Giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Cẩm Thuỷ - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Bất kể một sản phẩm nào được sản xuất ra thì mục tiêu cuối cùng luôn là để
tiêu dùng - đây là điều chắc chắn không một ai có thể phủ nhận. Do đó, chuỗi
liên hoàn và khép kín của nền kinh tế luôn luôn là sản xuất - tiêu dùng. Sản xuất
ra sản phẩm để phục vụ nhu cầu tiêu dùng - tiêu dùng quay lại kích thích tăng
trưởng sản xuất, cứ thế sản xuất - tiêu dùng hỗ trợ, kích thích nhau và luôn là hai
phần không thể tách rời của một quá trình thống nhất. BDo đó, với một nền kinh
tế đang trong giai đoạn phát triển thì nhu cầu về vốn sẽ ngày càng cao, không chỉ
cần vốn cho sản xuất kinh doanh mà vốn phục vụ mục đích tiêu dùng cũng là
một nhu cầu không thể thiếu.
Vậy mà lâu nay, các Ngân hàng thương mại của chúng ta chủ yếu chỉ thích
cho vay phần đầu - phần sản xuất mà chưa cho vay phần sau - phần tiêu dùng
của chu trình kinh tế, vì thế mà chúng đã tạo ra hiện tượng nghẽn giữa đường.
Thật vậy, khi Ngân hàng cho các nhà sản xuất vay vốn để sản xuất ra các
sản phẩm mà khả năng chi tiêu hiện thời của người tiêu dùng không thể đáp ứng
thì các sản phẩm đó sẽ bị chất đầy kho, khả năng trả nợ cho Ngân hàng của các
nhà sản xuất bị giảm xuống, mong muốn được tiêu dùng của dân cư sẽ không
được đáp ứng và tình trạng thiểu phát của nền kinh tế sẽ xảy ra.
Trước tình hình đó, để kích cầu nền kinh tế, đưa nền kinh tế thoát khỏi con
đường hầm không lối thoát, Ngân hàng đã phát triển một loại hình cho vay mới,
đó là cho vay tiêu dùng. Việc phát triển loại hình cho vay này không chỉ có tác
dụng góp phần giải quyết bài toán về sản xuất và tiêu dùng cho nền kinh tế mà
nó còn có tác dụng tích cực đối với chính bản thân Ngân hàng - một đơn vị kinh
doanh luôn vì mục tiêu lợi nhuận
Đồng thời, một hướng đi mới của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
hiện nay là chia mảng kinh doanh của Ngân hàng ra làm hai bộ phận: Bộ phận
kinh doanh Ngân hàng Bán buôn (với các chiến lược về khách hàng là công ty
lớn) - Bộ phận kinh doanh Ngân hàng Bán lẻ( với các chiến lược về khách hàng
là thể nhân). Việc chuyển hướng này nhằm mục tiêu cơ cấu lại nguồn vốn kinh
doanh của các Ngân hàng, tăng doanh số kinh doanh với các khách hàng là cá
nhân - xây dựng một Ngân hàng hiện đại. Chính vì thế nên việc phát triển cho

1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại, ở các nước
có nền tài chính tự do hoá thì Ngân hàng thương mại được quan niệm là một
doanh nghiệp đặc biệt, tiến hành hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ
với mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận. Còn ở một số nước khác lại cho rằng Ngân
hàng thương mại là một tổ chức hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận
tiền gửi dựa trên nguyên tắc hoàn trả, cho vay, chiết khấu. Tuy nhiên để có
một quan niệm chính xác nhất về Ngân hàng thương mại thì nên dựa vào
những loại hình dịch vụ mà các Ngân hàng thương mại cung cấp, từ đó người
ta có quan niệm: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính cung cấp
một danh mục tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ
thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế ”.
Thật vậy, Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan
trọng nhất của nền kinh tế, đóng vai trò là thủ quỹ của toàn xã hội. Hàng triệu cá
nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại
Ngân hàng. Đồng thời, Ngân hàng cũng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các
doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và một phần với chính phủ. Trong đó, đối với
các doanh nghiệp, Ngân hàng thường cung cấp các khoản tín dụng phục vụ cho
nhu cầu mua hàng hoá, dự trữ hoặc xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị.
Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng
hoá và dịch vụ họ thường sử dụng séc, uỷ nhiệm chi, thẻ tín dụng và các tài
khoản điện tử... Và khi họ cần thông tin hay lập kế hoạch tài chính họ thường
đến Ngân hàng để nhận được lời tư vấn.
Như vậy, Ngân hàng thương mại là một trong những tổ chức tài chính quan
trọng nhất trong nền kinh tế.
- Hoạt động của Ngân hàng thương mại bao gồm: nghiệp vụ nợ (huy động
vốn), nghiệp vụ có (cung cấp tín dụng) và nghiệp vụ trung gian( dịch vụ thanh
toán, dại lý, tư vấn...). Ba loại nghiệp vụ trên có mối liên hệ mật thiết với nhau,
chúng thúc đẩy nhau cùng phát triển để từ đó tạo nên uy tín cho Ngân hàng.

là tiền lãi. Việc huy động được càng nhiều vốn sẽ càng tạo điều kiện cho Ngân
hàng mở rộng kinh doanh do đó các Ngân hàng luôn tìm kiếm các nguồn vốn
với chi phí thấp và ổn định, đa dạng hoá các hình thức và lãi suất tiền gửi, giấy
nợ nhằm thu hút được nhiều vốn trong nền kinh tế.
- Hoạt động sử dụng vốn:
Đây là hoạt động Ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư
hoặc cấp tín dụng. Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của
Ngân hàng và là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng. Bên cạnh
hoạt động tín dụng Ngân hàng cũng mở rộng danh mục tài sản bằng cách đầu tư
vào các giấy tờ có giá như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty ... Các hoạt
động đầu tư và tín dụng mang lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng nhưng lại
chứa đựng nhiều rủi ro nên các Ngân hàng thường rất thận trọng khi thực hiện
hoạt động này.
- Các hoạt động khác:
Các hoạt động Ngân hàng khác có thể kể ra ở đây như là hoạt động bảo
quản vật có giá, cung cấp các khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lý
ngân quỹ, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cho thuê thiết bị trung và dài hạn,
cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng
khoán, bảo hiểm, dịch vụ đại lý ... Các hoạt động này mang lại nguồn thu nhập
cho Ngân hàng thông qua viêc thu phí và chứa đựng ít rủi ro. Do vậy các Ngân
hàng hiện đại ngày nay đang mở rộng hoạt động dịch vụ này nhằm tăng nguồn
thu giảm bớt rủi ro.C
1.1.2. Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm:
Cho vay là hoạt động mang tính truyền thống và là chức năng kinh tế hàng
đầu của các Ngân hàng giúp Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiết kiệm thành
đầu tư. Ngân hàng thương mại có thể cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn
nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản suất, kinh doanh, đời sống và cũng có thể
cho các tổ chức, cá nhân vay trung và dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư
phát triển sản suất kinh doanh

bảo. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai,
bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
+ Cho vay không có đảm bảo: là loại hình cho vay không có tài sản thế
chấp. cầm cố hoặc sự đảm bảo của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy
tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong
kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng
có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín bản thân khách hàng mà không cần một
nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
- Theo mục đích sử dụng vốn:
+ Cho vay nhằm mục đích sản suất kinh doanh: Ngân hàng cho các tổ chức,
doanh nghiệp hay các công ty vay để kinh doanh dịch vụ hay thực hiện các dự
án đầu tư, các phương án sản suất.
+ Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho các cá nhân hay hộ gia đình vay để
đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận
chuyển...
Cho vay tiêu dùng là một trong những dịch vụ Ngân hàng mới phát triển
gần đây nhưng đã tỏ rõ được ưu thế của nó so với các khoản cho vay khác của
Ngân hàng. Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng đã trở thành xu hướng tất yếu
để các Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường tài chính.
1.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương
mại
1.2.1.Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng
1.2.1.1. Khái niệm
Hoạt dộng cho vay tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng
(người cho vay) và các cá nhân, người tiêu dùng (người đi vay) nhằm tài trợ cho
các phương án phục vụ đời sống, tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ khi
người tiêu dùng chưa có khả năng thanh toán trên nguyên tắc người tiêu dùng sẽ
hoàn trả cả gốc lẫn lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai.
Nếu như cho vay sản xuất kinh doanh là một hình thức tín dụng mà các
Ngân hàng thương mại cấp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm tài

đã dẫn đến giá trị món vay tiêu dùng thường rất nhỏ, phân tán nên chi phí quản
lý cao. Tuy vậy, trên thực tế tổng quy mô vay tiêu dùng của Ngân hàng lại rất
lớn, đó là vì tuy mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng do đây là nhu cầu
vay vốn khá phổ biến, đa dạng và thường xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư nên
số lượng khách hàng tìm đến Ngân hàng vay vốn là rất đông, khiến cho tổng quy
mô vay tiêu dùng lại trở nên khá lớn.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao
Loại hình cho vay tiêu dùng luôn chứa đựng những nguy cơ rủi ro khá lớn,
cao hơn loại hình cho vay tài trợ sản xuất kinh doanh dưới cả ba góc độ:
+ Thứ nhất: Luôn tồn tại nhóm khách hàng chây ì, lừa đảo.
+ Thứ hai: Các rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thất
nghiệp, bệnh tật, tâm lý tiêu dùng của dân cư, mức độ ổn định xã hội...
+ Thứ ba: Các rủi ro chủ quan như là tình trạng công việc hay sức khoẻ
của khách hàng, diễn biến tâm lý của khách hàng... ảnh hưởng đến tài chính và
khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình. Hoặc là do sự ảnh hưởng của các tổ
chức trung gian (đơn vị, tổ chức có cán bộ công nhân viên vay vốn, các đơn vị
chủ quản...), đặc biệt là hình thức cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm
cũng mang lại rủi ro rất nhiều đối với loại hình cho vay này.
Tóm lại, khả năng trả nợ sẽ thay đổi nhanh chóng khi khách hàng thay đổi
điều kiện làm việc hoặc sức khoẻ, đồng thời, khả năng bù đắp từ các nguồn khác
trong trường hợp có rủi ro hầu như không có.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao và cứng nhắc
Không như hầu hết các khoản cho vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay
đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định ở
một mức nhất định, và đặc biệt phổ biến trong cho vay tiêu dùng trả góp. Việc
chia các khoản vay thành nhiều kỳ hạn trả nợ (đối với cho vay tiêu dùng trả góp)
hoặc quá trình vay và trả nợ được thực hiện nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo
một hạn mức tín dụng (đối với cho vay tiêu dùng tuần hoàn như thẻ tín dụng,
thấu chi) ngay từ khi bắt đầu thời kỳ tín dụng khiến lãi suất cho vay mang tính
cố định, hầu như không thay đổi trong suốt quy trình tín dụng. Ngoài ra, do độ

Chính vì triển vọng về lợi nhuận cũng như phạm vi về đối tượng khách
hàng trong lĩnh vực này mà đối với hầu hết các nước phát triển hiện nay, cho vay
tiêu dùng đã trở thành một trong những nguồn thu chủ chốt của các Ngân hàng
thương mại, đóng vai trò chủ đạo trong dịch vụ Ngân hàng cũng như quản lý
Ngân hàng và vẫn còn tiếp tục hứa hẹn nhiều triển vọng trong việc phát triển
loại hình tín dụng này trong tương lai. Tại các nước đang phát triển, loại hình
cho vay này cũng đang dần khẳng định được vai trò của mình, đem lại những lợi
nhuận không nhỏ trong hoạt động cho vay của Ngân hàng.
1.2.2. Đối tượng của cho vay tiêu dùng
Do cho vay tiêu dùng là một hướng cho vay cụ thể của Ngân hàng bán lẻ
nên cách phân loại khách hàng cá nhân cũng tương tự như cách phân loại khách
hàng cá nhân theo nhóm thu nhập của Ngân hàng bán lẻ. Cụ thể là khách hàng
cá nhân của cho vay tiêu dùng cũng được chia làm ba nhóm như sau:
- Nhóm I: Những cá nhân có thu nhập cao.
Những người này thường cần đến tín dụng với tư cách là những khoản phụ
trợ linh hoạt, trợ giúp thêm khả năng thanh toán, đặc biệt khi tiền của họ đã bị
trói chặt vào những khoản đầu tư dài hạn. Mặc dù sự vay mượn nhằm mục đích
tiêu dùng chỉ thể hiện một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản mà họ đang sở hữu,
song họ lại thường xuyên cần chi tiêu trong mục đích tiêu dùng với những món
tiền lớn. Và chính vì lý do này mà các Ngân hàng tỏ ra đặc biệt quan tâm đến
nhóm khách hàng đi vay này.
- Nhóm II: Những cá nhân có thu nhập trung bình.NNhu cầu về tín dụng của
nhóm này có xu hướng tăng trưởng ngày càng mạnh. Việc mong muốn chi tiêu
ngay lập tức các nguồn tài chính trong tương lai hoặc việc không thể điều tiết
nhu cầu của mình mà chạy theo những chi tiêu có tính chất phô trương dẫn đến
quá khả năng thu nhập là những nguyên nhân có thể làm nảy sinh các nhu cầu về
tín dụng của nhóm khách hàng này.
- Nhóm III: Nhóm cá nhân có thu nhập thấp.NNhu cầu về tín dụng của
nhóm người này thường rất hạn chế do thu nhập của họ thường không đủ để thoả
mãn những nhu cầu chi tiêu đa dạng của họ. Tuy nhiên, những người này cũng

trong tương lai. Nếu phân tích theo khía cạnh tài chính, việc mượn tiền trước của
Ngân hàng để tiêu dùng khiến chúng ta phải trả lãi thực chất cũng chỉ là cách
quy đổi luồng tiền ta sẽ có tại một thời điểm nào đó trong tương lai về thời điểm
hiện tại.
Chính những nguyên nhân trên, việc Ngân hàng thực hiện và mở rộng hoạt
động cho vay tiêu dùng sẽ đem đến cho người tiêu dùng những lợi ích tốt nhất.
Ta có thể khẳng định rằng người tiêu dùng là những người được hưởng trực tiếp
và đều nhất những lợi ích do hình thức cho vay tiêu dùng mang lại.
1.2.3.2. Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với Ngân hàng
- T ạo điều kiện đa dạng hoá hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu
nhập, phân tán rủi ro.
Vai trò của các Ngân hàng thương mại đối với xã hội ngày càng được
khẳng định hơn qua sự phát triển ngày càng hoàn thiện của hệ thống Ngân hàng
nói chung và của Ngân hàng thương mại nói riêng. Nhưng không vì thế mà các
Ngân hàng có thể thoát khỏi sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các tổ chức
hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ khác. Ngày càng có nhiều tổ chức muốn cung
cấp các dịch vụ mà Ngân hàng đã và đang cung cấp. Và ngay cả giữa các Ngân
hàng thương mại với nhau sự cạnh tranh giành giật thị trường và khách hàng
ngày càng khốc liệt hơn. Chính vì vậy, muốn tồn tại và phát triển các Ngân hàng
phải không ngừng đổi mới, tìm tòi và đưa ra những dịch vụ mới ngày càng có
nhiều tiện ích cho khách hàng, từ đó nâng cao thu nhập cho Ngân hàng. Thực tế
đã chứng minh, có những Ngân hàng thương mại lớn trên thế giới đã thu về
những khoản lợi nhuận kếch xù từ việc cung cấp các khoản cho vay tiêu dùng.
Ngoài ra, nếu xét riêng từng khoản tín dụng tiêu dùng thì ta thấy cho vay tiêu
dùng có rủi ro lớn. Nhưng vì mỗi khoản tín dụng tiêu dùng có giá trị tương đối
nhỏ, đặc biệt lại có nhiều sản phẩm tín dụng tiêu dùng nên xét trên toàn cục của
các khoản cho vay tiêu dùng thì rủi ro cũng không còn là một vấn đề lớn. Trên
thực tế, các khoản cho vay tiêu dùng thường có lợi nhuận cao do mức lãi suất
tính trên các khoản cho vay tiêu dùng cao. Vì vậy, các Ngân hàng thương mại
cũng có thể kỳ vọng tăng lợi nhuận thu được từ các khoản cho vay tiêu dùng.

ra nhiều công ăn việc làm. Đồng thời, tạo ra sự cạnh tranh giữa các hãng sản
xuất, các nhà kinh doanh về sản phẩm, mẫu mã, chủng loại và các nhà sản xuất
sẽ tìm cách để có thể đáp ứng mọi thị hiếu người tiêu dùng. Một mặt thúc đẩy
sản xuất phát triển, một mặt người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn, qua đó
tạo sự năng động cho nền kinh tế. Các nhà sản xuất muốn tồn tại thì cũng phải
không ngừng cải tiến, tự hoàn thiện mình, làm cho nền sản xuất ngày càng phát
triển và phồn thịnh.
1.2.4. Phân loại các khoản cho vay tiêu dùng
Việc phân loại tín dụng tiêu dùng được lựa chọn trên nhiều tiêu thức khác
nhau để có một cái nhìn toàn diện về cho vay tiêu dùng ở những góc độ khác
nhau.
1.2.4.1. Căn cứ vào mục đích vay:
Căn cứ vào mục đích vay thì cho vay tiêu dùng bao gồm:
+ Cho vay tiêu dùng cư trú:
Đây là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm xây dựng hay
cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
+ Cho vay tiêu dùng phi cư trú:
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang
trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí du
lịch, chữa bệnh hay thanh toán tiền viện phí...
1.2.4.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả:
+ Cho vay tiêu dùng trả góp
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ( gồm cả số
tiền gốc lẫn lãi) cho Ngân hàng theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định
trong thời hạn cho vay. Phương thức này được áp dụng cho các khoản vay có giá
trị lớn hoặc thu nhập từng định kì của người đi vay không đủ khả năng thanh
toán hết một lần số nợ vay.§ Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các Ngân hàng
thường chú ý tới một số vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất: Loại tài sản được tài trợ.
Thông thường thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình

- Thứ tư: Điều khoản thanh toán.
Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách
hàng, Ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
- Số tiền thanh toán mỗi kỳ hạn phải phù hợp với khả năng về thu nhập
trong mối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng.
- Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được
thu hồi.
- Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng
- Thời hạn cho vay không nên quá dài. Thời hạn cho vay bị giới hạn bởi
thời gian hoạt động của tài sản tài trợ. Và nếu thời hạn cho vay qua dài dễ làm
cho giá trị tài sản tài trợ bị giảm mạnh đồng thời rủi ro tín dụng cũng tăng lên.
Hơn nữa, khi thời hạn cho vay quá dài thì thiện chí trả nợ của những người đi
vay cũng như việc thu hồi nợ thường gặp nhiều rắc rối.
+ Thứ năm: Số tiền khách hàng thanh toán cho Ngân hàng mỗi kỳ trả nợ.
Để xác định số tiền khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàng trong mỗi
kỳ trả nợ, ta có thể áp dụng một trong các phương pháp sau đây:
- Phương pháp gộp (Add on Method): Đây là phương pháp thường được
áp dụng trong cho vay tiêu dùng trả góp, do tính chất đơn giản và dễ hiểu của
nó. Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc nhân
với lãi xuất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn
phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kỳ hạn trả nợ.
- Phương pháp lãi đơn (Simple Interest Method): Theo phương pháp này,
vốn gốc người đi vay phải trả cho từng kỳ hạn trả nợ được tính đều nhau bằng
cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán. Còn lãi phải trả mỗi kỳ
hạn được tính trên số tiền khách hàng thực sự còn thiếu Ngân hàng.
+ Thứ sáu: Vấn đề phân bổ lãi vay theo thời gian
Khi sử dụng phương pháp gộp để tính lãi, các Ngân hàng thường tiến hành
phân bổ lại phần lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ có thể được thực hiện
theo định kỳ gắn liền với các kỳ hạn thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện
theo quý hay theo năm tài chính.

+ Cho phép Ngân hàng giảm được chi phí trong cho vay.
+ Là nguồn gốc để mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động
khác của Ngân hàng.
+ Trong trường hợp Ngân hàng có mối quan hệ tốt với các công ty bán lẻ
thì cho vay tiêu dùng sẽ có tính an toàn cao hơn, giúp Ngân hàng giảm bớt rủi
ro.
* Nhược điểm của cho vay tiêu dùng gián tiếp:*
+ Ngân hàng không được tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng, điều này
dẫn đến Ngân hàng không thể kiểm soát được khách hàng mà công ty bán lẻ đã
bán chịu, không biết được chất lượng tín dụng của họ ra sao.
+ Ngân hàng không thẩm định được khách hàng trước khi cho vay, dễ dẫn
đến rủi ro cho Ngân hàng.
+ Nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
Do những nhược điểm trên nên rất nhiều Ngân hàng không mặn mà với cho
vay tiêu dùng gián tiếp, và chỉ có những Ngân hàng nào có cơ chế kiểm soát tín
dụng rất chặt chẽ mới tham gia vào hoạt động cho vay tiêu dùng này.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp được thực hiện thông qua các phương thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ: Theo phương thức này, khi bán cho Ngân hàng
các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh
toán cho Ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn người tiêu dùng
không thanh toán cho Ngân hàng.
- Tài trợ truy đòi hạn chế: Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty
bán lẻ đối với các khoản nợ của người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ
giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã thoả
thuận giữa Ngân hàng với công ty bán lẻ.
- Tài trợ miễn truy đòi: Theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ
cho Ngân hàng, công ty bán lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc liệu các
khoản nợ đó có được trả hay không. Phương thức này chứa đựng nhiều rủi ro
nên chi phí của khoản vay này được Ngân hàng tính cao hơn so với các phương
thức trên và các khoản nợ được mua cũng được Ngân hàng lựa chọn rất kỹ.

đáng. Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có
thể từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của mình. Nếu như người cấp tín
dụng là Ngân hàng thì những điều này có thể được hạn chế.
+ Cho vay tiêu dùng trực tiếp linh hoạt hơn so với cho vay tiêu dùng gián
tiếp ở chỗ: cuối cùng quan hệ vay mượn chỉ diễn ra giữa Ngân hàng và người
tiêu dùng, không liên quan tới công ty bán lẻ. Khách hàng không trả được nợ thì
phần lớn là không liên quan tới công ty bán lẻ.
+ Khi khách hàng có quan hệ tín dụng trực tiếp từ Ngân hàng thì có rất
nhiều lợi thế phát sinh như: Ngân hàng có thể mở rộng quan hệ với khách hàng,
tạo ra hình ảnh tốt đẹp về Ngân hàng trong khách hàng. Còn đối với khách hàng
có cơ hội tiếp cận được với nhiều dịch vụ Ngân hàng hơn.
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng mở rộng hoạt động cho vay
tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, bất cứ một doanh
nghiệp nào muốn đứng vững và phát triển trong hoạt động sản xuất, kinh doanh,
đòi hỏi doanh nghiệp đó phải không ngừng mở rộng và cải thiện chất lượng các
sản phẩm dịch vụ cuả mình nhằm đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đặt ra của nền
kinh tế.
Khi nói đến mở rộng người ta nghĩ đến ngay việc làm thế nào để tăng quy
mô, khối lượng, số lượng tức là nói đến sự tăng trưởng theo chiều ngang. Vì vậy,
ta có thể hiểu mở rộng cho vay tiêu dùng là sự đáp ứng các yêu cầu ngày càng
tăng của khách hàng về quy mô cho vay tiêu dùng hay nói cách khác đó là việc
làm tăng tỷ trọng cho vay tiêu dùng trong tài sản có của các Ngân hàng thương
mại.
Mở rộng cho vay tiêu dùng được thể hiện:
- Đối với khách hàng: tín dụng tiêu dùng phải thoả mãn được tối đa các
nhu cầu hợp lý của các khách hàng về khối lượng tín dụng tiêu dùng, đa dạng
hoá các hình thức và loại hình tín dụng tiêu dùng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Cho vay tiêu dùng phải đáp ứng được
các yêu cầu về vốn kinh tế, là kênh dẫn vốn gián tiếp đóng vai trò hết sức quan

1.2.5.1. Nhóm các nhân tố khách quan
Nhóm nhân tố này thường bao gồm: tình trạng của nền kinh tế, hệ thống
pháp lý và tình hình xã hội. Có thể nói nhóm nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn
đến hoạt động tiêu dùng nói chung và hoạt động tín dụng tiêu dùng nói riêng. Cụ
thể là:
- Nhân tố tình trạng của nền kinh tế:
Chúng ta đều đã biết rằng nhu cầu tiêu dùng hàng hoá dịch vụ của dân cư
phụ thuộc rất lớn vào tình trạng của nền kinh tế. Khi nền kinh tế ở trong giai
đoạn hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, mức sống của dân cư ngày
một phát triển đi lên thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng, bởi vì họ tin tưởng vào thu
nhập của mình trong tương lai có thể chi trả được các khoản nợ để phục vụ mục
đích nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì vậy mà tín dụng tiêu dùng của Ngân
hàng thời kỳ này sẽ tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy
thoái, thiểu phát, không ổn định thì nhu cầu chi tiêu sẽ giảm do lúc này dân cư
có xu hướng tích luỹ hơn là tiêu dùng, bởi vậy tín dụng tiêu dùng thời kỳ này sẽ
giảm xuống.
- Nhân tố xã hội:NNhân tố xã hội bao gồm: quan niệm xã hội, phong tục tập
quán, tình hình trật tự an ninh, trình độ dân trí, độ tin tưởng lẫn nhau.... Các nhân
tố này ảnh hưởng trực tiếp tới các tác nhân tham gia vào quan hệ tín dụng tiêu
dùng nói riêng và các tín dụng khác của Ngân hàng nói chung. Bởi vì quan hệ
tín dụng được hình thành dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau nên nếu khách hàng
nào có uy tín với Ngân hàng, có thu nhập ổn định, có trình độ cao thì sẽ được
nhiều ưu đãi trong mối quan hệ này. Đồng thời, nếu một Ngân hàng hoạt động
an toàn và hiệu quả, tạo được lòng tin trong dân chúng thì sẽ có nhiều sự lựa
chọn của khách hàng hơn.
Đồng thời, quan niệm xã hội, phong tục tập quán, trình độ dân trí… cũng
ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu, thói quen mua sắm của người dân từ đó cũng
tác động đến tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng.
- Nhân tố pháp lý:
Mỗi một chủ thể trong xã hội đều có quyền tự do làm theo ý thích của

trong việc mở rộng hoạt động này. Ngược lại, nếu chính sách tín dụng không đáp
ứng được những yêu cầu trên thì Ngân hàng sẽ không mở rộng quy mô tín dụng
tiêu dùng được.
Đặc biệt là trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì
một chính sách tín dụng hợp lý, một chính sách đa dạng lãi suất hoá phù hợp với
từng loại khách hàng, từng kỳ hạn cho vay sẽ thu hút được nhiều khách hàng và
thực hiện thành công việc mở rộng tín dụng tiêu dùng.
- Thứ hai: Quy trình cấp tín dụngQuy trình cấp tín dụng là tổng hợp các
nguyên tắc, các quy định của Ngân hàng trong việc cấp tín dụng, gồm các bước
cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng

Trích đoạn Hoạt động cho vay Quy trình cho vay tiêu dùng Quy trình cho vay tiêu dùng có tài sản bảo đảm Doanh số cho vay Doanh số thu nợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status