CHUYÊN đề GIÁO dục bảo vệ môi TRƯỜNG - Pdf 11



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
__________________
TÀI LIỆU
THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NGƯỜI HỌC, CẬP NHẬT KIẾN THỨC,
KỸ NĂNG, CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
TÀI LIỆU
THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NGƯỜI HỌC, CẬP NHẬT KIẾN THỨC,
KỸ NĂNG, CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHUYÊN ĐỀ 1
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN, HƯỚNG DẪN NGƯỜI

3. Ảnh hưởng của chất thải đến môi trường 15
3.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường đất 15
3.2. Ảnh hưởng của chất thải rắ
n đến môi trường nước 16
3.3. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí 16
3.4. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng 16
3.5. Chất thải rắn làm giảm mỹ quan của cảnh quan nông thôn 18
4. Tổ chức, hướng dẫn xử lý rác thải sinh hoạt tại nguồn 18
4.1. Phân loại rác thải 18
4.2. Thành phần và nguồn gố
c chất thải sinh hoạt 199
4.3. Tình hình quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt ở nước ta hiện nay 20
4.4. Mục đích của việc phân loại rác tại nguồn 21
4.5. Lợi ích của việc phân loại, xử lý rác thải sinh hoạt tại nguồn 22
4.5.1. Lợi ích kinh tế 23
4.5.2. Lợi ích môi trường 24
4.5.3. Lợi ích xã hội 25
4.5.4. Thực tiễn triển khai việc phân loạ
i, xử lý rác ở nước ta hiện nay 25
4.6. Hành động cụ thể phân loại, sử lý rác thải sinh hoạt tại nguồn 34
4.6.1. Hộ gia đình 34
4.6.2. Chính quyền địa phương 35
Phần 2: HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY CHUYÊN ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
NÔNG THÔN, HƯỚNG DẪN NGƯỜI DÂN XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT
TẠI NGUỒN 38
1. Hướng dẫn soạn giảng tài liệu “ Bảo vệ
môi trường nông thôn, hướng dẫn người
dân xử lý rác thải sinh hoạt tại nguồn” 38
1.1. Mục tiêu cần đạt 38
1.2. Nội dung và phương pháp 38

1.2. Biểu hiện của biến đổi khí hậu 45
1.2.1. Biểu hiện của BĐKH toàn cầu 45
1.2.2. Biểu hiện của BĐKH ở Vi
ệt Nam 46
1.3. Đặc điểm của biến đổi khí hậu 54
1.4. Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 555
1.4.1. Nguyên nhân do những quá trình tự nhiên 55
1.4.2. Nguyên nhân do ảnh hưởng hoạt động của con người 55
1.5. Kịch bản biến đổi khí hậu 57
1.5.1. Kịch bản của BĐKH trên thế giới 57
1.5.2. Kịch bản của BĐKH ở Việt Nam 64
1.6. Tác động của biến
đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu 71
1.6.1. Một số biến đổi của các hệ tự nhiên và hệ sinh thái 71
1.6.2. Tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực kinh tế – xã hội 72
1.6.3. Tác động của BĐKH đối với sức khỏe và đời sống của con người 73
2. Những thách thức với môi trường Việt Nam do biến đổi khí hậu gây ra 75
2.1. Tổng diện tích đất ngậ
p nước giảm đáng kể 75
2.2. Biến động về thủy sinh ở một số địa phương 75
2.3. Nhiều rạn san hô bị tẩy trắng, xuất hiện nhiều tảo độc hại 76
2.4. Dịch bệnh đối với người và gia súc gia tăng 76
2.5. Tác động của biến đổi khí hậu đối với các vùng lãnh thổ Việt Nam 76
2.5.1. Tác động của BĐKH đối với các vùng trung du và miền núi 76
2.5.2.
Tác động của BĐKH đối với các vùng đồng bằng và ven biển 78
1. Hướng dẫn giảng dạy chuyên đề “Biến đổi khí hậu và những thách thức với môi
trường Việt Nam hiện nay” 84
1.1. Mục tiêu cần đạt 84
1.2. Nội dung và phương pháp 84

Căn cứ vào mục tiêu, nội dung của các chương trình trên, các chuyên đề
được biên soạn theo tinh thần đáp ứng yêu cầu của người học: cần gì học nấy,
cần trước học trước những vấn đề thiết thực, sát sườn, phù hợp với thực ti
ễn
của đất nước và của địa phương.
Căn cứ vào danh mục các chuyên đề được biên soạn đáp ứng nhu cầu
người học đã được phê duyệt kèm theo Quyết định số 3455/QĐ-BGDĐT ngày
5 tháng 9 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục
thường xuyên tổ chức biên soạn 2 chuyên đề thuộc lĩnh vực giáo dục bảo vệ
môi trườ
ng:
Chuyên đề 1: Bảo vệ môi trường nông thôn, hướng dẫn người dân
xử lý rác thải sinh hoạt tài nguồn
Chuyên đề 2: Biển đổi khí hậu và những thách thức với môi trường
Việt Nam hiện nay
6
Các chuyên đề trên được biên soạn nhằm thực hiện các mục tiêu của các
chương trình giáo dục thường xuyên đáp ứng yêu cầu người học cập nhật kiến
thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ là những vấn đề còn mới mẻ, chưa tích
lũy được nhiều kinh nghiệm, trong khi yêu cầu của người học rất phong phú,
đa dạng vì thế chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rấ
t
mong muốn được tiếp nhận những ý kiến nhận xét, góp ý của người học,
người đọc để tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống các chuyên đề đáp ứng yêu cầu
người học ngày càng hữu ích và đạt được hiệu quả cao hơn.

VỤ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN

ất của bản thân, cộng đồng và quốc gia.
3. Nội dung
- Phần 1. Các nội dung cơ bản về bảo vệ môi trường nông thôn và xử lý rác
thải sinh hoạt tại nguồn.
- Phần 2. Hướng dẫn giảng dạy chuyên đề Bảo vệ môi trường nông thôn,
hướng dẫn người dân xử lý rác thải sinh hoạt tại nguồn.

8
Phần 1
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ BẢN VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
NÔNG THÔN VÀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI NGUỒN

1. Một số khái niệm về môi trường nông thôn và chất thải
- Môi trường nông thôn: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật
chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con ngườ
i và sinh vật tại vùng nông thôn.
- Thành phần môi trường nông thôn là yếu tố vật chất tạo thành môi
trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và
các hình thái vật chất khác.
- Hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn là hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi
trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và
cải thiệ
n môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.
- Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
- Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá
nhân, hộ gia đình, nơi công cộng.

sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát
sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người.
- Phân loại rác tại nguồn là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay
gọi là từ nguồn. Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý rác về sau.
- Phân loại, xử lý rác 3R: Phân loại, xử lý rác theo phương pháp 3R viết
tắt từ tiếng Anh: R: Reduce (giảm thiểu), R: Reuse (tái sử dụng), R: Recycle
(tái chế) (Hình 1).

Hình 1: Tranh cổ động phân loại xử lý rác 3R và phân loại rác
ngay khi thu gom rác. 10
2. Các nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nông thôn
Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường và nguồn nước ở
nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau:
- Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hóa chất trong nông nghiệp
như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và không có
kiểm soát.
- Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng còn ở mức
trung bình cho 1 ha gieo trồng, bình quân 80 - 90 kg/ha (cho lúa là 150 -
180kg/ha), so với Hà Lan 758 kg/ha, Nhật 430kg/ha, Hàn Quốc - 467kg/ha,
Trung Quốc - 390 kg/ha. Tuy nhiên việc sử dụng này lại gây s
ức ép đến MT
nông nghiệp và nông thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu
lực phân bón thấp; Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm; Chất
lượng phân bón không đảm bảo, các loại phân bón N - P - K, hữu cơ vi sinh,
hữu cơ khoáng do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không đảm
bảo chất lượng đăng ký, nhãn mác bao bì nhái, đóng gói không đúng khối
lượng đang là những áp lự

không chỉ riêng ở nông thôn mà còn cả ở các thành phố lớn có sử dụng nông
sản có nguồn gốc từ nông thôn.
- Nguyên nhân tình trạng trên là do việc quản lý thuốc BVTV còn nhiều
bất cập và gặp nhiều khó khăn. Hàng năm khoảng 10% khối lượng thuốc được
nh
ập lậu theo đường tiểu ngạch. Số này rất đa dạng về chủng loại, chất lượng
không đảm bảo và vẫn lưu hành trên thị trường. Thứ hai là việc sử dụng còn
tuỳ tiện, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo nhãn mác, không đảm bảo
thời gian cách ly của từng loại thuốc. Thứ ba là do một lượng lớn thuốc BVTV
tồn đọng tại các kho thuốc cũ, hết niên hạ
n sử dụng còn nằm rải rác tại các
tỉnh thành trên cả nước. Theo Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư
lệnh Hoá học (2004), trong khoảng hơn 300 tấn thuốc BVTV tồn đọng có

12
nhiều chất nằm trong số 12 chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ. Và cuối cùng
là việc bảo quản thuốc BVTV còn rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng,
nhiều hộ để thuốc BVTV trong nhà, trong bếp và trong chuồng nuôi gia súc.
- Nguyên nhân thứ hai gây ra ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do
chất thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện cả nước có
khoảng 1.450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và đông đ
úc nhất là khu vực
đồng bằng sông Hồng, vốn là cái nôi của làng nghề truyền thống, với tổng số
472 làng nghề các loại, tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Nội, Thái Bình và
Bắc Ninh, Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp,
thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%). Do đó, đã và đang
nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác động x
ấu tới chất lượng môi
trường đất, nước, không khí và sức khoẻ của dân làng nghề. Kết quả phân tích
chất lượng nước thải một số làng nghề dệt nhuộm tại Thái Bình cho thấy, đa

ây của Viện Nước, tưới tiêu và môi trường (Bộ
NN&PTNT) cho thấy, với khoảng 70% dân số ở khu vực nông thôn, mỗi năm
phát sinh 13 triệu tấn rác thải sinh hoạt, khoảng 1.300 triệu mét khối nước thải sinh
hoạt và khoảng 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật. Trong đó, khoảng 80%
khối lượng rác thải, nước thải sinh hoạt và hầu hết lượng vỏ bao thuốc bảo vệ thực
vật chưa được thu gom xử lý hợp vệ sinh, xả trực tiếp ra môi trường.
- Hà Nội được đánh giá là đạt được những kết quả khả quan trong công
tác bảo vệ môi trường, song kết quả thu gom và xử lý nước thải, rác thải sinh
hoạt chưa đáp ứng được yêu cầu. Hiện, tổng lượng chất thải rắn ra môi trường
trên địa bàn Hà Nội ước 5.371 tấn/ngày, trong đó từ khu vực nông thôn
ước
khoảng 2.500 tấn/ngày. Qua điều tra, hiện Hà Nội có 355/424 xã thành lập tổ
thu gom rác thải. Có 143 xã đã tổ chức chuyển rác đi xử lý, chôn lấp tại bãi
rác tập trung của thành phố, chiếm tỷ lệ 40,28%, chủ yếu là ở các thị trấn và
xã lân cận khu vực nội thành. Một số thôn, khu dân cư ở vùng sâu, vùng xa
vẫn gặp khó khăn trong thu gom rác thải. Ngoài ra, trung bình mỗi ngày lượng
chất thải phát sinh do chăn nuôi khoảng 50.000 tấn, cùng vớ
i việc chất thải rắn
từ các làng nghề và nước thải sinh hoạt chưa được xử lý triệt để đã gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng.
- Không riêng Hà Nội, việc quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắn ở khu
vực nông thôn tại nhiều tỉnh, thành phố đã nảy sinh những khó khăn, bất cập.
PGS.TS Vũ Thị Hương, Viện Nước, tưới tiêu và môi trường cho biết, tại nhiều
vùng nông thôn
đã hình thành các mô hình thu gom rác thải do người dân, xã,
thôn tự tổ chức hoặc mô hình HTX dịch vụ môi trường, công ty dịch vụ môi
trường đảm nhiệm. Tuy nhiên chỉ số ít mô hình thực hiện hiệu quả, phần lớn

14
do hình thành tự phát nên hoạt động không bền vững. Theo PGS.TS Vũ Thị

môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục
hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên
thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học.
- Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt ho
ặc các hoạt động khác.
- Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt
cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng.
- Phân loại rác tại nguồn là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải

15
ra hay gọi là từ nguồn. Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử
lý rác về sau.
- Phân loại, xử lý rác 3R: Phân loại, xử lý rác theo phương pháp
3R viết tắt từ tiếng Anh: R: Reduce (giảm thiểu), R: Reuse (tái sử dụng), R:
Recycle (tái chế).
Các nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nông thôn
- Sử dụng hóa chất trong nông nghiệp
- Tập quán sử dụng phân bắc, phân chuồng
- Thuốc bảo vệ thực vật
- Chất thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt.

3. Ảnh hưởng của chất thải đến môi trường
3.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường đất
Đất bị ô nhiễm bởi các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do thải vào đất một khối lượng lớn chất thải công nghiệp như xỉ than,
khai kháng, hóa chất… Các chất ô nhiễm không khí lắng đọng trên bề mặt sẽ
gây ô nhiễm đất, tác động đến các hệ sinh thái đất.
- Do thải ra mặt đất những rác thải sinh hoạt, các chất thải của quá trình
xử lý nước.

NH
3
, gây ô nhiễm môi trường không khí.
- Khí thoát ra từ các hố hoặc chất làm phân, chất thải chôn lấp chứa rác
chứa CH
4
, H
2
S, CO
2
, NH
3
, các khí độc hại hữu cơ
-Khí sinh ra từ quá trình thu gom, vận chuyển, chôn lấp rác chứa các vi
trùng, các chất độc lẫn trong rác.
3.4. Ảnh hưởng của chất thải rắn đến sức khỏe cộng đồng
Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng đến sức
khỏe của con người và môi trường là các chất hữu cơ bền. Những hợp chất
này vô cùng bền vững, tồ
n tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh
học trong nông sản phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nước mô mỡ của động
vật gây ra hàng loạt các bệnh nguy hiểm đối với con người, phổ biến nhất là
ung thư. Đặc biệt, các chất hữu cơ trên được tận dụng nhiều trong trong đời
sống hàng ngày của con người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị điện trong
gia đ
ình, các thiết bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang,
dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong truyền nhiệt Theo đánh giá
của các chuyên gia, các loại chất thải nguy hại ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng
đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư khu vực làng nghề, gần khu
công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm môi trường do

4
, CO
2
, NH
3
, gây ô nhiễm môi trường không khí. Nước thải ra từ các bãi
rác ngấm xuống đất, nước mặt và đặc biệt là nguồn nước ngầm gây ô nhiễm
nghiêm trọng. Các bãi chôn lấp rác còn là nơi phát sinh các bệnh truyền nhiễm
như tả, lỵ, thương hàn Còn đối với loại hình công việc tiếp xúc trực tiếp với
các loại chất thải rắn, bùn cặn (kim loại nặng, hữu cơ tổng hợp, thuốc bảo vệ
thực vật, chứa vi sinh vật gây hại ) sẽ gây nguy hại cho da hoặc qua đường hô
hấp gây các bệnh về đường hô hấp. Một số chất còn thấm qua mô mỡ đi vào cơ
thể gây tổn thương, rối loạn chức năng, suy nhược cơ thể, gây ung thư.
Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng đến sức
khỏe của con người và môi trường là các chất hữu c
ơ bền. Những hợp chất
này vô cùng bền vững, tồn tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh
học trong nông sản phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nước mô mỡ của động
vật gây ra hàng loạt các bệnh nguy hiểm đối với con người, phổ biến nhất là
ung thư. Đặc biệt, các chất hữu cơ trên được tận dụng nhiều trong trong đời
sống hàng ngày của con người ở các d
ạng dầu thải trong các thiết bị điện trong
gia đình, các thiết bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang,
dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong truyền nhiệt Theo đánh giá
của các chuyên gia, các loại chất thải nguy hại ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng
đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư khu vực làng nghề, g
ần khu
công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm môi trường do
chất thải rắn cũng đã đến mức báo động.


chất thải có nguồn gốc phát sinh từ các ngành kinh tế như công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ.
- Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý: ch
ất thải rắn, chất thải lỏng,
chất thải khí.
- Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: theo cách này người ta chia
chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất như chất thải dạng
kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa…
- Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật: chất
thải độc hại, chất thả
i đặc biệt. Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định

19
nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản lý chất thải
có hiệu quả.
4.2. Thành phần và nguồn gốc chất thải sinh hoạt
Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn đô thị rất khác nhau tùy thuộc
vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu
tố khác. Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả
năng
tái chế, tái sinh. Vì vậy mà việc nghiên cứu thành phần chất thải rắn sinh hoạt
là điều hết sức cần thiết. Từ đó ta có cơ sở để tận dụng những thành phần có
thể tái chế, tái sinh để phát triển kinh tế.
Mỗi nguồn thải khác nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như:
Khu dân cư và thương mại có thành phần chất thải đặc trưng là chất thả
i thực
phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác vườn, gỗ, nhôm ; Chất thải từ dịch
vụ như rửa đường và hẻm phố chưa bụi, rác, xác động vật, xe máy hỏng ,
chất thải thực phẩm như can sữa, nhựa hỗn hợp (Bảng 1).
Bảng 1. Thành phần và nguồn gốc của chất thải sinh hoạt

su
2.Các chất không cháy
a.Các kim loại sắt Các vật liệu và sản phẩm Vỏ hộp, dây điện, hàng

20
được chế tạo từ sắt mà dễ bị
nam châm hút
rào, dao, nắp lọ
b.Các kim loại phi
sắt
Các vật liệu không bị nam
châm hút
Vỏ nhôm, giấy bao gói, đồ
đựng
c.Thủy tinh
Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ thủy tinh
Chai lọ, đồ đựng bằng thủy
tinh, bóng đèn
d. Đá và sành sứ
Bất cứ các vật liệu không
cháy ngoài kim loại và thủy
tinh
Vỏ chai, ốc, xương, gạch,
đá, gốm
3. Các chất hỗn
hợp
Tất cả các vật liệu khác
không phân loại trong bảng
này. Loại này có thể chưa

mới phải chôn lấp chỉ dưới 10%. Như vậy, chất thải có vai trò quan trọng
trong việc tiết kiệm nguồn tài nguyên quốc gia. Do đó, chất thải cần phải được
coi trọng, được th
ống kê, đánh giá, phân tích và phân loại để tái chế, tái sử
dụng tốt trước khi đem tiêu hủy.
Hiện nay phần lớn rác thải sinh hoạt ở Việt Nam vẫn được xử lý bằng
hình thức chôn lấp. Tuy nhiên, cũng mới chỉ có 12 trong tổng số 63 tỉnh, thành
phố có bãi chôn lấp hợp vệ sinh hoặc đúng kỹ thuật và chỉ có 17 trong tổng số
91 bãi chôn lấp hiện có trong cả nước là bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Ph
ần lớn
các bãi chôn lấp hợp vệ sinh đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA, nguồn
vốn đầu tư từ ngân sách là hết sức khó khăn và hạn chế. Lượng chất thải rắn
tại các đô thị được thu gom mới đạt 70% tổng lượng chất thải rắn phát sinh.
Trong khi đó, việc tái chế và tái sử dụng mới chỉ giảm khoảng 10 -12% khối
lượng rác thải.
Ở nước ta chỉ khoảng 7 người/1 triệu dân làm công tác quản lý nhà
nước về môi trường, trong khi con số này ở Trung Quốc là 20 người, so với
các nước trong khu vực ASEAN như: Thái Lan là 30 người, Campuchia là 55
người, Malaysia là 100 người, Singapore là 330 người. Đối với các nước phát
triển thì con số này còn cao hơn nhiều, ví dụ như: Canada là 155 người, Anh
là 204 người. Ngoài ra do hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường
vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa tương thích kị
p thời với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường. Các quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải, chất thải rắn mặc dù đã được Chính phủ ban hành song còn mang
tính hình thức, số kinh phí thu được mới chỉ bằng 1/10 so với tổng kinh phí
mà Nhà nước phải chi cho các dịch vụ thu gom và xử lý chất thải. Các chế tài
xử phạt vi phạm hành chính còn quá thấp, chưa đủ sứ
c răn đe, phòng ngừa.
Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng còn lúng túng trong xử lý các hành vi vi

mỗi năm họ đã tiết kiệm được 50-55% các loại nguyên liệu như bột giấy,
nhựa, kim loại nặng từ việc tái chế rác thải…Trong khi công tác quản lý, phân
loại và xử lý rác thải tại Việt Nam vẫn chưa được sự quan tâm đ
úng mức của
các cơ quan quản lý, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, các khu công nghiệp,
khu dân cư. Với quan niệm xưa cũ cho rằng rác thải là thứ không có giá trị,
phải loại bỏ cho nên nguồn tài nguyên này vẫn bị coi là gánh nặng của xã hội.
Rác thải lâu nay được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, hoặc đốt thủ công
tiêu tốn mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng và chiếm dụng nhiều diện tích cho việc
xây d
ựng bãi chôn lấp mà hiệu quả lại không cao. Các nguồn nguyên liệu có
thể tái chế gồm chất hữu cơ, giấy, nhựa, kim loại … bị chôn vùi trong đất mà
hàng trăm năm sau mới có thể phân hủy. Còn đem đốt lại thải khói độc ra môi
trường. Nhiều bãi rác theo công nghệ cũ đã và đang gây ô nhiêm môi trường
và ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân. Ngay như ở nhà máy xử lý rác thải
Nam Sơn (Sóc Sơn-Hà N
ội) là một trong những nhà máy có công nghệ xử lý
rác được đánh giá tốt nhất ở Việt Nam, thì rác thải túi nylon, chất hữu cơ, dầu
thải, bông băng y tế, sắt vụn được thu gom về đây cũng không được, tái chế và
tái sử dụng mà chủ yếu chôn lấp. Đặc biệt là đối với rác thải từ xây dựng, theo
bộ Xây dựng, mỗi năm chất thải rắn có khoảng gần 30 triệ
u tấn, 2015 sẽ là

23
hơn 40 triệu tấn. Nếu đem chôn lấp sẽ lãng phí từ 55% đến 67% các sinh khối
và chất hữu cơ trong chất thải rắn.
Nguyên nhân chính là do rác thải không được phân loại tại nguồn. Các
nhà máy thiếu thiết bị, công nghệ để xử lý, phân loại rác và một phần là bởi ý
thức của người dân về việc phân loại rác từ cơ sở để tái chế chưa cao, các loại
rác thải vô cơ, hữu cơ

ng từ việc giảm chi
phí chôn lấp rác và bán phân compost.
Chi phí xử lý 1 tấn chất thải rắn sinh hoạt là 250.000 đồng. Nếu mang
4.500 tấn rác thực phẩm đi chôn lấp, thành phố mất hơn 1,1 tỉ đồng cho việc
xử lý số rác này. Giảm khối lượng rác mang đi chôn lấp, diện tích đất phục vụ

24
cho việc chôn lấp rác cũng sẽ giảm đáng kể. Bên cạnh đó, thành phố cũng sẽ
giảm được gánh nặng chi phí trong việc xử lý nước rỉ rác cũng như xử lý mùi
(Hình 4).

Hình 4. Xử lý chất thải rắn đẻ sản xuất phân vi sinh
phục vụ sản xuất nông nghiệp.

4.5.2. Lợi ích môi trường
Ngoài lợi ích kinh tế có thể tính toán được, việc phân loại chất thải rắn
tại nguồn còn mang lại nhiều lợi ích đối với môi trường. Khi giảm được khối
lượng chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp, khối lượng nước rỉ rác sẽ gi
ảm.
Nhờ đó, các tác động tiêu cực đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như:
giảm rủi ro trong quá trình xử lý nước rỉ rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm,
nước mặt
Diện tích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà kính
do khí của bãi chôn lấp. Ở các bãi chôn lấp, các khí chính gây nên hiệu ứng
nhà kính gồm CH4, CO2, NH3. Theo báo cáo đầu tư chương trình khu xử lý
chất thải r
ắn Đa Phước, tương ứng với một tấn chất thải rắn sinh hoạt lưu
lượng khí tạo ra là 266 m3, trong đó chủ yếu là khí CH4. Khí CH4 có khả
năng tác động ảnh hưởng đến tầng ôzôn cao gấp 21 lần so với CO2. Việc giảm
chôn lấp chất thải rắn có thể phân hủy kéo theo việc giảm lượng khí làm ảnh

- Ý thức của người dân chưa cao.
Trung tuần tháng 3/2007, Hà Nội chính thức triển khai thực hiện việc
xứ lý chất thải theo phương pháp 3R: giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế rác thải
sinh hoạt. Dự án này do Công ty TNHH một thành viên Môi trường đô thị Hà
Nội (URENCO) là chủ dự án với sự hỗ trợ về kinh phí và kỹ
thuật của Chính
phủ Nhật Bản. Theo đó, từ 2007 đến 2009, Cơ quan Hợp tác và Phát triển
Nhật Bản (JICA) sẽ tài trợ 3 triệu USD để Hà Nội thực hiện dự án tại 4 quận
nội thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa và sau đó sẽ nhân
rộng ra toàn TP.
Những ngày đầu không ít phiền phức bởi nhà nào cũng có thói quen thải
rác ra ngày nào đổ luôn ngày đó. Việc phân loại rác để vào 2 thùng xanh - cam
được cấp miễn phí b
ị người dân cho là mất thời gian!
"Cuộc chiến” giữa một hệ thống khá mới và một thói quen khá lâu diễn ra
ngấm ngầm giữa nhân viên thu gom và người dân "nổ ra’’ ngay tại nơi đổ rác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status