thử nghiệm ương ấu trùng ếch thái lan (rana rugulosa) với các mật độ khác nhau - Pdf 11

i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
Sinh viên thực hiện
TÔ TRỌNG NHÂN
MSSV: 06803028
Lớp: NTTS K1
THỬ NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG ẾCH THÁI LAN
VỚI CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU
Cần Thơ, 2010
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
Cán bộ hướng dẫn
TS. NGUYỄN VĂN KIỂM
KS. NGUYỄN THÀNH TÂM
Sinh viên thực hiện
TÔ TRỌNG NHÂN
MSSV: 06803028
Lớp: NTTS K1
Cần Thơ, 2010
THỬ NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG ẾCH THÁI LAN
VỚI CÁC MẬT ĐỘ KHÁC NHAU
iii
LỜI CẢM TẠ

nòng nọc là khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tăng trưởng về chiều dài
khác biệt không có ý nghĩa thống kê từ ngày thả đến 7 ngày tuổi và đến 14 ngày tuổi
thì khác biệt có ý nghĩa thống kê. Thời gian biến thái và tỷ lệ sống của nòng nọc ở
nghiệm thức I là cao nhất chiếm 96,9% và 87,5%, mật độ ương 300 con/m
2
đạt kết
quả tốt nhất.
[Từ khóa: Ếch Thái Lan, ương nuôi, ấu trùng Ếch, thức ăn].
v
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH BẢNG iv
DANH SÁCH HÌNH v
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc điểm sinh học 2
2.1.1 Phân loại 2
2.1.2 Đặc điểm hình thái 2
2.1.3 Đặc điểm phân bố 3
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 6
2.2 Tình hình nuôi Ếch trong và ngoài nước 7
2.2.1 Tình hình nuôi Ếch ngoài nước 7
2.2.2 Tình hình nuôi Ếch trong nước 7

Bảng 4.2: Sự biến động oxy qua các đợt thu mẫu 13
Bảng 4.3: Sự biến động pH qua các đợt thu mẫu 14
Bảng 4.4: Tốc độ tăng trưởng về trọng lượng của nòng nọc 15
Bảng 4.5: Tăng trưởng về chiều dài của nòng nọc qua các đợt thu mẫu 17
Bảng 4.6: So sánh thời gian biến thái của nòng nọc 18
Bảng 4.7: Tỷ lệ sống của Ếch con ở các nghiệm thức 20
vii
DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Hình dạng bên ngoài Ếch Thái Lan 2
Hình 2.2: Vòng đời phát triển của Ếch 5
Hình 2.3: Nuôi Ếch trong bể xi măng 8
Hình 2.4: Nuôi Ếch trong ao đất và nuôi Ếch trong ao lót bạt 8
Hình 2.5: Nuôi Ếch trong giai lưới, vèo lưới 9
Hình 4.1: Tăng trưởng về trọng lượng qua các đợt thu mẫu 16
Hình 4.2: Tăng trưởng về chiều dài qua các đợt thu mẫu 17
Hình 4.3: Nòng nọc mọc chi sau 18
Hình 4.4: Nòng nọc xuất hiện đủ 4 chi 19
Hình 4.5: Nòng nọc đã tiêu biến đuôi thành Ếch con 19
Hình 4.6: Tỷ lệ sống của Ếch con khi ương với ba mật độ khác nhau 20
1
CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Nghề nuôi thủy sản nước ngọt xuất hiện khá lâu ở nước ta, cho đến ngày nay đang
phát triển với nhịp độ cao. Đối tượng nuôi rất phong phú bao gồm rất nhiều giống loài,
trong đó có cả những loài không thuộc lớp cá như các giống loài thuộc bò sát, kể cả
những loài lưỡng cư như Ếch, mà trong đó Ếch Thái Lan (Rana rugulosa) là đối tượng
đang được nhiều người nuôi quan tâm.
Việc nghiên cứu để đưa những loài thủy sản mới có giá trị kinh tế (trong đó có Ếch

Ngành Phụ: Craniae
Bộ: Anura
Bộ phụ: Phaneroglosa
Họ: Ranidae
Giống: Rana
Loài: Rana rugulosa
Tên tiếng Anh: Frog
Tên địa phương: Ếch Thái Lan
Hiện nay có khoảng 2.500 loài ếch nhái thuộc lớp lưỡng thê và được phân thành 3 bộ:
bộ lưỡng thê có đuôi (280 loài), bộ lưỡng thê không chân (60 loài) và bộ lưỡng thê
không đuôi (2.100 loài). Ếch là loài lưỡng thê không đuôi, sống được trên cạn và môi
trường nước (Ngô Trọng Lư, 2002).
2.1.2 Đặc điểm hình thái
Hình 2.1: Hình dạng bên ngoài Ếch Thái Lan
Ếch có mình ngắn và không phân cách với đầu. Chiều dài thân trung bình 7-13 cm và
nặng 100-300g, Ếch có bốn chân, chân trước có bốn ngón rời, chân sau dài và khỏe có
năm ngón dính liền nhau bằng một màng mỏng (Ngô Trọng Lư, 2002). Ở góc ngón
thứ nhất của chi trước có một mấu lồi có tên là chai sinh dục, chai sinh dục phát triển
to trong mùa sinh dục và có vai trò như một cái mấu, giúp con đực ôm con cái chặt
hơn kích thích đẻ trứng.
3
Toàn thân Ếch phủ da trần thường xuyên ẩm ướt và được cấu tạo bởi nhiều lớp, lớp
thượng bì có nhiều lớp tế bào và có nhiều tuyến nhờn, lớp hạ bì tiêu giảm và chỉ dính
với cơ bên dưới làm thành những vách ngăn giữa các túi bạch huyết, vì thế da Ếch chỉ
dính với cơ thể theo một số đường nhất định. Miệng Ếch rộng, mắt lồi, mi trên không
cử động, mi dưới có thể che đậy cả mắt. Hai lỗ mũi ở gần mõm đầu (Việt Chương,
2003). Phần lưng có màu đất xám nâu nhạt, phần da bụng có màu trắng bạc, hai đùi có
hoa văn sắc tố màu xanh pha trắng bạc (Ngô Trọng Lư, 2002).
Da là một bộ phận đặc biệt và có vai trò quan trọng đối với đời sống của Ếch. Vì
chúng là loài lưỡng cư nên da giữ chức năng hô hấp trong nước hoặc môi trường ẩm

Ếch có khe miệng rộng và khoang miệng lớn, vì thế chúng có thể nuốt con mồi có
kích cỡ lớn. Lưỡi có hệ cơ riêng nên có thể cử động được, phần trước lưỡi dính vào
thềm miệng và phần sau hướng về phía trong họng, do đó chúng dễ dàng phóng lưỡi
đớp con mồi. Các tuyến nhờn trong xoang miệng có tác dụng làm trơn thức ăn. Răng
Ếch nhỏ, hình nón có tác dụng giữ con mồi (Ngô Trọng Lư, 2002).
Thực quản ngắn, không phân biệt với dạ dày, thành thực quản có nhiều tuyến nhờn và
tuyến vị tiết acid, men pepsin. Dạ dày Ếch có hệ cơ khỏe và các tuyến tiêu hóa, ruột
cuộn lại thành nhiều vòng, không phân biệt ruột trước và ruột giữa, nhưng ruột sau
(trực tràng) phân biệt rõ hơn và là nơi chứa phân (Trần Kiên, 1996).
Sau khi nở 3 ngày đầu nòng nọc Ếch sống bằng hình thức dinh dưỡng trong. Sau đó
bắt đầu cho nòng nọc ăn, thức ăn chủ yếu của nòng nọc là động vật phù du, cá bột. Từ
giai đoạn Ếch con đến Ếch trưởng thành thì cho ăn thức ăn công nghiệp, giun, tép, ốc,
cua, cá và các côn trùng. Ngoài ra, Ếch còn có đặc tính ăn lẫn nhau khi thiếu thức ăn
(Lê Thanh Hùng, 2004).
Về khả năng bắt mồi, Ếch chậm chạp so với mồi ăn là côn trùng, chúng bắt mồi nhờ
lưỡi dài. Khi bắt mồi Ếch mở miệng rộng tới mang tai, sau đó phóng đầu lưỡi ra ngoài
tới dính con mồi, khi nuốt mồi chúng nhắm nghiền hai mắt (Nguyễn Chung, 2007).
Đối với Ếch Thái Lan còn có đặc điểm quan trọng nữa là do được thuần dưỡng nên
chúng ăn được thức ăn công nghiệp, đây là đặc điểm quan trọng để có thể nuôi chúng
với quy mô thâm canh.
5
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Vòng đời của Ếch Thái Lan được chia thành 4 giai đoạn: Trứng, nòng nọc, Ếch con và
Ếch trưởng thành.
Hình 2.2: Vòng đời phát triển của Ếch
(Nguồn: Bùi Tấn Anh, 2003)
Theo Ngô Trọng Lư (2002), trong điều kiện nhiệt độ 25-30
o
C, thời gian phát triển
phôi là 18-24 giờ. Sự biến thái của nòng nọc thành Ếch con có thể được chia thành hai

Những nơi có mực nước thấp từ 5-15 cm, có nhiều thực vật thủy sinh là nơi Ếch sử
dụng để sinh sản từng cặp một. Thời gian bắt cặp, đẻ trứng có thể kéo dài 2-3 giờ
(Ngô Trọng Lư, 2002).
Bảng 2.1: Sự phân biệt giới tính Ếch đực và Ếch cái
Ếch đực Ếch cái
Màng nhĩ lớn hơn mắt
Hàm dưới có hai túi phát âm
Có chai sinh dục ở góc ngón chi trước
Khối lượng thân nhỏ hơn Ếch cái
Màng nhĩ nhỏ hơn mắt
Không có túi phát âm
Không có chai sinh dục
Khối lượng thân lớn hơn
(Nguồn: Ngô Trọng Lư, 2002)
Ếch đẻ trứng trong nước và thụ tinh ngoài, tùy theo kích cỡ con cái mà số lượng trứng
đẻ ra khác nhau, dao động 3.000-6.000 trứng/lần sinh sản, có khả năng sinh sản 2-3
lứa/năm (Nguyễn Duy Khoát, 1999).
Trứng Ếch đẻ ra được bao bọc trong khối màng nhày nổi trên mặt nước, khối nhày có
tác dụng bảo vệ trứng tránh va chạm, tránh bị con vật khác ăn và tăng độ hội tụ ánh
sáng làm tăng nhiệt độ giúp trứng nở nhanh (Ngô Trọng Lư, 2002).
Trứng Ếch phân cắt kiểu hoàn toàn và không đều. Trứng Ếch gồm có hai cực: cực
màu đen hướng lên trên gọi là cực động vật, còn cực màu trắng quay xuống gọi là cực
thực vật (Lê Thanh Hùng, 2004).
7
2.2 Tình hình nuôi Ếch trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nuôi Ếch ngoài nước
Ở Thái Lan, nông dân đã thu bắt Ếch đồng từ thiên nhiên về nuôi và không thu được
kết quả khả quan. Từ những năm 1995-1998, họ đã du nhập giống Ếch Bò Bắc Mỹ về
nuôi và cho kết quả tốt hơn. Từ năm 2000, tại Thái Lan đã cho lai Ếch Bò Bắc Mỹ với
giống Ếch đồng địa phương cho ra giống Ếch Thái Lan, đây là giống Ếch nuôi có hiệu

Thích hợp vùng ven đô thị hay nông thôn có diện tích đất khá lớn.
Hình 2.4: Nuôi Ếch trong ao đất (trái) và nuôi Ếch trong ao lót bạt (phải)
(Nguồn: />Nuôi ếch trong giai (vèo), đăng quầng
9
Thích hợp vùng có ao, hồ lớn có thể vừa nuôi Ếch kết hợp với nuôi cá.
Hình 2.5: Nuôi Ếch trong giai lưới, vèo lưới
( ()
CHƯƠNG 3
10
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 10 tháng 03 năm 2010 đến tháng 05 năm 2010.
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại Học Tây Đô.
3.2 Vật liệu nghiên cứu
 Thùng xốp có thể tích: 33,5 cm x 24 cm x 17 cm.
 Thức ăn cho nòng nọc và Ếch con: Trùn chỉ.
 Cân điện tử, vợt vớt ếch.
 Nhiệt kế, dụng cụ kiểm tra Oxy và pH.
 Thuốc và hóa chất cần thiết.
 Các trang thiết bị khác: lưới, xô, thau.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
Nòng nọc sau khi hết noãn hoàng sẽ tiến hành bố trí thí nghiệm.
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức về mật độ, mỗi
nghiệm thức lặp lại 3 lần.
Nghiệm thức I: 300 con/m
2
(24 con/thùng).
Nghiệm thức II: 400 con/m
2

t
LnWoLnWt
=SGR x100 (3.2)
 Tỷ lệ sống (%):
Tỷ lệ sống = (số cá thể cuối / số cá thể đầu) x100 (3.3)
Trong đó: W
0
: trọng lượng Ếch xác định tại thời điểm đầu
W
t
: trọng lượng Ếch xác định sau t ngày ương
t: thời gian ương (ngày)
So sánh thời gian biến thái và tỷ lệ biến thái của nòng nọc ở mật độ khác nhau.
3.4 Phân tích số liệu
Các số liệu sau khi thu thập được đưa vào bảng Excel và phần mềm SPSS để xử lý,
tính toán và so sánh kết quả.
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
Wt – Wo
t
12
4.1 Khảo sát yếu tố môi trường
4.1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố rất cần thiết và không thể loại trừ ra khỏi đời sống của thủy sinh vật
nói chung, kể cả loài sống lưỡng cư nói riêng.
Bảng 4.1 : Biến động nhiệt độ nước qua các đợt thu mẫu
Nghiệm thức Nhiệt độ buổi sáng (
o
C) Nhiệt độ buổi chiều (
o

tảo, thời tiết, sự xâm nhập của oxy từ không khí vào, sự hô hấp của cá, sự phân hủy
các hợp chất hữu cơ trong thủy vực. Đối với cá ở các giai đoạn khác nhau thì nhu cầu
về oxy cũng khác nhau, thường ở giai đoạn càng nhỏ thì nhu cầu về oxy càng cao và
ngược lại.
Bảng 4.2: Sự biến động oxy qua các đợt thu mẫu
Nghiệm thức Oxy buổi sáng (mg/l) Oxy buổi chiều (mg/l)
I 2,2±1,8 3,3±1,4
II 2,0±1,7 2,9±1,7
III 1,9±1,7 2,9±1,7
Qua Bảng 4.2 cho thấy hàm lượng oxy trung bình trong nước dao động trong khoảng
1,9-2,2 mg/l vào buổi sáng và 2,9-3,3 mg/l vào buổi chiều.
Theo Dương Nhựt Long (1994), nồng độ oxy thích hợp cho các ao nuôi là 6-8 ppm,
nếu nhỏ hơn 4 là nồng độ không thích hợp cá không chết nhưng giảm bắt mồi và
chậm lớn.
Theo Swingle (1969), hàm lượng oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm cá là trên 5
ppm. Như vậy hàm lượng oxy trong đợt thí nghiệm tương đối thấp nhưng vẫn phù hợp
với nòng nọc vì nòng nọc có khả năng ngoi lên ngóp khí trời như các loài cá có cơ
quan hô hấp phụ.
4.1.3 pH
14
pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp và gián tiếp
đối với đời sống của thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỷ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng.
pH thích hợp cho thủy sinh vật là 6,5 - 9. Khi pH môi trường quá cao hay quá thấp
đều không thuận lợi cho quá trình phát triển của thủy sinh vật (Trương Quốc Phú,
2006).
Bảng 4.3: Sự biến động pH qua các đợt thu mẫu
Nghiệm thức pH buổi sáng pH buổi chiều
I 7,2±0,2 7,3±0,3
II 7,2±0,2 7,3±0,3
III 7,2±0,2 7,3±0,3

(%/ngày) 53,9 9,05 1,54 7,58
II
Wtb (g/con) 0,02±0,003
a
0,8±0,11
a
1,76±0,18
a
1,67±0,19
b
3,16±0,34
a
DWG
(g/ngày) 0,11 0,14 - 0,01 0,17
SGR
(%/ngày) 51,3 11,3 - 0,71 7,07
III
Wtb (g/con) 0,02±0,02
a
0,73±0,12
a
1,78±0,08
b
1,53±0,17
b
3,20±0,35
a
DWG
(g/ngày) 0,10 0,15 - 0,04 0,19
SGR

Qua các đợt kiểm tra về trọng lượng của nòng nọc Ếch Thái Lan thì trọng lượng của
nòng nọc được tăng dần từ ngày thả đến 14 ngày ương ở cả 3 nghiệm thức, riêng
nghiệm thức I thì trọng lượng của nòng nọc tiếp tục tăng trọng đến 21 ngày tuổi và là
nghiệm thức có tốc độ tăng trọng nhanh nhất (2,01 g/con) (Bảng 4.4). Sau đó thì mức
tăng trọng lượng của nòng nọc lại chậm dần so với 15 ngày đầu là do
trong giai đoạn
này nòng nọc bắt đầu biến thái chuyển từ đời sống hoàn toàn dưới nước sang đời sống
lưỡng cư nên cơ thể bắt đầu mọc chi sau và chi trước, đuôi tiêu biến dần để thích nghi
với đời sống trên cạn nên nòng nọc giảm ăn sau đó ngừng ăn và sử dụng dinh dưỡng ở
đuôi nên trọng lượng giảm xuống rõ rệt.
Ngày thứ 30 thì khối lượng của nòng nọc cả ba nghiệm thức đều tăng lên đáng kể
(nghiệm thức I: 3,98 g/con, nghiệm thức II: 3,16 g/con và nghiệm thức III: 3,20 g/con)
là do lúc này đuôi đã hoàn toàn tiêu biến, cơ thể đã hoàn toàn thích nghi với đời sống
lưỡng cư nên Ếch con sử dụng tốt thức ăn ngoài nên tăng trọng nhanh.
Tăng trưởng về chiều dài
Bảng 4.5: Tăng trưởng về chiều dài của nòng nọc qua các đợt thu mẫu
Nghiệm thức
Cỡ cá
1 ngày 7 ngày 14 ngày
I
1,27±0,12
a
4,31±0,44
a
5,74±0,32
a
II
1,29±0,12
a
3,93±0,47

Chỉ khảo sát sự tăng trưởng về chiều dài của nòng nọc ở 2 đợt kiểm tra đầu tiên, vì 15
ngày tuổi đến đợt 3 thì nòng nọc đã sử dụng dinh dưỡng đuôi và đuôi tiêu biến.
4.2.2 Thời gian biến thái của nòng nọc
Giai đoạn đầu (từ ngày thả đến 9 ngày tuổi) nòng nọc ở cả ba nghiệm thức đều chưa
xuất hiện sự biến thái, có đời sống hoàn toàn dưới nước như các loài cá nước ngọt.
Sau 10 ngày tuổi, nòng nọc bắt đầu biến thái khoảng 7%. Biểu hiện của sự biến thái là
nòng nọc thường tìm tới những nơi có mực nước tương đối thấp (nơi mà nòng nọc có
thể vừa ngâm mình dưới nước, vừa lấy được khí trời). Ngoài ra chi sau lúc mới biến
thái còn rất nhỏ và ngắn, khó phân biệt được với các khớp xương chi. Tuy nhiên, sau
khoảng 2 - 3 ngày chi sau xuất hiện rõ và các khớp chi cũng linh động hơn. Đồng thời
thì đuôi cũng tiêu biến dần.
Kết quả của thí nghiệm đã ghi nhận được trình bày ở Bảng 4.6. Thời gian bắt đầu biến
thái của nòng nọc ở cả ba nghiệm thức tương đương nhau, nhưng tốc độ biến thái của
nòng nọc ở ba nghiệm thức có sự khác nhau. Cụ thể là đến ngày tuổi thứ 15 nghiệm
thức I tỷ lệ nòng nọc có chi sau là 98,6% (cao nhất) trong khi đó nòng nọc ở nghiệm
thức II và nghiệm thức III có tỷ lệ biến thái thấp hơn với các giá trị tương ứng là 77%
(thấp nhất) và 84,7%. Tương tự như vậy ở 20 ngày tuổi thì ở ba nghiệm thức đã 100%
nòng nọc hoàn chỉnh chi sau. Nhưng sự khác biệt quan trọng nhất về sự biến thái của
Chiều dài (cm)
Ng
à
y
tu

i
18
nòng nọc ở ba nghiệm thức là sự khác biệt khá lớn về tỷ lệ nòng nọc xuất hiện chi
trước (Nghiệm thức I: 58,2%, nghiệm thức II: 31,7%, nghiệm thức III: 72,6%).
Bảng 4.6: So sánh thời gian biến thái của nòng nọc
Thời

(%)
Còn đuôi
(%)
Ếch con
(%)
Còn đuôi
(%)
25 ngày 87,3 12,7 58,8 41,2 78,8 21,2
30 ngày 96,9 3,1 61,7 38,3 82,6 17,4
Hình 4.3: Nòng nọc mọc chi sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status