gây ảnh hưởng đến công tác khác của
nhân viên thống kê cắt.
- Đôi khi hạch toán số lớp cắt không chính xác, làm thiếu hụt nguyên liệu so với
đinh mức.
- Không xác định được phương án sơ đồ hợp lý, làm tốn thời gian trải vải, công
giác sơ đồ và làm lãng phí nguyên liệu.
- Việc tính các số liệu tiêu hao và tiết kiệm nguyên liệu so với định mức thường
rất chậm, không làm ngay được sau khi giác sơ đồ nên ảnh hưởng đến việc dự
trù, quyết toán nguyên vật liệu.
- Không đánh ngay được số bàn cắt và tính tiêu hao nguyên liệu cho từng bàn
cắt, do đó thường đánh bàn cắt theo cách nhảy số, không chính xác và hợp lý.
- Rất khó khăn và mất nhiều công sức khi phải tác nghiệp các đơn hàng nhiều
size, nhiều nhóm size, nhiều màu và nhiều loại nguyên liệu. Ngoài ra một số
chức năng cũng chưa thực hiện tốt như: hạch toán các size dùng chung, đánh số
bàn cắt theo số lớp tối đa, phân chia các nhóm size để ghép sơ đồ v.v…

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 20 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
- Không lưu trữ được một cách khoa học dữ liệu của nghiệp vụ hạch toán bàn
cắt, tốn nhiều thời gian để kiểm tra, xử lý.

m
- Chiều dài của các loại sơ đồ, m
P
1
, P
2
................., P
m
- Tiêu hao khi trải vải ( thường giao động từ
0.6% đến 1% chiều dài sơ đồ)
A
1
, A
2
................ A
m
- Số sản phẩm ứng với từng loại sơ đồ
Ngoài ra, trong sản xuất còn có sự hao hụt vải do thay thân (sản phẩm) đổi
lỗi nguyên liệu có lỗi, vì vậy có thể sử dụng khái niệm định mức sản xuất bao
gồm chung cả định mức kỹ thuật và phần trăm tiêu hao nguyên liệu. Giá trị này
từ 2% - 3% phụ thuộc vào chất lượng nguyên vật liệu
H
sx
= H
kt
( 1 + A)
A - Phần trăm tiêu hao nguyên liệu %
1.2.3. Phương pháp giác các chi tiết trên sơ đồ .
Giác sơ đồ là quá trình sắp xếp các chi tiết của một hay nhiều sản phẩm vào một
diện tích cho trước tượng trưng cho tấm vải để cắt sản phẩm. Các chi tiết phải

x 100 = 100- I
Để giác được một sơ đồ đạt được tiêu chuẩn kỹ thuật và tiết kiệm được định mức
thì những chi tiết phải được sắp xếp vào những vị trí thích hợp nhất . Vì vậy khi
giác sơ đồ phải đảm bảo nguyên tắc chính trước , phụ sau, lớn trước, bé sau ,
chính phụ xen kẽ nhau. Các chi tiết có đường lượn ăn khớp nhau, các chi tiết có
cạnh vát đi với nhau lồi với lõm..
Trong quá trình giác thế sơ đồ phụ thuộc vào chất hoa văn trên vải như :vải có
các con giống , bông hoa, vải kẻ .... Kiểu vải như vải trơn , vải có tuyết ... Do vậy
tuỳ thuộc vào từng loại vải mà phải có những phương pháp giác các chi tiết trên
sơ đồ sao cho phù hợp với từng loại vải. Thông thường trong quá trình giác có
những phương pháp giác sau:
- Tất cả các sản phẩm cùng một chiều : sơ đồ này áp dụng cho sản phẩm là vải có
tuyết, con giống, hoa văn một chiều nếu chi tiết trên sơ đồ mà quay ngược lại thì

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 22 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA CÔNG NGHỆ DỆT MAY- THỜI TRANG
sẽ gây ra hiện tượng làm ngược tuyết, còn đối với vải con giống và hoa văn một
chiều thì sẽ gây ra hiện tượng mất mỹ quan trên sản phẩm với các hình thù xuôi
ngược không theo một trật tự nào cả. Trong phương pháp giác này thì số lượng
vải tiêu hao là lớn vì các chi chiết trên sơ đồ không được phép quay ngược chiều
vì nếu quy ngược sẽ không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm.
- Mỗi sản phẩm một chiều(cùng cỡ , cùng chiều) : áp dụng cho vải có con giống,
hoa văn hai chiều trên cây vải. Phương pháp này cũng tốn vải nhưng so với
phương pháp giác tất cả các phẩm cùng chiều thì sẽ tiết kiệm hơn vì có sản phẩm
được phép quay chiều trên sơ đồ.

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 23 -
Hình 1.3: Giác tất cả sản phẩm một chiều

vải đặc biệt là trải vải theo phương pháp thủ công vì sau khi trải xong nếu không
được tính toán kỹ ,trải cẩn thận thì chiều dài bàn trải sẽ bị thay đổi (dài ra do trải
trùng hoặc ngắn đi do trải căng quá ). Còn chất liệu vải ít co giãn thì tỉ lệ chính
xác cao hơn nên lượng vải hao hụt trên bàn trải vải cũng được giảm đi.
Tính mềm dẻo ,dễ uốn , độ giãn của vải cùng với hạn chế của máy trải vải đòi
hỏi mỗi loại vải cần phải có hạn định cho phép ở hai đầu lớp vải.Sự hao hụt này
có thể lên tới 2cm ở mỗi đầu lớp vải hoặc là 4cm với mỗi lớp vải . Vải có tính ổn
định tốt hơn thì hao hụt này có thể ít hơn so với vải có tính ổn định kém . Chiều
dài bàn trải càng lớn thì hao hụt càng ít .Nếu như không thận trọng khi trải vải
thì sẽ có xu hướng lãng phí nhiều vải .
1.3. Ứng dụng công nghệ cao trong trải – cắt vải.
Ngày nay, sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật và tin học đã đem lại những lợi ích
to lớn cho tất cả mọi lĩnh vực. Từ giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật cho đến các

MAI THẾ TRƯỜNG LUẬN VĂN CAO HỌC
- 25 -

Trích đoạn Giới thiệu chung về hệ thống trải vải tự động. Giới thiệu chung về hệ thống cắt vải tự động. Ứng dụng các phần mềm tin học trong khâu trải –cắt tại Việt Nam. Phần mềm hạch toán bàn cắt: Ứng dụng thuật giải di truyền để tối ưu hoá việc chọn các cỡ và đưa ra mô hình lai ghép giữa các cỡ trong mã hàng trong luận văn thạc sĩ của tác giả
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status