LUẬN VĂN:Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Xây dựng nước ta thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại
Phần I: Lời mở đầu

Từ Đại hội Đảng lần thứ III đến nay, Đảng ta luôn luôn xác định CNH là nhiệm vụ

Muốn cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nước từng bước
tiến lên CNXH, đi đối với việc củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiên tiến, chúng ta
nhất thiết phải phát triển lực lượng sản xuất với năng suất lao động ngày càng cao. Mà
muốn có lực lượng sản xuất hùng hậu và năng suất lao động xã hội cao thì không thể chỉ
dựa vào nền nông nghiệp lạc hậu, sử dụng lao động thủ công; trái lại phải phát triển mạnh
công nghiệp cùng với đổi mới công nghệ ngày càng hiện đại tạo nền tảng cho sự phát
triển nhanh, hiệu quả cao và bền vững cho toàn bộ nền KTQD. Nói cách khác chúng ta
phải tiến hành CNH theo hướng HĐH. CNH là một giai đoạn phát triển tất yếu đối với
các quốc gia muốn tiến lên từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Đây là xu thế chung
của lịch sử.
Đối với nước ta CNH-HĐH nền kinh tế là một đòi hỏi tất yếu của việc phát triển mô
hình kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Quan điểm này khẳng định CNH-HĐH
là vấn đề quan trọng đặc biệt, là bước phát triển tất yếu đối với nước ta, nhất là trong điều
kiện hiện nay khi nền kinh tế vẫn mang nặng tính chất nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp
còn nhỏ bé, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa
xây dựng được bao nhiêu, kinh tế tuy có phát triển khá nhưng năng suất, chất lượng và
hiệu quả còn rất thấp, còn nhiều yếu tố chưa vững chắc, khả năng cạnh tranh còn quá
thấp so với nhiều nước xung quanh. Thực tế này cho thấy nguy cơ tụt hậu xa hơn vẫn còn
rất lớn, cho nên chỉ có CNH-HĐH mới là con đường cơ bản khắc phục được những yếu
kém của nền kinh tế nước ta, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ được độc lập chủ quyền,
sớm thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, đảm bảo định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mặt khác, thực tiễn đổi mới kinh tế ở Việt Nam đã chỉ rõ sự nghiệp đổi mới là sự
nghiệp của quần chúng, CNH-HĐH cũng là sự nghiệp của toàn dân, vì lợi ích của nhân
dân và do dân thực hiện. Quần chúng nhân dân khi nhận thức đầy đủ lợi ích của CNH-
HĐH họ sẽ phấn đấu vươn lên học tập để nâng cao trình độ văn hóa, kỷ luật, tay nghề để
làm chủ được công nghiệp hoá, hiện đại hóa, họ sẽ là người đóng góp sức lao động, tài
năng, sáng tạo, tiền vốn, tài sản của mình cho sự nghiệp CNH-HĐH.


quốc tế. Việc kết hợp công nghệ với nhiều trình độ khác nhau trở thành một tất yếu khách
quan.
Quan niệm một cách đơn giản theo kiểu "cũ người mới ta", "cái không tiên tiến của
nước khác này là cái hiện đại của mình" trong lựa chọn công nghiệp nhập sự thiếu hiểu
biết và thiếu thông tin đã dẫn đến các nước đang phát triển đến lựa chọn thiết bị lạc hậu
hoặc thiết bị lạc hậu hoặc thiết bị cũ đã được tân trang lại. Cái giá phải trả quá đắt, tốc độ
hiện đại hóa không được đẩy nhanh.
b) Quá trình CNH-HĐH không chỉ phát triển công nghiệp: mà là quá trình bao trùm
tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nước. Đó là lẽ tất yếu vì nền kinh tế của
mỗi nước là một hệ thống thông nhất, các ngành, các lĩnh vực hoạt động có quan hệ
tương đối với nhau. Sự thay đổi ở các ngành kinh tế, lĩnh vực hoạt động này sẽ kéo theo
hoặc sẽ đòi hỏi sự thay đổi thích ứng ở các ngành, các lĩnh vực hoạt động khác. Bởi vậy
quá trình CNH-HĐH, cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và
cơ cấu các ngành kinh tế. Trong sự chuyển dịch cơ cấu của quá trình CNH-HĐH vị trí
của các ngành sẽ được thay đổi và các ngành có quan hệ ràng buộc với nhau:
Sự chuyển dịch cơ cấu, kinh tế ở các nước đang phát triển trong quá trình CNH-
HĐH nói chung diễn ra theo xu hướng sau đây:
- Nông nghiệp, trong giai đoạn đầu giữ vị trí hàng đầu, là hoạt động kinh tế cơ bản
của dân cư, tạo ra những hàng hoá tiêu dùng thiết yếu cho dân cư và bảo đảm một số điều
kiện quan trọng cho phát triển công nghiệp. Đến trình độ phát triển nhất định, khi những
nhu cầu cơ bản về lương thực, thực phẩm đã được bảo đảm, nông nghiệp sẽ chuyển vị trí
xuống hàng thứ yếu. Tỷ trong lao động nông nghiệp trong lao động xã hội và giá trị sản
phẩm nông nghiệp trong tổng giá trị sản lượng sẽ giảm dần. Cũng cần nói thêm rằng, trên
thế giới gần như không có nước nào làm giàu bằng nông nghiệp thuần túy.
Công nghiệp trong nhận thức luôn được coi là ngành quan trọng nhưng trong mỗi
giai đoạn đầu của CNH-HĐH, cả nước đang phát triển chỉ có lực lượng công nghiệp nhỏ
bé sản xuất hàng tiêu dùng đơn giản và khai thác các sản phẩm thô từ tài nguyên thiên
nhiên. Trong quá trình CNH-HĐH công nghiệp luôn được giành ưu tiên phát triển. Tuy
CNH-HĐH không đồng nhất với phát triển công nghiệp, nhưng không thể CNH-HĐH

thuật - xã hội, quá trình CNH-HĐH sẽ kết thúc.
Để đánh dấu điểm mốc này cần có những tiêu chuẩn cụ thể nhận định, tiêu chuẩn
này không phải chỉ là sự so sánh trình độ đạt được với trình độ của đất nước trong quá
khứ, mà còn phải so sánh với các nước khác theo những chuẩn mực chung (chẳng hạn
mức tổng sản phẩm trong nước tính bình quân đầu người, tỷ trọng nông nghiệp trong
tổng sản phẩm trong nướ; mức này lượng tiêu chuẩn tiêu dùng tính theo đầu người; lượng
calo tiêu thụ bình quân đầu người )
d) Quá trình CNH-HĐH cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh tế quốc
tế. Trong điều kiện ngày nay, mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế đời sống
trở thành xu thế phát triển ngày càng mạnh mẽ. Mỗi nước trở thành một bộ phận của hệ
thống kinh tế thế giới, có tác động tương hỗ ở mức độ khác nhau với kinh tế của các
nước, khác nhau và chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế - xã hội chung của thế giới. ở
mỗi nước, việc xác định mục tiêu, phương thức CNH-HĐH cần phải phân tích, dự đoán
được những biến động kinh tế - xã hội chung của thế giới đặc biệt là của các nước trong
khu vực. Cần phải đặt sự phát triển kinh tế của đất nước trong việc xây dựng hệ thống
kinh tế mở, tăng cường quan hệ thương mại quốc tế tham gia vào quá trình cạnh tranh và
liên kết kinh tế quốc dân.
Về nguyên tắc, việc thực hiện CNH-HĐH phải dựa vào các nguồn lực trong nước là
chủ yếu. Việc xây dựng kinh tế mở, thực hiện phương châm "tự lực cánh sinh", phải tiến
hành trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của đất nước để tham gia tích cực vào quan hệ
kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh này, việc tranh thủ sự trợ giúp về tài chính, kỹ thuật, kinh
nghiệm quản lý từ bên ngoài phải được coi là một điều kiện đặc biệt quan trọng nhất là
trong giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH. Thực tiễn cho thấy hàng trăm nước lạc hậu
có thể kế thừa những kinh nghiệm đồ sộ và sự trợ giúp bên ngoài của các nước phát triển,
nhưng những thành công lại quá ít ỏi. Bối cảnh quốc tế và thực trạng trong nước cụ thể
rất khác nhau, sự sao chép máy móc kinh nghiệm các nước khác nhau chưa bao giờ đem
lại tấm gương thành công nào cả. Vả lại, mọi sự giúp đỡ đề có giá theo tinh thần có đi có

hiện đại như vậy mới có thể làm thay đổi căn bản đời sống vật chất và tinh thần của xã
hội, đẩy mạnh tốc độ, tăng năng suất lao động và thỏa mãn ngày càng đa dạng các nhu
cầu của nhân dân.
B- Nội dung của đề tài:
I/ Những khó khăn và thuận lợi khi nước ta tiến hành CNH-HĐH.
Có thể chia quá trình CNH ở nước ta trong hơn 30 năm qua thành 2 giai đoạn lớn:
1960 - 1986 và 1986 đến nay:
1. Giai đoạn 1960-1986:
Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là thực hiện một chiến lược nhất quán được xác
định từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) và có điều chỉnh, bổ sung chút ít
trong các Đại hội IV (12/1976); V (1981) và các hội nghị Trung ương. Đại hội Đảng lần
thứ III chỉ rõ: "Muốn cải tiến tình trạng nông nghiệp lạc hậu hiện nay của nước ta, đưa
nước ta chế độ sản xuất nhỏ là chủ yếu lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, chúng ta không
có con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hóa XHCN. Vì vậy CNH XHCN là
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ ở nước ta"
(1)
và "chủ trương của Đảng và công
nghiệp hóa XHCN ở miền Bắc là: "Xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại,
kết hợp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp năng một cách hợp lý, đồng
thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ nhằm biến nước ta từ một nước
nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại"
(2).
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi (1961-1964) CNH ở miền Bắc đã được tiến hành
với nhịp điệu khẩn trương trong điều kiện hòa bình và thu được kết quả đáng ghi nhận.
Năm 1965 so với 1955 vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong công nghiệp tăng 6 lần: Giá trị
tổng sản lượng công nghiệp tăng 9,2 lần, trong khi đó đầu tư cơ bản cho nông nghiệp chỉ

tỷ trọng.
Dù trong hòan cảnh phải đánh trả hai lần chiến tranh phá hoại ác liệt, phải tập trung
sức người, sức của cho giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, miền Bắc vẫn tiếp tục
phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục công nghiệp hóa và đã đạt được thành tựu: "Cơ sở vật
chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dựng một bước. Đã có những cơ sở đầu
tiên của công nghiệp nặng. Năng lực các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng đều
tăng so với trước chiến tranh".
Nếu trong thời kỳ 1961-1965 tốc độ tăng bình quân hàng năm của tài sản cố định là
15,5% thì trong suốt thời kỳ chiến tranh phá hoại (1966-1970) tốc độ vẫn là 12,2%. Tài
sản cố địnhh 1975 so với năm 1960: trong công nghiệp tăng 4,5 lần, trong nông nghiệp
tăng 6,0 lần.
Đến năm 1975 cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch quan trọng, tỷ trọng công nghiệp
trong thu nhập quốc dân được nâng lên 16% (1957); 18,2% (1960); 22,2% (1965); 26,6%
(1971); 24% (1974); 28,7% (1975).
Cơ cấu công nghiệp đã có sự phát triển và chuyển dịch. Những cơ sở đầu tiên của
các ngành công nghiệp nặng quan trọng đã được xây dựng và phát triển như: điện, than,
cơ khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng tốc độ phát triển của các ngành thuộc
công nghiệp nhóm A nhanh hơn tốc độ phát triển chung của toàn ngành công nghiệp.
Năm 1975 so với năm 1955 giá trị sản lượng ngành điện lực 22,3 lần, của ngành cơ khí
gấp 59,8 lần và ngành hóa chất gấp 79,1 lần. Trên miền Bắc đã hình thành nhiều khu
công nghiệp tập trung: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Bắc, Việt Trì, Thái Nguyên,
Nam Định, Thanh Hóa, Vinh
Đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và công nhân kỹ thuật tăng khá nhanh, là vốn
quý, là yếu tố quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa ở thời kỳ này và các thời kỳ sau.
Năm 1975 so với năm 1955, số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học tăng hơn 120
lần, cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp gấp hơn 84 lần: công nhân kỹ thuật năm
1975 tăng gấp 6 lần năm 1960. Tỷ lệ cán bộ khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ trong tổng số

nghiệp lên sản xuất lớn XHCN, ra sức đẩy mạnh hàng tiêu dùng, tiếp tục xây dựng một
số ngành công nghiệp nặng quan trọng"
(1)
. Sự điều chỉnh, thay đổi bước đầu trong nhận
thức và chủ trương đã có tác động nhất định đến phát triển kinh tế - xã hội và công
nghiệp hóa. Bình quân hàng năm thời kỳ 1981-1985 sản xuất công nghiệp tăng 9,5%; sản
xuất nông nghiệp tăng 5,3%; cơ cấu công nghiệp trong thu nhập quốc dân sản xuất vẫn
được tăng từ 20,2% (1980) lên 30% (1985).
2. Giai đoạn từ 1986 đến nay:
Đây là giai đoạn có sự đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về nhận thức, quan điểm và
về tổ chức chỉ đạo thực hiện. Đại hội lần thứ VI đã xác định rõ những quan điểm, chủ
trương, phương hướng đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta trong chặng đường đầu tiên của
thời kỳ quá độ lên CNCH. Đại hội chỉ rõ: "Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho
đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo"
(1)
và "trước mắt là trong
kế hoạch 5 năm 1986-1990 phải thật sự tập trung sức người, sức của vào thực hiện cho
được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu "
(2)
. Thực hiện 3 chương trình mục tiêu thực chất đó cũng là chuyển hướng chiến

(1)
Văn kiện Đại hội V của Đảng
(1)

(2)
Văn kiện Đại hội VI của Đảng
A chiếm 33,8% (thời kỳ 1976 - 1980): 33,5% (thời kỳ 1981-1985) và 32,9% (1990).
Tương ứng với các thời kỳ đó, công nghiệp nhóm B chiếm tỷ trọng: 66,5% và 67,1%.
Công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển khá, lực lượng sản xuất bước đầu được
giải phóng. Khu vực công nghiệp quốc doanh sau thời gian phải đương đầu với các thử
thách quyết liệt khi chuyển sang cơ chế mới tưởng chứng không vượt qua nổi (năm 1989
giảm 2,5% so với 1988) nhưng đến năm 1990 công nghiệp quốc doanh đã thích nghi dần
với cơ chế mới một số ngành, một số cơ sở chủ yếu là quốc doanh trung ương đã khôi
phục đưọc sản xuất và tiếp tục phát triển. Nếu năm 1976 công nghiệp quốc doanh chiếm
58,6%; giá trị tổng sản lượng công nghiệp cả nước thì năm 1989 chiếm 57,0%, còn công
nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 31,4% (1976); 43% (1989).
Tiếp tục những quan điểm, chủ trương, chính sách đổi mới, đại hội Đảng lần thứ
VII (6/1991) đã xác định rõ mục tiêu, phương hướng nội dung của phát triển kinh tế - xã
hội và của công nghiệp hóa. Đại hội đã chỉ rõ: "Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước
mạnh theo con đường XHCN, điều quan trọng nhất là phải cải tiến căn bản tình trạng
kinh tế - xã hội kém phát triển phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước
theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ
trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH. Không ngừng
nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân"
(1)
"Mục tiêu tổng quát
của chiến lược đến năm 2000 là: ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội,
phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống nhân dân,
củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh vào đầu thế
kỷ 21"
(2)

Đại hội VII cũng xác định mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm (1991-1995) là:

Trong những năm đầu của quá trình đổi mới của CNH đã mang sắc thái mới, đã có
sự điều chỉnh mục tiêu, nội dung và bước đầu đồng bộ hóa, cụ thể hóa bằng cơ chế và
chính sách. Do vậy CNH đã được tiến hành phù hợp hơn với hoàn cảnh quốc tế và điều
kiện, khả năng trong nước, các tiềm tàng, nguồn lực của đất nước bước đầu được khơi
dậy, kinh tế phát triển thực chất hơn.
- Tạo ra nguồn lao động và đội ngũ lao động dồi dào có trình độ dân trí được nâng
cao, tỷ trọng lao động có trình độ nghề nghiệp, kỹ thuật ngày càng cao.
Có đạt được những thành tích và kết quả đó vào bối cảnh cụ thể của đất nước: Điểm
xuất phát ban đầu thấp, chiến tranh kéo dài nhiều năm và để lại hậu quả nặng nề, diễn
biến tình hình quốc tế phức tạp, có đột biến và bất lợi mới thấy hết những thành tựu của
CNH mà chúng ta đã đạt được là to lớn và có ý nghĩa. Tuy nhiên Quá trình CNH XHCN
ở nước ta hơn 30 năm qua còn nhiều tồn tại, nhược điểm. Những tồn tại chủ yếu là:
- Quá trình CNH diễn ra quá chậm
- Phân công lao động xã hội phát triển chậm chạp. Cơ cấu kinh tế thiếu năng động,
hiệu quả thấp, chứa đựng nhiều bất hợp lý, nhiều mặt mất cân đối nghiêm trọng. Chưa kết
hợp tốt cơ cấu ngành với cơ cấu thành phần và cơ cấu thành phần và cơ cấu lãnh thổ
trong một trạng thái đồng bộ năng động có hiệu quả để thực hiện tốt nhất mục tiêu chung
của phát triển kinh tế - xã hội.
- Trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ thấp kém, mất cân đối, đổi mới chậm.
- Sự nghiệp CNH phải đương đầu với nhiều khó khăn do sai lầm trước đây để lại và
do thách thức mới đưa tới. Đó là: tỷ lệ thất nghiệp còn cao, đời sống thấp, tỷ lệ tích lũy
và đầu tư thấp, sản xuất kinh doanh đang gặp khó hăn về vốn và thị trường.
II/ Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu và giải quyết để thực hiện CNH-HĐH.
1. Phát triển thị trường của công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân.
Thị trường của CNH-HĐH là điều kiện đầu tiên của CNH-HĐH. Thị trường của
CNH-HĐH trước hế là thị trường đầu ra, thị trường đầu ra giúp chúng ta xác định được
nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế cần sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, chất

trong nước. Phát triển các tổ chức làm dịch vụ thăm dò, nghiên cứu, dự báo, giới thiệu thị
trường bạn hàng. Tìm hiểu và chuẩn bị điều kiện để tham gia ngày càng nhiều vào các
hội, các tổ chức kinh tế, thương mại thế giới và khu vực khi xét thấy cần thiết và có khả
năng.
d) Ra sức mở rộng thị trường trong nước để phát triển. Đồng thời với việc mở rộng
thị trường ngoài nước theo hướng xây dựng nền kinh tế mở, hướng mạnh về xuất khẩu,
chúng ta phải phát triển thị trường trong nước, thị trường của hơn 70 triệu dân, trong đó
hơn 80% là dân cư nông nghiệp. Phải đảm bảo cho hàng hoá, dịch vụ trong nước đạt chất
lượng cao, giá thành hạ và mẫu mã phù hợp để cạnh tranh thắng lợi với hàng ngoại nhập
vào Việt Nam. Hàng hoá, dịch vụ trong nước phải đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống
cả ở thành thị và nông thôn. Phải phát triển sản xuất, bảo đảm công ăn việc làm, tăng sức
mua của xã hội, của nhân dân.
e) Chấn chỉnh lưu thông, hàng hoá, phát triển các điểm và trung tâm thương mại.
Một mặt, chúng ta cần có biện pháp chấn chỉnh lưu thông hàng hoá giữa thành tị và nông
thôn, giữa công nghệ phẩm và nông sản phẩm, bảo đảm cho thị trường thống nhất trong
cả nước và phát triển thị trường từng vùng, từng địa phương cho phù hợp với cung cầu về
hàng hoá, dịch vụ của từng địa phương, mặt khác phải phát triển các điểm và trung tâm
thương mại phù hợp với yêu cầu phát triển thị trường trong nước ở các thành phố, khu
công nghiệp tập trung và quá trình đô thị hóa ở nông thôn, trung du, miền núi, vùng biên
giới, vùng ven biển. Tổ chức một số siêu thị ở các thành phố lớn.
g) Đẩy mạnh xuất nhập khẩu phải đi đôi với bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, bảo
đảm cho sản xuất trong nước phát triển có hiệu quả. Nhưng cần nhấn mạnh rằng việc bảo
hộ phải có mức độ, có thời hạn đối với những ngành, lĩnh vực thật cần thiết trên cơ sở
tính toán đầy đủ lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng, tính đến các thông lệ
quốc tế, qui định thương mại quốc tế và khu vực. Thúc đẩy các cơ sở sản xuất vươn lên
cạnh tranh thắng lợi trên thị trường. Nhà nước cần xác định và công bố rõ chính sách bảo
hộ đối với từng mặt hàng cụ thể trong từng thời gian cụ thể tùy theo nhu cầu thúc đẩy sản

b) Phát triển nguồn nhân lực và nhân tài đủ về số lượng, đạt chất lượng cao, đồng
bộ và ngành nghề và trình độ. Để đáp ứng được yêu cầu này cần phải giải quyết tốt các
vấn đề sau đây:
- Phát triển việc đào tạo mới, có chất lượng cao đội ngũ công nhân, đặc biệt là công
nhân lành nghề, công nhân bậc cao theo yêu cầu CNH-HĐH. Đào tạo lại, nâng cao trình
độ văn hóa, kỹ thuật cho đội ngũ công nhân hiện có.
Phát triển việc đào tạo mới, có chất lượng cao đội ngũ có trình độ trung học, cao
đẳng, đại học, trên đại học đáp ứng cho nền kinh tế quốc dân, cho các lĩnh vực, cho các
cấp, nâng cao trình độ cho cán bộ đội ngũ hiện có để CNH-HĐH.
c) Tổ chức lại hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục đại học và trung học chuyên
nghiệp theo yêu cầu CNH-HĐH.
- Tổ chức lại hệ thống giáo dục phổ thông của cả nước và từng địa phương theo yêu
cầu nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đảm bảo nguồn đầu vào có chất lượng, đào
tạo nguồn nhân lực cho các trình độ khác nhau.
- Tổ chức lại mạng lưới đào tạo nghề trong cả nước, từng ngành, từng địa phương
và cơ sở nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo công nhân, nhất là công nhân lành nghề, công
nhân bậc cao.
- Tổ chức lại hệ thống, mạng lưới các trường đại học và cao đẳng nhằm tập trung
nguồn lực để đào tạo có chất lượng cao ở bậc cao đảng, đại học và sau đại học.
d)Đầu tư thỏa đáng để phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nguồn đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực cần có là: Nhà nước đầu tư nguồn nhân lực
đúng mức cho việc phát triển giáo dục và đào tạo, đặc biệt là xây dựng đội ngũ giáo viên
có chất lượng, cơ sở vật chất cần thiết, các máy móc thiết bị, đồ dùng học tập, hệ thống
giáo khoa, giáo trình, tài liệu giảng dạy học tập, cấp học bổng cho học sinh thuộc diện
chính sách xã hội và học tốt.
- Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư của nước ngoài và các tổ chức
quốc tế để xây dựng đội ngũ giáo viên, xây dựng cơ sở vật chất, phát triển giáo khoa,

nghiệp CNH-HĐH cần giải quyết tốt các vấn đề cơ bản sau đây:
a) Tạo vốn, huy động và sử dụng có hiệu quả nhiều nguồn vốn cho nhu cầu CNH-
HĐH , bao gồm nguồn vốn trong nước và vốn nước ngoài. Trong suốt quá trình CNH-
HĐH thì nguồn vốn trong nước là chính. Nhưng trong giai đoạn đầu, nguồn vốn trong
nước rất hạn chế vì thu nhập quốc dân còn thấp, tích lũy nội bộ nền kinh tế còn nhỏ bé.
Do đó nguồn vốn nước ngoài có ý nghĩa rất quan trọng. Trong đó có những công trình mà
vốn nước ngòai có vai trò quyết định, bởi vì nó thúc đẩy việc khai thác các nguồn lực,
nguồn vốn trong nước và tạo thêm được nhiều công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho
người lao động.
- Nguồn vốn trong nước phải huy động bao gồm các tài nguyên nhân lực, tài sản và
vốn bằng tiền của Nhà nước và của nhân dân.
- Nguồn vốn ngoài nước bao gồm các khoản viện trợ chính thức (ODA), vốn đầu tư
trực tiếp (FDI), các loaị vốn vay và viện trợ khác.
- Phải tính toán các phương án đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả, bảo tòan và phát
triển được vốn, đặc biệt nguồn vốn đầu tư tập trung và vốn của khu vực doanh nghiệp
Nhà nước, xây dựng chế độ làm chủ trực tiếp, cụ thể đối với mọi tài sản công, chống thất
thoát, tham ô, hối lộ và lãng phí vốn của công.
b) Định hướng đúng đắn việc đầu và xây dựng môi trường, đầu tư thuận lợi theo
hướng chủ yếu là:
- Quy hoạch các địa bàn phát triển kinh tế trọng điểm, hình thành những cụm, khu
công nghiệp ở từng vùng, từng địa phương một cách hợp lý, xây dựng ở đó những cơ sở
hạ tầng cần thiết và quy chế hành chính kinh tế thích hợp nhằm thu hút vốn đầu tư trong
và ngoài nước cho phát triển sản xuất kinh doanh , theo mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh, đảm bảo an ninh quốc gia.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện môi trường vĩ mô ổn định, thuận lợi cho việc phát
triển đầu tư; Xây dựng chính sách, luật lệ, quy chế rõ ràng, nhất quán để mọi người yên
tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh theo quy hoạch của Nhà nước. Khắc phục nạn

- Qui định chặt chẽ về vay, trả nợ, kể cả vay trong dân và vay nước ngoài. Bảo đảm
sử dụng tiền vay có hiệu quả và trả được nợ. Nhà nước vay chủ yếu để đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, xây dựng một số công trình hết sức trọng yếu. Đối với các
doanh nghiệp áp dụng hình thức tự vay, tự trả có bảo lãnh của cơ quan tài chính ngân
hàng, Nhà nước dành một phần vốn vay cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế vay để đầu tư phát triển với lãi suất đủ trả nợ gốc và lãi cho nước ngoài, nhưng cần
làm có trọng điểm để rút kinh nghiệm.
4. Phát triển các thành phần kinh tế để đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH nền kinh tế
quốc dân.
Xuất phát từ quan điểm CNH-HĐH là sự nghiệp của quần chúng nhân dân thuộc tất
cả các thành phần kinh tế khác nhau nên phát triển các thành phần kinh tế để huy động tối
đã nguồn lực của toàn dân vào sự nghiệp CNH-HĐH là một điều kiện cần thiết quan
trọng về tổ chức lực lượng cho sự phát triển. Bởi vì mỗi thành phần kinh tế Nhà nước, tập
thể, tư nhân đều có những thế mạnh riêng, có thể bổ sung cho nhau, cần phải được khai
thác triệt để nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong quá trình CNH-HĐH. Việc phát
triển các thành phần kinh tế để đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH có thể thực hiện theo phương
hướng sau:
a) Không ngừng phát triển kinh tế Nhà nước, nâng cao hiệu quả kinh tế của các
doanh nghiệp Nhà nước nhằm phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, hỗ trợ và thúc
đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Các doanh nghiệp Nhà nước phải phát
huy vai trò trung tâm công nghiệp, dịch vụ, trung tâm khoa học - kỹ thuật, trung tâm văn
hóa trên cùng địa bàn. Các doanh nghiệp Nhà nước trong nông, lâm, ngư nghiệp phải
được củng cố và phát triển, đẩy mạnh liên kết và hợp tác, giúp đỡ hộ nông dân và các
thành phần kinh tế khác cùng phát triển, các doanh nghiệp Nhà nước trong lĩnh vực
thương nghiệp cần được chấn chỉnh, củng cố, tăng cường để giữ vai trò chủ đạo nhất là
trong khâu bán buôn, cùng với các thành phần kinh tế khác giữ ổn định và làm lành mạnh
thị trường bảo đảm giao lưu hàng hoá thông suốt, phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển,


5. Xây dựng Nhà nước đủ mạnh để quản lý tập trung có hiệu lực quá trình thực
hiện CNH-HĐH.
Thực tiễn phát triển thành công của nhiều nước trên thế giới đã xác nhận và khẳng
định vai trò quyết định của Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện quá trình CNH-HĐH
nền kinh tế. Thực tiễn của Việt Nam trong những năm qua đã cho chúng ta thấy rõ rằng
Nhà nước định hướng không đúng đắn, không hợp lý quá trình CNH-HĐH đã không chỉ
làm cho hiệu quả đạt thấp, mà còn để lại những hậu quả không nhỏ phải giải quyết trong
nhiều năm mới khắc phục được. Để thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH nền kinh
tế ở Việt Nam trong thời gian sắp tới cần xây dựng Nhà nước đủ mạnh để quản lý tập
trung, có hiệu lực, Nhà nước đó phải là:
a) Nhà nước biết nắm bắt sự tác động khách quan của các qui luật trong nền kinh tế
thị trường để định hướng đúng đắn chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đúng
đắn và thống nhất quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, định hướng đúng đắn kế hoạch
thực hiện toàn bộ quá trình CNH-HĐH đất nước. Để làm được điều đó Nhà nước phải
nắm vững nhu cầu và khả năng tiến hành CNH-HĐH, nắm bắt thị trường của CNH-HĐH.
Tập trung đúng mức vào những ngành, những khâu, vùng, lĩnh vực quan trọng nhất có
thể tạo ra sự tăng trưởng nhanh với hiệu quả kinh tế cao.
b) Nhà nước biết quyết định việc tổ chức và phối hợp các lực lượng kinh tế để thực
hiện chiến lược, kế hoạch công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Huy động và phân bổ tập trung
các nguồn lực cần thiết của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Cân đối và điều
chỉnh thường xuyên quá trình thực hiện CNH-HĐH. Trong vấn đề này phải tập trung sử
dụng có hiệu quả cao nguồn lực hiện có của đất nước.
c) Nhà nước biết quyết định đúng các chính sách cần thiết để khai thác mọi tiềm
năng, nguồn lực trong nước và ngoài nước để thực hiện nhanh, mạnh, vững chắc quá
trình CNH-HĐH. Chỉ có như vậy mới có thể giảm bớt khoảng cách tụt hậu của nước ta so
với các nước trong khu vực.
d) Nhà nước biết tổ chức lại, xây dựng lại bộ máy quản lý đủ mạnh về số lượng và
chất lượng để quản lý có hiệu lực, kiên quyết thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ công chức
Nhà nước, lựa chọn những cán bộ có khả năng, trình độ, kinh nghiệm để đưa đất nước ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status