Giá trị văn chương của Bình Ngô đại cáo - Pdf 11

Giá trị văn chương của Bình Ngô đại cáo
Bình Ngô Đại Cáo là tác phẩm được người đương thời, ngay cả hậu thế, đều rất thán phục và coi là thiên
cổ hùng văn. Có nhiều ý kiến cho rằng: đây được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của Việt Nam (sau
bài thơ Nam Quốc Sơn hà và trước bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1945 của Hồ Chủ Tịch).
Đã nhiều thập kỷ nay, Bình Ngô đại cáo được đưa vào chương trình dạy-học môn Văn (sau gọi là môn
Ngữ văn) ở cấp cuối trường phổ thông.
Thường thì người ta cứ mặc nhiên dạy- học nó như một văn bản văn chương mà không mấy người đặt ra
vấn đề phải chăng nội dung dạy- học đó phù hợp với tính chất môn học hay đã lấn sân sang môn học
khác, môn Lịch sử chẳng hạn, và cùng với điều đó lại có thể bỏ sót một số giá trị văn chương nào đó bởi
trước tác này mang tính chất nguyên hợp, không chỉ là “văn sử bất phân” mà ngay ở phần văn cũng là
tổng hoà của nhiều loại văn: văn nghị luận, văn tự sự, văn trữ tình… Và mặc dầu bản hùng văn này đã
được nhiều người nghiên cứu dưới các góc độ, đạt được nhiều thành tựu, song vẫn có những vấn đề cần
phải nhận thức lại.
Bình Ngô đại cáo trước hết là một văn kiện lịch sử. Cuối năm 1427 (cũng có những tài liệu cổ cho rằng
đầu năm 1428) được lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo và văn bản này được công bố
tháng 4 năm 1428 bố cáo cho toàn quân dân biết sự nghiệp bình Ngô đã hoàn toàn thắng lợi, quân thù đã
thảm bại và phải cút khỏi nước ta, một vận hội mới đã mở ra cho giang sơn xã tắc. Chỉ với tư cách văn
bản quan phương Bình Ngô đại cáo mới được đưa vào bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư(1) chứ không
phải vì nó là tác phẩm văn chương xuất sắc của một bề tôi. Tuy nhiên, các thể loại văn chương Việt Nam
thời trung đại-như viện sĩ Đ.X. Likhatsôp nhận thấy ở thể loại văn học Nga cổ- “là để phục vụ nhằm thoả
mãn cả một kết hợp phức tạp những nhu cầu xã hội và tồn tại gắn liền với điều đó trong một sự lệ thuộc
với nhau rất chặt chẽ”(2), nên từ khi ra đời, Bình Ngô đại cáo không phải chỉ được tiếp nhận chủ yếu như
một văn bản hành chính mà còn như một kiệt tác văn chương.
Cáo là một thể trong loại văn chiếu lệnh, loại văn được người xưa coi trọng nhất. Luận ngữ ghi lời của
đức Khổng Tử khen nước Trịnh cẩn trọng khi soạn thảo loại văn bản này: Tử viết: “Vi mệnh, Tỳ Thầm
thảo sáng chi. Đông Lý Tử Sản nhuận sắc chi Thế Thúc thảo luận chi. Hành nhân Tử Vũ tu sức chi” (Đức
Khổng Tử nói rằng: “Khi nước Trịnh làm tờ từ mệnh gửi cho nước khác, ông Tỳ Thầm khởi thảo, ông
Thế Thúc khảo cứu bàn bạc, quan hành nhân là ông Tử Vũ sửa chữa thêm bớt, ông Tử Sản ở đất Đông Lý
trau chuốt lại”). Tỳ Thầm, Thế Thúc, Tử Vũ, Tử Sản là những người tài nổi tiếng đương thời, cả bốn
người hợp sức lại để viết cho thấy thái độ của người đương thời về loại văn liên hệ trực tiếp với chính sự
này. “Chính giả, chính dã” (Chính trị là chính nghĩa – Luận ngữ). Một phương tiện để làm rõ chính nghĩa

chủ được đặt ra cực kỳ gay gắt. Người trí thức Nguyễn Trãi đã được tôi luyện trong hoàn cảnh đó, ông
nhìn thấy giang sơn và dân nước mình trong máu và nước mắt trước khi thấy họ trong hào quang chiến
thắng. Với một chút hài hước có thể nói nguyên nhân thứ ba thuộc “công” của giặc Minh. Chính vì trong
thời gian dài phải thường xuyên đương đầu với kẻ thù mạnh, thâm độc và gian xảo như giặc Minh khiến
tư duy Nguyễn Trãi thêm sắc sảo. Chẳng hạn luận điểm vĩ đại của ông Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân
chính là để phản bác luận điệu xảo trá của quân Minh, vạch rõ bộ mặt thật của chúng đằng sau chiêu bài
nhân nghĩa “hưng diệt kế tuyệt”, tư tưởng này đã được bộc lộ cụ thể hơn ở Hựu đáp Phương Chính thư
(số 5)(3), Tái phục Phương Chính thư (số 8).
Giá trị văn chương của Bình Ngô đại cáo thấm nhuần ở toàn bộ tác phẩm do người viết luôn nhìn nhận sự
vật, hiện tượng cùng với một trí tuệ sắc sảo là một tâm hồn tinh nhạy, con tim giàu cảm xúc. Điều này thể
hiện kín đáo nhưng mạnh mẽ ở ngay cả đoạn đầu, đoạn chứa đựng những khái quát về lịch sử dài lâu và
quang vinh của đất nước, đoạn chứa đựng những tư tưởng lớn của một bản tuyên ngôn độc lập. Niềm tự
hào to lớn, kiêu hãnh vì được làm con dân của một dòng giống anh hùng và văn hiến được tác giả thể hiện
cô đúc qua những phó từ ngắn gọn: thực (Ngã Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang = Nước Đại
Việt ta thật là nước văn hiến)(4), ký (Sơn xuyên chi phong vực ký thù = Núi sông bờ cõi đã chia), diệc
(Nam Bắc chi phong tục diệc dị = Phong tục Bắc Nam cũng khác). Ở những đoạn sau, khi lên án tội ác
quân xâm lược, kể lại những khốn khó của nghĩa quân buổi đầu dựng nghiệp, miêu tả những bước đường
thắng lợi của quân dân, đặc biệt đoạn bố cáo kết thúc chiến tranh… thì cảm xúc càng có điều kiện biểu lộ
mạnh mẽ, phong phú.
Giá trị văn chương còn biểu hiện ở sự sáng tạo hình tượng và hình ảnh, điều này liên quan, hay nói đúng
hơn là hệ quả của đặc điểm trên. Từ những năm tuổi trẻ đến những ngày tháng cuối đời, Nguyễn Trãi
luôn biểu hiện một cốt cách nghệ sĩ lớn, chỉ có những điều kiện nào đó buộc ông phải tiết chế phẩm chất
đẹp đẽ này, còn khi tình huống cho phép, ông tự bộc lộ một cách tự nhiên sinh động. Chủ nghĩa yêu nước
và tinh thần nhân văn sâu sắc của Bình Ngô đại cáo có sức tác động mạnh mẽ, có sự trường tồn một phần
lớn là do điều này. Nguyễn Trãi diễn tả tư tưởng bằng những hình tượng sinh động, thật khó phân định
đâu là từ nguồn sách vở, đâu là sáng tạo riêng. Biểu hiện sức mạnh to lớn của nghĩa quân, ông không liệt
kê số liệu mà dựng hình ảnh Ẩm tượng nhi hà thuỷ can; Ma đao nhi sơn thạch khuyết (Gươm mài đá, đá
núi cũng mòn; Voi uống nước, nước sông phải cạn). Diễn tả sự đồng tâm nhất trí trong quân ngũ vì nghĩa
lớn, tác giả mô tả cảnh Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm (Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước
sông chén rượu ngọt ngào). Chú dẫn câu này có người đưa ra điển tích Trung Hoa thời Chiến Quốc, còn

Thực ra, cho đến nay khi nói về thể cáo, ngoài Bình Ngô đại cáo các chuyên gia văn học trung đại Việt
Nam cũng chỉ nhắc đến các bài cáo trong Thượng Thư. Các văn bản trong Thượng Thư ra đời trước công
nguyên nhiều thế kỷ(6) còn văn biền ngẫu xuất hiện thời Hán, Ngụy và thịnh hành thời Lục triều. GS.
Mai Quốc Liên cho rằng: “Nguyễn Trãi đã với tay ra hàng hai mươi thế kỷ để dùng lại một thể loại cổ
xưa hầu như đã chết trong văn học Trung Quốc- cáo- và đưa vào đó một nội dung hoàn toàn mới”(7).
Thật vinh dự cho Nguyễn Trãi và Bình Ngô đại cáo vì đã làm nên sự độc đáo trong văn học trung đại Việt
Nam là chỉ một tác phẩm làm nên một thể loại, và nhìn trong sự liên thông thể loại văn học Việt-Trung
thời trung đại, đã làm nên đỉnh cao của một thể loại. Với những gì chúng ta đã biết, có thể nói rằng
Nguyễn Trãi chỉ kế thừa tên gọi và chức năng thể loại của thể cáo Trung Hoa.
Bình Ngô đại cáo được viết để bố cáo việc hoàn tất một chiến công vệ quốc vĩ đại, bởi vậy đương nhiên
phần lớn ngôn từ sẽ dành cho việc ghi chép lại quá trình chiến đấu gian khổ và chiến thắng của quân dân
ta và quá trình thất bại dẫn đến thảm bại hoàn toàn của quân Minh. Giá trị sử học của đoạn văn này rất nổi
bật thể hiện ở sự ghi chép trung thực nhiều sự kiện lịch sử và khái quát sâu sắc nhiều chân lý lớn của thời
đại. Bên cạnh đó nghệ thuật sáng tạo văn chương của tác giả cũng hết sức xuất sắc. Những chặng đường
chính của quá trình chinh chiến hàng chục năm được kể lại tường tận mà không bề bộn vì bút pháp của
tác giả rất linh hoạt: vừa kể lại những chiến thắng của quân ta, vừa đúc kết những nguyên lý quân sự và
những chân lý nhân sinh; vừa tự sự về những thất bại liên tiếp của quân giặc vừa kết hợp luận tội chúng,
đặt chúng trong sự tương phản với quân ta. Sự lúng túng, thất bại của quân xâm lược không chỉ thấy qua
những sự kiện mà còn thể hiện bằng những bức biếm họa từ vua quan đến tướng sĩ phương Bắc.
Cho đến gần đây quả là vẫn còn có vấn đề trong cách ứng xử với một câu văn của Bình Ngô đại cáo, câu
Thị do thiên địa tổ tông chi linh, hữu dĩ mặc tương âm hựu nhi trí nhiên dã (Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy). Bản chữ Hán trong Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (in theo
Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích) có câu này, bản phiên âm Hán- Việt cũng có. Toàn tập sử dụng
hai bản dịch, bản dịch thứ hai không dịch nghĩa câu này. Trước đây ba thập kỷ, cuốn Lịch sử Việt Nam
tập I, do Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam biên soạn (Nxb. KHXH 1976) in gần như toàn bộ bản dịch
Bình Ngô đại cáo (tr.258-261) chỉ lược bỏ câu trên, thay bằng dấu ba chấm (…). Một chuyên gia văn học
Việt Nam trung đại coi câu văn này là “một tỳ vết nhỏ”(8). Những cách nhìn nhận như vậy cách đây hai,
ba thập kỷ có thể hiểu được nhưng ngày nay thiết tưởng cần thay đổi cho tương xứng với các thành quả
của khoa học xã hội và mặt bằng dân trí. Chúng ta cùng nhìn lại xem trong bản đại cáo, Nguyễn Trãi thể
hiện lực lượng siêu hình như thế nào. Kết thúc bản cáo trạng quân xâm lược, tác giả viết:

nhìn nhận thêm hai cách gọi này trong các trước tác khác của Nguyễn Trãi, có ý nghĩa nhất là những văn
bản viết trước bản đại cáo, trong Quân trung từ mệnh tập. Chúng tôi đã khảo sát tỷ mỉ và trình bày trong
một tiểu luận(10), ở đây chỉ nêu vắn tắt một số kết luận. Trong Quân trung từ mệnh tập cả hai cách gọi
đều được sử dụng nhiều lần (Những văn bản sưu tập được có lẽ chưa đầy đủ – có một khoảng trống mấy
năm không thấy có văn bản nào- bởi vậy thống kê số lần sử dụng hai từ này không phản ánh đúng tình
hình). Tình trạng một văn bản dùng cả hai tên gọi hoặc chỉ dùng một trong hai đều phổ biến. Có những
trường hợp rất đáng lưu ý. Chẳng hạn nếu cách gọi là Ngô mang ý nghĩa trên thì trong văn bản có tính
chất đối nội như Tấu cáo văn (số 22) hẳn sẽ dùng cách định danh này, nhưng không, ở đây chỉ dùng cách
gọi Minh (hai lần: Minh tặc, cường Minh). Tuy nhiên trường hợp có sức nặng nhất để phản bác ý kiến
cho rằng đương thời cách gọi Ngô đã mang ý khinh bỉ chính là văn bản Tái dụ Vương Thông thư (số 35).
Trong thư này Nguyễn Trãi chỉ dùng cách gọi Ngô, ba lần: Kim Ngô chi cường bất cập Tần (Nay Ngô
mạnh không bằng Tần), phi Ngô quốc sở năng đoạt dã (thì Ngô làm sao có thể cướp được), cập Ngô quốc
chi nhân (cũng như người Ngô). Vương Thông là tổng binh, là viên quan có quyền cao nhất trong đám
tướng lĩnh viễn chinh ở nước ta, là võ tướng nhưng y thuộc loại thông hiểu chữ nghĩa. Đối với tên này,
Nguyễn Trãi luôn chủ trương binh vận (thư cho Vương Thông nhiều nhất, xưng hô nhã nhặn, viết dài,
dùng nhiều tri thức kinh điển để bàn bạc, thuyết phục). Bức thư này viết lúc thế thắng đã thuộc về ta,
nhưng Nguyễn Trãi vẫn giữ cách ứng xử lịch sự với một đại quan của thiên triều- một kiểu “lạt mềm buộc
chặt”, là cách khéo léo nhắc nhở hắn cách hành xử cho hợp với một đại nhân, đề phòng “chó cùng rứt
dậu”. Là người hiểu sâu sắc nhân tình thế thái, lẽ nào Nguyễn Trãi hành xử bằng cách miệt thị tổ tiên kẻ
mà mình đang áp dụng chiến thuật “tâm công”? Trong Ngữ văn 10, bức thư này được in gần kề Bình Ngô
đại cáo, nếu giải thích chữ Ngô trong bản đại cáo là cách định danh biểu thị sự khinh bỉ thì không thuyết
phục được người dạy- học.
Tóm lại, chỉ căn cứ vào Bình Ngô đại cáo thì sự đối lập sắc thái ý nghĩa giữa hai cách gọi Minh và Ngô
không rõ, và tìm hiểu những văn bản trước đó được tập hợp trong Quân trung từ mệnh tập thì chưa có sự
đối lập này.
Ngoài những trường hợp đã được các nhà nghiên cứu dẫn ra, chúng tôi thấy thêm vài trường hợp gọi
người phương Bắc là Ngô với ý khinh thị. Đây là một câu trong bài Dăn đời phú (khuyết danh):
Báng đầu thằng trọc, không nể đầu ông sư; cứng cổ cứng đầu, ai xá những ngu dại – Vắng mặt thằng
Ngô, lúc có mặt ông sứ, sấp mày sấp mặt vẫn nghe nhời nói xưa nay. Về đoản ngữ Vắng mặt thằng Ngô,
lúc có mặt ông sứ, soạn giả Vũ Khắc Tiệp giải thích: “Khi trước nước ta phải phục về nước Tàu, khi có

Quân trung từ mệnh tập- tập văn chính luận quy mô đầu tiên của nước ta. Những trước tác này cùng với
thơ của thi hào đã làm nên một hiện tượng độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam: Nguyễn Trãi là tác
gia duy nhất có sự tương xứng kép, ở bậc cao, tương xứng giữa văn chính luận và văn chương thẩm mỹ,
tương xứng giữa trước tác bằng chữ Hán và bằng quốc âm.
Các từ khóa trọng tâm " cần nhớ " của bài viết trên hoặc " cách đặt đề bài " khác của bài viết trên:
• Neu gia tri cua binh ngo dai cao
• tác phẩm đại cáo bình ngô có giá trị như một bản tuyên ngôn độc lập căn cứ vào những hiểu biết
về tác phẩm hãy làm sáng tỏ ý kiến trên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status