TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
THỬ NGHIỆM
NUÔI LUÂN TRÙNG NƯỚC NGỌT (Brachionus
calyciflorus) BẰNG TẢO CHLORELLA Cần Thơ, 2011
Sinh viên thực hiện
NGUYỄN NGỌC BÍCH
MSSV: 0753040006 Cần Thơ, 2011
3LỜI CẢM TẠ
Qua quá trình học tập tại trường Đại học Tây Đô, tôi xin chân thành cám ơn Ban
Giám Hiệu Trường cùng quý Thầy Cô đã tạo điều kiện cho tôi được học tập, rèn luyện
tại Trường trong suốt những năm qua.
Tôi xin bài tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Thầy Nguyễn Hữu Lộc đã tận tình hướng
dẫn cho tôi trong suốt thời gian làm đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn quý Thầy Cô - Khoa Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại
Học Tây Đô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báo trong những năm học vừa
qua.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Thầy cố vấn học tập Tạ Văn Phương
và các bạn lớp Nuôi trồng thủy sản K2 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập, cũng như thực hiện đề tài.
Chân thành cám ơn!
phát triển trong các bể, thực hiện thả cá rô phi (kích thước 35 – 50g) với các khối
lượng cá rô phi khác nhau: 0,5 kg/m
3
; 1 kg/m
3
; 1,5 kg/m
3
; 2 kg/m
3
; 2,5 kg/m
3
; 3 kg/m
3
.
Thí nghiệm 2 nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ tảo đến sự phát triển của quần thể
luân trùng được thực hiện gồm 4 nghiệm thức: NT
20
; NT
50
; NT
80
và NT
110
tương ứng
với các mật độ tảo 20.000; 50.000; 80.000; 110.000 tế bào tảo/luân trùng/ngày. Kết
quả thí nghiệm 1 cho thấy giữa mật độ tảo Chlorella và khối lượng cá rô phi trong các
bể cá – tảo có mối tương quan với nhau. Trong điều kiện nhiệt độ từ 27,7 – 31,2
o
C và
pH từ 7,5 – 7,9 thì trong các bể có khối lượng cá càng cao thì mật độ tảo càng cao
và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào
khác.
Ký tên Nguyễn Ngọc Bích
2.4.1 Hệ thống phân loại 12
2.4.2 Cơ sở sinh thái học của hệ thống cá rô phi – tảo chlorella 13
2.5 Lịch sử phát triển và tình hình nghiên cứu luân trùng 13
7
CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
3.2 Vật liệu nghiên cứu 15
3.3 Phương pháp nghiên cứu 15
3.3.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của khối lượng cá rô phi đến sự phát triển của
tảo Chlorella 15
3.3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng mật độ tảo lên sự phát triển của quần thể luân
trùng 16
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 17
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của khối lượng cá rô phi đến sự phát triển của tảo
Chlorella 19
4.1.1 Các yếu tố môi trường nuôi tảo 19
4.1.2 Sự phát triển của tảo 20
4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng mật độ tảo lên sự phát triển của quần thể luân trùng 22
4.2.1 Các yếu tố môi trường nuôi luân trùng 22
4.2.2 Sự phát triển của luân trùng 25
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
PHỤ LỤC A
Bảng 4.8: Tỉ lệ mang trứng của luân trùng (%) 28
Bảng 4.9: Tốc độ tăng trưởng đặc thù 30 9
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Hình thái của luân trùng nước ngọt B.calyciflorus 3
ta đã thống kê được hơn 60 loài ấu trùng cá và khoảng 18 loài giáp xác được nuôi
bằng loại thức ăn này.
Hiện nay có khoảng 2000 loài luân trùng được biết đến và các loài được nuôi phổ biến
ở môi trường nước lợ là Brachionus plicatilis, B.rotundiformis và môi trường nước
ngọt là B.rubens, B.calyciflorus (Dhert, 1996). Trong đó, Brachionus calyciflorus như
là nguồn thức ăn ban đầu cho hầu hết các loài cá nước ngọt. Loài luân trùng này có
nhiều dòng với kích cỡ khác nhau, vì vậy chúng thích hợp với các ấu trùng có kích
thước khác nhau (Francis O. Arimono, 2006).
Kỹ thuật nuôi luân trùng đã được nghiên cứu trong hơn 40 năm qua với nhiều hình
thức nuôi khác nhau từ nuôi nước tĩnh đến nước chảy, nước tuần hoàn bằng nhiều loại
thức ăn phong phú như tảo, men bánh mì, bột đậu nành, Protein Selco ở dạng khô,
(Fukusho, 1989). Tuy nhiên, tảo là thức ăn tốt nhất có giá trị dinh dưỡng cao đối với
luân trùng, trong đó tảo Chlorella được sử dụng nhiều nhất trong các hệ thống nuôi
nhờ tốc độ sinh trưởng nhanh (Hagiwata et al., 2001).
Một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và phát triển của
luân trùng là mật độ tảo làm thức ăn và mật độ nuôi của quần thể luân trùng. Vì vậy,
đề tài “ Thử nghiệm nuôi luân trùng nước ngọt (Brachionus calyciflorus) bằng tảo
Chlorella” được thực hiện.
1.2 Mục tiêu đề tài
11
Xác định mật độ tảo thích hợp cho sự phát triển của quần thể luân trùng trong mô hình
nuôi luân trùng nước ngọt, ứng dụng trong sản xuất giống các đối tượng thủy sản.
1.3 Nội dung đề tài
1) Theo dõi sự phát triển của mật độ tảo Chlorella với các khối lượng cá rô phi khác
nhau. Xác định mối tương quan giữa mật độ tảo và khối lượng cá rô phi.
2) Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ tảo lên sự phát triển của quần thể luân trùng.
Loài : Brachionus calyciflorus Pallas
Luân trùng còn gọi là trùng bánh xe (Rotifera) thuộc nhóm động vật đa bào có kích
thước nhỏ. Chiều dài cơ thể của chúng nhỏ hơn 2 mm, thường có kích thước từ 100-
340µm (Dhert, 1996) có dạng hình trứng dài, hơi dẹp theo hướng lưng bụng. Bờ bụng
trước có 4 gai dạng u lồi giữa có khe hình chữ V. Luân trùng có cấu tạo gồm 3 phần:
đầu, thân và chân
Hình 2.1 : Hình thái của luân trùng nước ngọt B.calyciflorus
Ðầu mang vòng tiêm mao có chức năng bơi lội và thu gom thức ăn.
Thân luân trùng chứa nhiều dịch cơ thể và các cơ quan sau:
Hệ tiêu hoá: Luân trùng lấy thức ăn nhờ vòng tiêm mao sau đó vào trong miệng
và đến hàm nghiền. Hàm nghiền này sẽ nghiền các hạt thức ăn bằng nhiều con
đường khác nhau (cắt, nghiền ) rồi đi vào thực quản, dạ dày, ruột và hậu môn
(Nogrady, 1993).
Hệ bài tiết: Luân trùng bài tiết chủ yếu là chất thải có nguồn gốc đạm (phần lớn
là ammonia). Sự chuyển động của tiêm mao ở các tế bào ngọn lửa (flame cells)
13
tạo nên dòng chảy nhỏ các chất lỏng bài tiết vào trong các túi và chảy vào bàng
quang sau đó được bài tiết ra ngoài thường xuyên và đều đặn (Nogrady, 1993).
Hệ sinh dục: Cơ quan sinh dục của con cái bao gồm 3 phần: buồng trứng, chất
noãn hoàng và lớp nang. Ngay từ khi mới sinh ra, số lượng trứng đã có sẵn
trong buồng trứng.
Chân: Chân luân trùng có cấu tạo hình nhẩn không có sự phân đốt, có thể co rút và
cuối cùng là 1 hoặc 4 ngón chân (Dhert, 1996)
Sự chuyển tiếp giữa chân và thân là hậu môn. Đây là điểm nằm ở vị trí bên ngoài mặt
lưng là nơi thải ra của ruột, bàng quang và vòi trứng Hình 2.2: Đặc điểm cấu tạo của Brachionus plicatilis (Dhert, 1996)
luân trùng. Đây là hình thức sinh sản nhanh nhất để tăng quần thể luân trùng và là
hình thức quan trọng trong hệ thống nuôi luân trùng.
Sinh sản hữu tính: Trong vòng đời của luân trùng, khi có sự biến động đột ngột của
điều kiện môi trường như nhiệt độ, nồng độ muối, … luân trùng sẽ chuyển sang hình
thức sinh sản hữu tính. Trong quá trình này xuất hiện cả con cái vô tính và con cái hữu
tính, chúng đều có hình thái giống nhau, khó phân biệt tuy nhiên con cái hữu tính sẽ
sinh ra trứng đơn bội (1n). Con cái hữu tính có 3 kiểu sinh sản:
Con non sinh ra từ những trứng đơn bội không thụ tinh sẽ phát triển thành con đực.
Con đực có kích thước bằng 1/3 kích thước con cái. Chúng không có ống tiêu hoá
và bàng quang nhưng có tinh hoàn đơn với nhiều tinh trùng thành thục.
Trứng nghỉ: là trứng đơn bội đã thụ tinh. Trứng nghỉ có vách tế bào dày giúp nó
chịu đựng qua điều kiện khắc nghiệt và khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ nở thành con
cái vô tính.
Con cái vô tính.
15Hình 2.3: Vòng đời của luân trùng (Dhert, 1996)
2.2 Kỹ thuật nuôi luân trùng
2.2.1 Các yếu tố môi trường nuôi luân trùng
Nhiệt độ
Luân trùng khá rộng nhiệt, khoảng nhiệt độ thích hợp 15 – 35
o
C. Nhiệt độ dưới 10
o
C
luân trùng sẽ hình thành trứng nghỉ và quần thể tàn lụi (Fushimi, 1989).
Nhiệt độ nuôi luân trùng phụ thuộc vào kiểu hình thái của chúng. Kiểu L được nuôi ở
trong nước nuôi phụ thuộc vào nhiệt độ, độ mặn, mật độ luân trùng và loại thức ăn
(Dhert, 1996).
NH
3
NH
3
gây độc đối với động vật thủy sinh nhưng với nồng độ 1 mg/l được xem là an
toàn. Hàm lượng N-NH
3
trong hàm lượng tổng cộng N-NH
4
+
(TAN) có phụ thuộc vào
pH và nhiệt độ nước (Dhert, 1996).
Các mức ammonia dạng tự do từ 3 – 5 mg/L sẽ làm ức chế sự sinh sản của luân trùng
và chúng có thể chết khi hàm lượng ammonia tăng lên (Hoff và Snell, 2004).
NO
2
-
Theo Groeneweg et al. (1981), hàm lượng N-NO
2
-
đạt từ 10-20 ppm không gây độc
đối với luân trùng Brachionus rubens. Lubzens (1987) thì cho rằng ở nồng độ 90 - 140
ppm N-NO
2
-
gây độc đối với luân trùng.
2.2.2 Các hình thức nuôi luân trùng
2005). Bể nuôi luân trùng khi đạt mật độ cao thì được thu hoạch một phần sau đó
thêm tảo và thức ăn vào để nuôi tiếp. Khi mật độ luân trùng cao thì thu hoạch tiếp và
cứ thế tiếp tục.
Đối với phương pháp này luân trùng được giữ trong bể trong thời gian 5 ngày. Hai
ngày đầu tiên mỗi ngày tăng gấp đôi thể tích nước nuôi để làm loãng mật độ luân
trùng xuống một nửa. Trong những ngày tiếp theo, tiến hành thu hoạch 1/2 số lượng
luân trùng trong bể, sau đó lại đổ nước mới vào bể để làm giảm mật độ luân trùng
xuống còn một nửa. Ngày thứ năm tiến hành thu hoạch và tiến hành lặp lại trình tự
như trên (hệ thống nuôi bán liên tục trong 5 ngày) (Dhert, 1996).
Nuôi theo phương pháp liên tục
Nuôi sinh khối luân trùng theo phương pháp liên tục thì qui mô nhỏ hơn phương pháp
nuôi mẻ nhưng hiệu quả thâm canh hơn. Đây là phương pháp có hiệu quả để sản xuất
ra luân trùng chất lượng cao. Mô hình này luôn khép kín chỉ áp dụng trong phòng nên
hạn chế ở qui mô nhỏ và đòi hỏi điều kiện thiết bị máy móc nên chi phí cao.
Mô hình nuôi liên tục tiến bộ nhất là mô hình kết hợp với chemostat (James và Abu-
Rezeq, 1989). Chemostat hoạt động trên nguyên tắc giới hạn hàm lượng thức ăn và tỉ
lệ cho ăn. Hàm lượng thức ăn cho vào và lượng luân trùng thu hoạch sẽ được tính toán
trước và duy trì ổn định. Một lượng cố định luân trùng sẽ được đem ra và bù vào bằng
một lượng cố định thức ăn cần thiết. Như vậy, chemostat duy trì tốc độ sinh trưởng
của luân trùng ổn định (bằng cách cung cấp đều đặn thức ăn) chứ không duy trì mật
độ cá thể (Droop, 1975; trích từ Trần Công Bình và csv., 2005).
Nuôi luân trùng với mật độ cao
18
Tuy nuôi luân trùng với mật độ cao sẽ làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường nuôi làm
giảm tốc độ sinh trưởng do bắt đầu sự sinh sản hữu tính nhưng phương pháp này đã
thu được kết quả hứa hẹn trong điều kiện nuôi có kiểm soát.
Kỹ thuật nuôi cũng giống như kỹ thuật áp dụng để nuôi hàng loạt bằng thức ăn
Culture Selco nhưng sau mỗi chu kỳ 4 ngày mật độ luân trùng không phải điều chỉnh
lại. Thức ăn được điều chỉnh 0,25- 0,3g/ triệu luân trùng cho các mật độ giữa 500 và
Nanochloropsis, (Trần Ngọc Hải và Trần Thị Thanh Hiền, 2000).
Theo Nagata và Whyte (1992) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của các loại thức ăn khác
nhau đến sự phát triển của luân trùng, tác giả nhận thấy luân trùng khi sử dụng
19
Chlorella sacchrophila có tốc độ sinh sản và đạt mật độ cao nhất, kế đến là Isochrysis,
Tetraselmis suecica, men bánh mì Saccharomyces cereviciae và cuối cùng là
Thalassiosira pseudonana. Điều này cũng phù hợp với nhận định của Liao et al.
(1983) thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của luân trùng là Chlorella nước mặn. Ngoài
ra luân trùng nuôi với Chlorella nước mặn có giá trị dinh dưỡng cao do chứa nhiều
HUFA đặc biệt là EPA (Fukusho, 1983). Theo Nyonje và Radull (1991) trong vùng
nhiệt đới, Chlorella nước ngọt đã được sử dụng thành công trong việc nuôi luân trùng
bằng cách thuần hoá trước khi cho ăn.
Một trong những thuận lợi trong việc sử dụng Chlorella làm thức ăn cho luân trùng là
do tảo này phát triển và phân cắt nhanh (chỉ sinh sản vô tính). Chlorella chứa hàm
lượng protein 50%, lipid 20%, Carbohydrate 20%, Vitamin B
1
, B
12
, chất khoáng…
Hơn nữa Chlorella còn sản sinh ra chất kháng sinh Chlorellin kháng lại một số vi
khuẩn do đó hạn chế một số mầm bệnh (Sharma, 1998); trích từ Trần Công Bình và
csv., 2005).
Theo Trần Công Bình và csv. (2005) thì một số tảo có chứa hàm lượng các acid béo
thiết yếu rất cao như acid eicosapentaenoic (EPA 20:5n-3) và docosahexaenoic acid
(DHA 22:6n-3), cho nên chúng được xem là thức ăn tươi sống rất tốt bổ sung hàm
lượng acid béo cho luân trùng. Khi luân trùng ăn tảo, nó sẽ thu nhận các acid béo thiết
yếu này trong vài giờ và sau đó tiến tới cân bằng giữa tỉ lệ DHA/EPA .
Men bánh mì
Men bánh mì là những tế bào nấm men có kích thước 5-7 µm có hàm lượng protein
nhân tạo này đều nhằm mục đích là nâng cao hoạt tính của men (Hoff và Snell, 2004).
Vi khuẩn
Một số vi khuẩn làm thức ăn cho luân trùng như: Pseudomonas, Acinetobacter
nhưng một số loài vi khuẩn gây hại cho luân trùng như Flavobacteria, chúng hạn chế
sự phát triển của luân trùng và Vibrio alginoliticus làm chết luân trùng (Nguyễn Văn
Hạnh, 2007)
Protozoa
Một số loài tiêm mao trùng (ciliate), protozoa,… như: Euplotes và Vorticella. Đây là
hai loài thường xuyên gặp trong nuôi sinh khối luân trùng, chúng cạnh tranh thức ăn
và oxy với luân trùng. Đặc biệt chúng làm giảm chất lượng nước trong môi trường
sống của luân trùng, tạo nhiều hợp chất hữu cơ, làm giảm pH (Nguyễn Văn Hạnh,
2007). Tuy nhiên theo Dhert (1996) chúng có thể làm sạch nước bể nuôi khỏi vi
khuẩn và vật chất hữu cơ.
Cách cho luân trùng ăn
Do luân trùng có đặc tính ăn lọc và liên tục nên khi cho ăn phải cung cấp thức ăn với
lượng vừa phải với khoảng cách giữa các lần cho ăn ngắn nhằm hạn chế tình trạng
trong bể luân trùng thừa thức ăn (làm giảm chất lượng nước) nhưng luân trùng vẫn bị
đói (do không cung cấp thức ăn mới kịp thời). Như vậy, luân trùng phải được cho ăn
thường xuyên với lượng nhỏ nhằm duy trì chất lượng nước và tránh trường hợp cho ăn
thừa hoặc bỏ đói luân trùng. Ngoài ra, nếu luân trùng bị đói trước khi thu hoạch thì giá
trị dinh dưỡng của chúng sẽ rất thấp. Đây cũng là một nguyên nhân làm tăng tỉ lệ hao
hụt của ấu trùng tôm cá khi sử dụng luân trùng làm thức ăn (Dhert, 1996).
21
2.3 Tảo Chlorella
2.3.1 Hệ thống phân loại và hình thái
Ngành: Chlorophyta
Lớp: Chlorophyceae
Bộ: Chlorococales
Họ: Chlorellaceae
có lá, động vật đáy, các loài nhuyễn thể, tôm cá con và cả mùn bã hữu cơ. Tính ăn mồi
động vật của cá rô phi tích cực ở giai đoạn cá con, giai đoạn 1-9 cm cá ăn mồi sống rất
mạnh. Tuy nhiên khi cá lớn, chúng chuyển sang chủ yếu ăn thực vật (rong, tảo) giảm
bắt mồi động vật (Trương Quốc Phú và csv., 2006).
Cá rô phi thường được xem là cá ăn lọc do khả năng lọc tảo trong nước rất hiệu quả.
Theo Popma và Lovshin (1996), mang của cá rô phi tiết ra nhiều chất nhầy để bắt các
hạt lơ lửng tạo thành các cục nhầy dính đầy tảo, động vật phù du, vật chất hữu cơ và
được cá nuốt nào. Cơ chế này có thể giúp cá bắt được những tế bào nhỏ đến 5 µm. Cá
rô phi đen (O.mossambicus) lọc tảo kém hiệu quả hơn các loài cá rô phi vằn (rô phi
Đài Loan) và cá rô phi xanh (O.aureus).
Cá rô phi có thể tiêu hóa hiệu quả các loài tảo, nhờ pH trong dạ dày của cá rất thấp
(nhỏ hơn 2) nên có thể phá vỡ màng tế bào của tảo lam và vi khuẩn. Cá rô phi có thể
tiêu hóa 30 – 60% đạm trong tảo và tảo lam được tiêu hóa tốt hơn tảo lục (Popma và
Lovshin, 1996).
Khi nghiên cứu về khả năng sử dụng Chlorella của cá rô phi giống (O.niloticus),
Kungler et al. (1987) nhận thấy cá rô phi không sử dụng tốt Chlorella.
Nhờ những đặc điểm dinh dưỡng trên mà cá rô phi có thể giúp duy trì quần thể tảo tốt,
đặc biệt là tảo Chlorella.
2.5 Lịch sử phát triển và tình hình nghiên cứu luân trùng
Vào đầu những năm 1950, luân trùng Brachionus plicatilis lần đầu tiên được chú ý ở
Nhật vì sự phát triển sinh khối một cách đột ngột của nó làm suy giảm chất lượng
nước trong các bể nuôi cá chình và gây chết cá hàng loạt. Qua sự kiện này mà B.
plicatilis trở thành một trong các đối tượng nghiên cứu trong nuôi trồng thuỷ sản vào
lúc đó. (Hirata., 1979 và Fukusho, 1989. Trích từ Trần Công Bình và csv., 2005). Hai
mươi lăm năm sau đó lần đầu tiên luân trùng đã được sử dụng để làm thức ăn trong
nuôi ấu trùng tôm cá và có một vài kỹ thuật sản xuất thâm canh luân trùng vẫn đang
được áp dụng trên toàn thế giới (Dhert, 1996).
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, luân trùng được nghiên cứu với rất nhiều hình
thức nuôi khác nhau nhằm đem lại kết quả sản xuất luân trùng cao đảm bảo đầy đủ về
lượng và chất với chi phí nuôi thấp:
24
CHƯƠNG 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Thời gian thực hiện từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2011.
Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại Trại Thực Nghiệm, Khoa Sinh Học Ứng
Dụng, Trường Đại Học Tây Đô.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
Nguồn nước: Sử dụng nước ngọt được cung cấp từ nhà máy nước Cần Thơ, được xử
lý bằng Chlorine (20ppm) và sục khí liên tục cho đến khi hết Chlorine. Sau đó, dùng
KI để kiểm tra hàm lượng Chlorine còn dư (trung hòa bằng Natri Thiosulfate nếu còn
Chlorine dư), nước được để lắng trong thời gian 24 giờ trước khi sử dụng.
Đối tượng nghiên cứu:
- Luân trùng nước ngọt Brachionus calyciflorus được mua tại phòng thí nghiệm
thức ăn tự nhiên Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ.
- Cá rô phi vằn được mua từ trại giống ở thành phố Cần Thơ được tắm trong
formol có nồng độ 20 ppm trong thời gian 30 phút để diệt mầm bệnh ký sinh
trước khi thả nuôi.
- Tảo Chlorella phát triển tự nhiên trong bể cá rô phi.
Thiết bị và dụng cụ nghiên cứu
- Bể composite 20L, 12 cái
. Các bể cá được ký hiệu lần lượt là: Bể 0,5; Bể 1; Bể 1,5;
Bể 2; Bể 2,5; Bể 3, các chỉ số theo sau tương ứng với khối lượng của cá (kg/m
3
).
Hình 3.1: Bố trí thí nghiệm 1
Bể cá được sục khí liên tục và đặt trong nhà có mái che bằng tấm lợp trong suốt bảo
đảm đủ ánh sáng cho tảo phát triển. Cá được cho ăn bằng thức ăn viên 2 lần/ngày (lúc
8 giờ và 14 giờ) với khẩu phần ăn 3% trọng lượng thân. Đếm mật độ tảo hàng ngày,
thí nghiệm kết thúc khi mật độ tảo đạt cực đại và sau đó giảm trong 2 ngày.
3.3.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng mật độ tảo lên sự phát triển của quần thể luân
trùng
Phương pháp nuôi theo mẻ: luân trùng được nuôi trong bể composite có thể tích 20L,
mật độ ban đầu 30 cá thể/ml.