iểu luận v.i leenin bảo vệ và phát triển lý luận chủ nghĩa mác về chủ nghĩa xã hội và thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội - Pdf 11

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CMXHCN
CNCS
CNTB
CNXH
CNH-HĐH
CSCN
GCCN
GCTS
GCVS
HTKH-XH
LLSX
NSLĐ
PTSX
QHSX
XHCN
Cách mạng xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa cộng sản
Chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa xã hội
Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
Cộng sản chủ nghĩa
Giai cấp công nhân
Giai cấp tư sản
Giai cấp vô sản
Hình thái kinh tế-xã hội
Lực lượng sản xuất
Năng suất lao động
Phương thức sản xuất
Quan hệ sản xuất
Xã hội chủ nghĩa

vào thực tiễn Việt Nam.
Là sinh viên chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học, việc nghiên cứu vấn
đề này là một nội dung quan trọng, có ý nghĩa lý luận và thục tiễn to lớn, vì vậy tôi
đã chọn đề tài “V.I.Lênin bảo vệ và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa
xã hội và thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội (qua nghiên cứu
ba tác phẩm: Nhà nước và cách mạng, kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên
chính vô sản và tác phẩm bàn về thuế lương thực)” làm đề tài nghiên cứu cũng
như hoàn thành điều kiện để kết thục học phần.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH không phải
là vấn đề mới nhưng luôn mang tính thời sự và mang ý nghĩa quan trọng, và vì vậy
nó luôn thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước,
không chỉ những nhà khoa học chuyên ngành mà bao gồm cả những tri thức quan
tâm đến nó, chúng ta phải khẳng định rằng có rất nhiều công trình nghiên cứu,
nhiều đề tài về vấn đề này, vì nghiên cứu vấn đề này không chỉ là bảo vệ phát triển
lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin mà còn tạo cơ sở lý luận cho công cuộc xây dựng
CNXH ở tất cả các nước trong thời đại ngày nay.
Trong đó có thể kể một số công trình tiêu biểu sau:
- Quan điểm kinh tế và chính trị về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong
một số tác phẩm kinh điển Mác-Lênin, TS.Phạm Ngọc Dũng, nhà xuất bản chính
trị quốc gia – sự thật, Hà Nội – 2011.
- Quá độ lên chủ nghĩa xã hội cùng nội hàm và nhiệm vụ cơ bản trong thời
kỳ quá độ, Trương Khởi Hoa, Nhà xuất bản chính trị quốc qia, Hà Nội-2000.
- Hồ Chí Minh Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội-2004.
Cùng với một số bài giảng của thầy cô trên lớp, qua nghiên cứu, trao đổi,
seminar…đặc biệt qua một số đề cương bài giảng của khoa như:
- Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, PGS.TS Đỗ Công Tuấn (chủ biên),
khoa CNXHKH - Học viện báo chí và tuyên truyền, Nhà xuất bản chính trị - hành
chính, Hà Nội-2012.

- Cơ sở hạ tầng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những quan hệ sản xuất của
xã hôi trong sự vận động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội
đó.
- Kiến trúc thượng tầng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những quan điểm
chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật…cùng với những
thiết chế xã hội tương ứng của chúng là nhà nước, đảng phái, giáo hội, đoàn thể xã
hội…những cái được hình thành, được xây dựng trên nền tảng của những cơ sở hạ
tầng nhất định của xã hội.
- Hình thái kinh tế - xã hội CSCN là khái niệm để chỉ một loại hình, một
trạng thái tồn tại của cộng đồng người với cơ sở hạ tầng mà đặc trưng của nó là
quan hệ sản xuất CSCN ngày càng trở thành quan hệ sản xuất thống trị, phù hợp
với tính chất của lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại và một kiểu kiến trúc
thượng tầng tương ứng mà đặc trưng của nó là, hệ thống thiết chế, tổ chức, ý thức,
quan điểm, đạo đức…của GCCN ngày càng giữ vai trò thống trị và do đó là một
kiểu xã hội không còn tình trạng người áp bức bóc lột người, con người được phát
triển ngày càng toàn diện, có cuộc sống ngày càng hạnh phúc.
- Cơ sở hạ tầng của HTKT-XH CSCN (hoặc cơ sở hạ tầng CSCN) là khái
niệm chỉ toàn bộ các quan hệ sở hữu, quản lý, phân phối của con người trên cở sở
của chế độ sở hữu của xã hội về tư liệu sản xuất và phù hợp với trình độ hiện đại
và tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất.
- Kiến trúc thượng tầng của HTKT-XH CSCN (hoặc kiến trúc thượng tầng
CSCN) là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống thiết chế, tổ chức, ý thức, quan điểm
đọa đức, khoa học, văn học nghệ thuật…mang bản chất GCCN được hình thành
trên cơ sở cơ sở hạ tầng CSCN.
- Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc toàn bộ
các lĩnh vực của đời sống xã hội, bắt đầu từ khi GCCN và nhân dân lao động tiến
hành cuộc CMXHCN giành được chính quyền nhà nước cho đến khi CNXH được
phát triển trên những cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của chính nó
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là: Làm rõ công lao, đóng góp, sự bảo vệ

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, Tiểu Luận có kết cấu
gồm 3 chương 7 tiết.
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA CỘNG
SẢN
1.1 C.Mác - Ănghghen xây dựng và phát triển về lý luận Chủ nghĩa xã hội và
thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
1.1.2 Bối cảnh lịch sử châu Âu những năm giữa của thế kỷ XIX
- Tình hình kinh tế xã hội
Giữa những năm 40 của thế kỷ XIX QHSX TBCN đã được xác lập, CNTB
đã đạt được những bước tiến khổng lồ về phương diện kinh tế. chỉ trong vòng chưa
đầy 100 năm, CNTB đã tạo được một sự phát triển mạnh trong kinh tế, so với thời
đại trước đó, CNTB thật sự là một bước tiến trên lĩnh vực phát triển công cụ lao
động, hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại của một nền công nghiệp lớn, phát triển
nhanh, lực lượng lao động xã hội được phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn
chất lượng. Tóm lại, tới thời kỳ này toàn bộ những thành tựu cơ bản của LLSX đã
phát triển với những trình độ kỹ thuật – công nghệ hiện đại với tính chất xã hội hóa
ngày càng cao, sự phát triển ấy làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn giữa hai mặt
đối lập của PTSX tư bản: mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất là chiếm hữu tư nhân
những tư liệu sản xuất chủ yếu với tính chất và trình độ của LLSX.
Tới những năm 70 của thế kỷ XIX, nền kinh tế TBCN tiếp tục phát triển
mạnh mẽ với tốc độ cao, nó đã chuyển lên trình độ mới cao hơn thời kỳ trước về
các mặt: cường độ lao động, năng suất lao động…nhưng sự phát triển này lại tạo ra
điều kiện làm việc của công nhân hết sức tồi tệ, người lao động nông thôn bị tước
đoạt hết ruộng đất, tạo nên mâu thuẫn giữa công nhân với giai cấp thống trị là giai
cấp tư sản, giữa nông thôn và thành thị…từ những mâu thuẫn về mặt kinh tế biểu
hiện mặt chính trị xã hội sâu sắc.
-Về mặt chính trị - xã hội
Lúc này giai cấp tư sản đã thiết lập được vị trí thống trị của mình trên lĩnh
vực chính trị xã hội. trong khi đó đại bộ phận nhân dân thuộc các tầng lớp sở hữu

quá độ, vậy thời kỳ quá độ bắt đầu khi nào, kết thúc khi nào, và ở vị trí nào trong
HTKT CSCN?. Thời kỳ quá độ bắt đầu khi GCCN giành được chính quyền và sử
dụng chính quyền ấy trong việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, và kết thúc
thời kỳ quá độ khi những tiền đề của CNXH ra đời, chấm dứt sự tồn tại của CNTB.
Khi phân tích về HTKT CSCN, theo các ông, HTKT CSCN phát triển từ thấp đến
cao, từ giai đoạn XHCN lên giai đoạn CSCN. Trong CNXH, chế độ kinh tế và sự
phát triển văn hóa đạt trình độ “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”, còn
trong giai đoạn cao - CNCS con người không còn lệ thuộc một cách thụ động,
cứng nhắc vào sự phân công lao động, sự phát triển mạnh mẽ của LLSX tạo ra một
năng xuất lao động ngày càng cao, nguồn của cải tuôn da dồi dào, sự bất bình đẳng
xã hội, sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao đông
chân tay không còn, xã hội thực hiện theo nguyên tắc: “làm theo năng lực, hưởng
theo nhu cầu”. Nhưng để tiến lến xã hội đó giữa xã hội TBCN và xã hội XHCN
cần một thời kỳ quá độ từ xã hội nọ sang xã hội kia, xã hội của thời kỳ quá độ là xã
hội vừa thoát thai từ xã hội TBCN, do đó là một xã hội mà mọi phương diện kinh
tế, xã hội, đạo đức, tinh thần…còn mang dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng
ra, đó là xã hội chưa phát triển trên cơ sở của chính nó, cho nên nó nằm trong thời
kỳ đầu trong giai đoạn CSCN
Mác và Ăngghen không chỉ nói tính tất yếu của sự xuất hiện và phát triển
CNXH ở các nước TBCN tiên tiến ở châu Âu - nơi đã có đại công nghiệp phát
triển cao và đã sản sing ra giai cấp vô sản hùng mạnh mà các ông còn bàn tới khả
năng tiến lên CNXH ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, hoặc mới chỉ bắt đầu
hình thành các quan hệ TBCN hoặc còn tồn tại các kết cấu kinh tế - xã hội kiêu
công xã nông thôn ở phương đông, đặc biệt là nước Nga
Trong lời tựa xuất bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, bản tiếng nga - đây
là lời tựa lần cuối cùng của Mác viết, cả Mác và Ănghen đều tiếp tục nhấn mạnh
rằng: “Bây giờ thử hỏi công xã nông thôn nga, cái hình thức đã bị phân giải ấy
của chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy, có thể chuyển thẳng lên hình thức
cao, chủ nghĩa cộng sản về sở hữu ruộng đất không, hay là trước hết, nó cũng trải
qua quá trình tan rã như nó đã trải qua trong tiến trình phát triển lịch sử ở

chức độc quyền, đây là đặc điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa đế quốc đã làm cho
mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của LLSX và hình thức chiếm
hữu tư nhân TBCN ngày càng gay gắt, vì vậy chu kỳ khủng hoảng kinh tế ngày
càng ngắn lại và tính chất ngày càng trầm trọng hơn. Thế giới tư bản đã bước vào
ngưỡng cửa của tổng khủng hoảng, đi liền với khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng
xã hội: nạn thất nghiệp, sự bất công, bất bình đẳng xã hội ngày càng diễn ra trầm
trọng, sự áp bức của nhà nước với nhân dân ngày càng tàn khốc, làm cho đời sống
nhân dân khốn khổ và đẩy mâu thuẫn lên đỉnh điểm.
Không thỏa mãn với sự thống trị trong nước, tư bản tài chính còn tham vọng
xâm chiếm, thống trị các dân tộc, các quốc gia khác, biểu hiện đầu tiên dưới hình
thức “xuất khẩu tư bản”, nhưng thực chất là cuộc đấu tranh giành giật thị trường
của CNTB, tình thế ấy càng làm cho mâu thuẫn trong long CNTB tăng lên, mâu
thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, giữa tư bản độc quyền và không độc quyền,
giữa nông dân các nước bị nô dịch với chủ nghĩa đế quốc… tình hình ấy đặt ra yêu
cầu liên minh GCCN và nhân dân lao động ở chính quốc và các nước thuộc địa
tron cuộc đấu tranh chống CNTB, vì vậy trên thế giới đã nổ ra các cuộc cách mạng
như: Phong trào cách mạng ở Đức, Pháp, Mỹ, Áo,…ở phương Đông có cuộc cách
mạng Tân Hợi 1911, phong trào đấu tranh đòi tự do, độc lập ở các quốc gia Ấn Độ,
In-đô-nê-xi-a, Việt Nam…
Mâu thuẫn của CNTB gay gắt làm bủng nổ chiến tranh thế giới thứ nhất, từ
đo mâu thuẫn thuộc địa và tư bản chính quốc ngày càng gay gắt, vấn đề giải phóng
dân tộc các dân tộc thuộc địa trở thành vấn đề cấp bách và quan trọng lúc này,
trước tình hình ấy đặt ra yêu cầu với GCCN và các đảng Mác xít tiến hành cách
mạng lật đổ ách thống trị của GCTS và tiến hành cải tạo xã hội ấy thành xã hội tiến
bộ hơn, cũng trong lúc này một số thủ lĩnh chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xét lại
trong quốc tế II tìm cách chống phá cách mạng, phản bác lại lý luận chủ nghĩa
Mác, họ ra sức bảo vệ lý luận phát triển hòa bình chủ nghĩa tư bản lên CNXH – tức
bỏ qua con đường cách mạng của giai cấp vô sản, một yêu cầu đặt ra là phải bảo vệ
chủ nghĩa Mác, chống lại chủ nghĩa cơ hội, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác nói
chung và lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng

CNXH khoa học, đưa ra và trang bị cho phong trào công nhân những kết luận mới,
giúp quần chúng nhận thức đúng và rõ những việc họ sẽ phải làm trong cuộc cách
mạng sắp xảy ra để tự giải phóng mình khỏi ách tư bản, và V.I.Lênin, vị lãnh tụ vĩ
đại của giai cấp vô sản Nga và thế giới, của tất cả mọi người lao động đã bảo vệ và
phát triển hơn nữa lý luận chủ nghĩa Mác, làm cho nó thích ứng với nhu cầu mới
của phong trào công nhân trong giai đoạn mới.
1.2.2 Vai trò của V.I.Lênin với vấn đề chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ
Sau khi Mác và Ăngghen mất Lênin là người kế tục trực tiếp sự nghiệp của
các ông và đã có những phát triển lý luận mới từ những dự báo mà các ông đã nêu
ra. Đó là vào cuối thế kỷ XI đầu thế kỷ XX, khi phong trào cách mạng đã chuyển
sang phương Đông mà nước Nga là trung tâm sôi động nhất. Lúc này CNTB tự do
cạnh tranh đã chuyển sang CNTB độc quyền đã xuất hiện rõ nét tình thế phát triển
không đồng đều giữa các nước TBCN và nước Nga trở thành một mắt xích xung
yếu nhất. V.I.Lênin dự báo rằng, cách mạng vô sản có thể thắng lợi ở một số nước
TBCN thậm chí ở một nước.
Qua một số tác phẩm của mình V.I.Lênin đã cho thấy nhưng quan điểm của
mình về sự bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác về học thuyết hình thái kinh tế - xã
hội cộng sản, cũng như lý luận CNXH và thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH, sự
phát triển ấy có thể thấy được qua ba tác phẩm quan trọng của V.I.Lênin : “Nhà
nước và cách mạng”, “kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” và
tác phẩm “bàn về thuế lương thực”, những tác phẩm này đã luận chứng một cách
rõ ràng những luận điểm của Lênin về phân kỳ hình thái kinh tế xã hội cộng sản
chủ nghĩa bao gồm hai giai đoạn, giai đoạn thấp – xã hôi chủ nghĩa và giai đoạn
cao – cộng sản chu nghĩa, và để tiến lên CNXH nhất thiết phải trải qua một thời kỳ
quá độ để tạo ra những tiền đề về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa-tư tưởng…đi
lên CNXH.
V.I.Lênin cũng hết sức chú ý đến con dường phát triển không qua TBCN,
vào thời điểm sát nút của CMT10, năm 1916, Lênin đã nói tới các nước chậm phát
triển có thể đi lên CNXH, sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười, khi giai cấp
công nhân Nga đã có chính quyền của mình và nước Nga Xô Viết đã ra đời, khi

XÃ HỘI VÀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ MỚI
2.1 Những đặc trưng cơ bản về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ
Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn thấp của hình thái kinh – tế xã hội cộng sản
chủ nghĩa. Nó có sự khác nhau về chất và nguyên tắc xây dựng so với chủ nghĩa tư
bản.
Dựa vào cơ sở lý luận khoa học của các nhà lý luận kinh điển của chủ nghĩa
Mac – lênin và thực tiển xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta có thể nêu ra những
đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội như sau:
-Đặc trưng thứ nhất: cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền
sản xuất công nghiệp hiện đại. Chỉ có nền sản xuất công nghiệp hiện đại mới đưa
năng xuất lao động lên cao, tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội, đảm
bảo đáp ứng những nhu cầu vật chất và văn hóa của nhân dân, không ngừng nâng
cao phúc lợi xã hội cho toàn dân. Nền công nghiệp hiện đại đó được phát triển dựa
trên lực lượng sản xuất đã phát triển cao.ở những nước thực hiện sự quá độ “bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội”, trong đó có Việt Nam thì đương
nhiên phải có quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để từng bước xây dựng cơ sở
vật chât kỹ thuật hiện đại cho chủ nghĩa xã hội.
-Đặc trưng thứ hai: chủ nghĩa xã hội đã xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ
nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Thủ tiêu chế độ tư hữu
là cách nói vắn tắt nhất, tổng quát nhất về thực chất của công cuộc cải tạo xã hội
theo lập trường của gccn.tuy nhiên ko phai xóa bỏ chế độ tư hưu nói chung mà là
xóa bỏ chế độ TBCN. V.I.Lênin viết “tư liệu sản xuất không còn là của riêng cá
nhân nữa, mà thuộc toàn thể xã hội. mỗi thành viên trong xã hội, khi đã hoàn
thành một phần nào đó của lao động xã hội- tất yếu, thì được xã hội cấp cho một
giấy chứng nhận số lượng lao động của mình đã làm” [11,Tr.113]
CNXH được hình thành dựa trên cơ sở từng bước thiêt lập chế độ sở hữu
XHCN về tư liệu sản xuất, bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Chế độ này
được củng cố, hoàn thiện, bảo đảm thích ứng với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất. mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, xóa bỏ dần

được sự công bằng và bình đẳng xã hội.
Những đặc trung trên phản ánh bản chất của CNXH nói lên tính ưu việt của CNXH
và do đó CNXH là một xã hội tốt đẹp lý tưởng ước mơ của toàn thể nhân loại.
những đặc trưng đó có mối quan hệ mật thiết với nhau. Do đó trong quá trình xây
dựng CNXH cần phải quan tâm tất cả các đặc trưng này
2.2 V.I.Lênin bảo vệ và phát triển lý luận thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
2.2.1 V.I.Lênin bảo vệ lý luận thời kỳ quá độ
Kế thừa một cách sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác về lý luận phân kỳ
hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên CNXH, đặc biệt trong
tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, sau khi đưa ra những dẫn chứng của C.Mác
về hai giai đoạn của hinh thái kinh tế công sản chủ nghĩa và khẳng định sự đúng
đắn trong các quan điểm đó, V.I.Lênin đã phân tích một cách cụ thể rõ ràng và đua
ra quan điểm của mình về hình thái kinh tế xã hội CSCN trong điều kiện, hoàn
cảnh mới.
Trước hết V.I.Lênin cho thấy những căn cứ xuất phát nào để C.Mác nghiên
cứu sự phát triển và dự đoán các giai đoạn phát triển của CNCS tương lai. Về mặt
hiện thực: “xuất phát từ chỗ là chủ nghĩa cộng sản hình thành từ chủ nghĩa tư
bản, là kết quả của sự tác động cảu một lực lượng xã hội do chủ nghĩa tư bản sản
sinh ra” [11,Tr.104], nghĩa là dự đoán xã hội công sản (nhất là giai đoạn đầu – giai
đoạn tiếp giáp ngay sau TBCN) như thế nào, sẽ không thể không tính đến xã hội tư
bản và sẽ còn lại những gì và sẽ không còn lại những gì trong tương lai.
Sau nữa, C.Mác “chỉ có dựa vào những căn cứ khoa học đã được xác định
chắc chắn” để nghiên cứu về xã hội cộng sản tương lai. Thời kỳ ấy đã có không ít
những thành tựu khoa học để C.Mác kế thừa trong nghiên cứu của mình.
V.I.Lênin làm rõ một số ý trong tác phẩm phê phán cương lĩnh gôta của
C.Mác về phân kỳ mà người đọc dễ nhầm lẫn. Trong phê phán cương lĩnh Gôta
C.Mác đặt câu hỏi “chế độ nhà nước sẽ biến đổi như thế nào trong xã hội cộng sản
chủ nghĩa?”. Có người đọc quan niệm rằng, như vậy là trong hình thái kinh tế - xã
hội cộng sản chủ nghĩa nói chung vẫn còn nhà nước. Còn V.I.Lênin chỉ rõ:
“Nhưng quan niệm như vậy là sai lầm về căn bản. Nghiên cứu kỹ hơn thì thấy ý

CNTB, tức là sự quá độ từ xã hội tiền TBCN lên CNXH. Kế thừa những tư tưởng
của Mác – Ăngghen trước đó, khi các ông đều đưa ra việc dự báo của CNXH
không thông qua CNTB, tới V.I.Lênin trước điều kiện lịch sử mới khi CNTB tiến
lên chủ nghĩa đế quốc, cuộc đấu tranh của các nước thuộc địa phụ thuộc chống chủ
nghĩa đế quốc diễn ra mạnh mẽ, V.I.Lênin có điều kiện phát triển cụ thể và chi tiết
hơn nữa lý luận về con đương phát triển không thông qua CNTB, trước hết ông
phê phán những kẻ nói đến CNXH nhưng lại không biết nhìn thẳng vào sự thật
hoặc chỉ hạn chế ở chỗ đem CNTB độc lập một cách trừu tượng với CNXH, chứ
không nghiên cứu những hình thức cụ thể về thực chất của bước quá độ, không tự
hỏi rằng bước quá độ ấy xuất phát từ đâu, đi đến đâu.
Khi phân tích hai giai đoạn phát triển của CNCS, V.I.Lênin đề cập đến vấn
đề các nhà tư tưởng tư sản cho rằng: chế độ xã hội như vậy là ảo tưởng và chế giễu
việc muốn lấy của cải xã hội bao nhiêu cũng được mà không cần kiểm tra lao động
gì cả. V.I.Lênin phê phán rằng đó là những người ngu dốt. ngu dốt vì không một
người CNXH nào lại đi hứa rằng giai đoạn cao của CNCS sẽ đến, còm dự kiến nó
sẽ đến thì việc đó phải giả định rằng năng xuất lao động lúc đó sẽ khác ngày nay,
và sẽ không còn con người tầm thường ngày nay nữa. còn thời điểm ngày nay mà
cứ lấy vấn đề đó ra làm trung tâm, chỉ chú trụng đến vấn đề đó thật buồn cười, sự
phân biệt ấy là phân biệt một cách khoa học, về mặt khoa học thì cần phải có sự
phân biệt rạch ròi như vậy. V.I.Lênin nhấn mạnh cái vĩ đại của C.Mác là áp dụng
triệt để phép biện chứng duy vật, học thuyết về sự phát triển, từ đó xem CNCS là
một cái gì phát triển từ CNTB mà ra chứ không phải do sự ảo tưởng của đầu óc.
2.2.2 Sự phát triển lý luận thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội của V.I.Lênin
-Tính tất yếu của thời kỳ quá độ
Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng của chủ nghĩa Mác về lý luận thời kỳ quá
độ trong điều kiện lịch sử đã chín muồi khi mà cách mạng tháng Mười đã thành
công, cuộc cách mạng đã mở ra kỷ nguyên mới của thời đại, kỷ nguyên quá độ từ
CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, cùng với việc nhà nước Liên Xô
được thành lập – nhà nước đầu tiên của GCVS, Lênin đã có điều kiện để phát triển

kinh tế, xã hội để chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản ra đời. như vậy cần có một
thời gian cần thiết, tất yếu để các yếu tố của CNCS hình thành, phát triển và hoàn
thiện, thời gian đó chính là thời kỳ quá độ.
Từ cơ sở lý luận này V.I.Lênin cho rằng : “Thời kỳ quá độ không thể bao
gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế và xã hội
ấy”[12,Tr.309]. Đó là thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghia tư bản tuy khong phải là xu
thế vận động đi lên của lịch sử, nhưng vẫn còn tiềm lực và chủ nghĩa cộng sản tiêu
biểu cho xu thế lịch sử nhưng còn non yếu.
Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản phải có một thời kỳ chuyển biến
cách mạng để CNCS có thể sinh thành và phát triển. như vậy xét về mặt lý luận,
thời kỳ quá độ diễn ra là một quá trình tất yếu trong lịch sử.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status