ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH TRẦN THỊ KIM TUYỀN
XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN
PHẨM MỚI CHO CÔNG TY LƯƠNG THỰC
THỰC PHẨM AN GIANG
Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh Nông Nghiệp KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh Nông Nghiệp
Sinh viên thực hiện: TRẦN THỊ KIM TUYỀN
Lớp: DH4KN2 – Mã số sinh viên: DKN030221
Người hướng dẫn: Thạc sĩ CAO MINH TOÀN Long Xuyên, tháng 06 năm 2007
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
KHOA KINH TẾ-QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐẠI HỌC AN GIANG Người hướng dẫn : ThS. Cao Minh Toàn
Trần Thị Kim Tuyền TÓM TẮT
Trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì việc tìm ra một cơ hội kinh
doanh mới là rất cần thiết bởi điều này sẽ góp phần thúc đẩy doanh nghiệp ngày càng
phát triển. Chính vì vậy mà công ty Lương thực Thực phẩm An Giang đã hướng tới việc
phát triển sản phẩm mới ở lĩnh vực kinh doanh gạo phục vụ cho thị trường nội địa với
thị trường được chọn để thử nghiệm sản phẩm là thị trường Long Xuyên.
Qua phân tích hành vi của người tiêu dùng Long Xuyên về sản phẩm gạo rút ra
được một số vấn đề trọng tâm để công ty hướng tới việc phát triển sản phẩm mới như
sau: người tiêu dùng hiện nay ưa chuộng sử dụng sản phẩm gạo có các đặc tính như:
gạo cho cơm dẽo, thơm và mềm, chủ yếu là mua ở chợ với số lượng tương đối ít từ
5kg-25kg dùng khoảng 1-2 tuần dưới hính thức tự đi mua hay gọi điện và người quyết
định mua là người vợ. Trong đó, yếu tố chất lượng được quan tâm nhiều nhất với các
tiêu chí chọn mua là không lẫn tạp chất, hương thơm lâu, dễ nấu, dễ bảo quản, quan tâm
kế đến là giá cả với mức giá 5.000đ-7.000đ được người tiêu dùng cho là phù hợp với túi
tiền nhưng khi đã sử dụng quen một sản phẩm gạo nào đó thì giá cao hơn vẫn được
chọn sử dụng. Và đặc biệt là người tiêu dùng có xu hướng sử dụng gạo chất lượng, gạo
có xuất xứ của công ty.
Ngoài ra, khi xem xét ở thị trường nội địa cho thấy đây là một thị trường có nhiều
tiềm năng để phát triển sản phẩm gạo chất lượng. Chính vì vậy, công ty nên sản xuất ra
sản phẩm mới là sản phẩm gạo chất lượng được đóng gói.
Để làm được điều này công ty đã tiến hành đánh giá các nguồn lực của mình. Qua
đánh giá cho thấy các nguồn lực về nhân sự, nguồn nguyên liệu, năng lực sản xuất,
trang thiết bị,…của công ty đều có khả năng phát triển sản phẩm mới đáp ứng được nhu
cầu thị hiếu của người tiêu dùng Long Xuyên nói riêng và người tiêu dùng trong nước
nói chung.
1.4. Phương pháp nghiên cứu 2
1.4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu 2
1.4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu 2
1.5. Ý nghĩa thực tiển 2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 3
2.1. Khái niệm về sản phẩm 3
2.2. Khái niệm về sản phẩm mới 4
2.3. Quy trình phát triển sản phẩm mới 4
2.3.1. Hình thành ý tưởng 4
2.3.2. Lựa chọn ý tưởng 5
2.3.3. Soạn thảo dự án và thẩm định dự án 5
2.3.4. Soạn thảo chiến lược marketing 5
2.3.5. Phân tích khả năng sản xuất và tiêu thụ 5
2.3.6. Thiết kế sản phẩm 5
2.3.7. Thử nghiệm thị trường 6
2.3.8. Triển khai sản xuất đại trà 6
2.4. Quá trình chấp nhận sản phẩm mới 6
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY LƯƠNG THỰC THỰC PHẨM AN
GIANG 7
3.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty LTTP An Giang 7
3.2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty LTTP An Giang 7
3.2.1. Chức năng 7
3.2.2. Nhiệm vụ 8
ii
3.3. Cơ cấu tổ chức của công ty LTTP An Giang 8
3.4. Những thuận lợi và khó khăn của công ty LTTP An Giang 9
3.4.1. Thuận lợi 9
3.4.2. Khó khăn 9
3.5. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty LTTP An Giang năm 2004-2006 10
5.2.5. Giải pháp về tài chính-kế toán 41
iii
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
6.1. Kết luận 42
6.2. Kiến nghị 42
6.2.1. Đối với công ty 42
6.2.2. Đối với Tổng công ty 43
6.2.3. Đối với Ngân hàng 43
PHỤ LỤC a
TÀI LIỆU THAM KHẢO d
Sơ đồ 4.1. Sơ đồ kênh phân phối của công ty 26
Sơ đồ 4.2. Quy trình xay xát-đánh bóng gạo của công ty 30
Sơ đồ 5.1. Kênh phân phối dự kiến của công ty 40
v
DANH MỤC BẢNG - HÌNH
Bảng 3.1. Kết quả kinh doanh năm 2004-2005-2006 của công ty LTTP An Giang 10
Bảng 4.1. Kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty năm 2006 27
Bảng 4.2. Kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty năm 2007 28
Bảng 4.3. Trình độ nhân viên của công ty 29
Bảng 4.4. Các chỉ tiêu tài chính của công ty 30
Bảng 4.5. Điểm mạnh-điểm yếu-nguy cơ-cơ hội của công ty về phát triển sản phẩm 33
Bảng 5.1. Ước tính sản lượng tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận ở thị trường Long Xuyên
năm 2008 35
Bảng 5.2. Dự đoán về mức giá bán sản phẩm mới của công ty 39
Hình 2.1. Bốn cấp độ của sản phẩm 3
tiêu dùng lựa chọn ngày một nhiều hơn. Đặc biệt là, những sản phẩm cần thiết cho đời
sống hàng ngày như gạo, cá, thịt, trứng, nhưng gạo được xem là lương thực không thể
thiếu trong mọi gia đình, cho nên người tiêu dùng ngày càng có xu hướng quan tâm
nhiều đến yếu tố chất lượng gạo. Qua đó cho thấy, sản phẩm gạo chất lượng ở thị
trường nội địa có nhiều tiềm năng phát triển, đây là một cơ hội để các doanh nghiệp
trong nước tham gia sản xuất kinh doanh.
Nhưng làm thế nào để sản phẩm gạo của doanh nghiệp được người tiêu dùng biết
đến và lựa chọn sử dụng? Muốn làm được điều này thì điều trước tiên mà các doanh
nghiệp cần phải thực hiện là tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng về sản phẩm
gạo ra sao? Tiếp đến là xem xét thị trường của sản phẩm gạo có triển vọng phát triển
hay không? Sau khi đã nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng và độ lớn
của thị trường thì doanh nghiệp cần phải đánh giá nguồn lực của mình để xem doanh
nghiệp có khả năng sản xuất ra sản phẩm gạo hay cải tiến sản phẩm gạo hiện tại thỏa
mãn được nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời cũng phù hợp với năng lực sở trường
của doanh nghiệp.
Quả thật đây là điều không phải dễ dàng đối với các doanh nghiệp, bởi vì nhu cầu
của người tiêu dùng về một sản phẩm luôn biến đổi và họ trở nên khó tính hơn trong
việc lựa chọn sản phẩm, trong khi đó nguồn lực của doanh nghiệp thì có giới hạn. Tuy
nhiên, để doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả và chiếm
lĩnh được thị trường về sản phẩm thì doanh nghiệp chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu của
người tiêu dùng về sản phẩm.
Xuất phát từ những vấn đề trên cộng với hy vọng tìm ra một cơ hội mới cho công
ty Lương thực Thực phẩm An Giang trong thị trường gạo nội địa nói chung và trong thị
trường gạo ở thành phố Long Xuyên nói riêng, nên tôi đã chọn đề tài “Xây dựng chiến
lược phát triển sản phẩm mới cho công ty Lương thực Thực phẩm An Giang”
nhằm giúp cho công ty sản xuất kinh doanh ngày một hiệu quả hơn.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Để hiểu rõ hơn về đề tài “Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho công
ty Lương thực Thực phẩm An Giang” tôi đã đề ra một số mục tiêu sau đây:
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
hình tài chính của công ty.
- Sử dụng phương pháp thống kê đối với dữ liệu sơ cấp. Và đây được xem là
dữ liệu làm cơ sở để đề ra chiến lược phát triển sản phẩm mới cho công ty.
1.5. Ý nghĩa thực tiển
Qua phân tích hành vi của người tiêu dùng về sản phẩm gạo ở thị trường Long
Xuyên sẽ giúp công ty hiểu rõ hơn về nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Long
Xuyên, để có thể đưa ra chiến lược phát triển sản phẩm mới cho phù hợp nhằm dễ dàng
thâm nhập vào thị trường này. Từ đó, làm bước đà để công ty phát triển sang các thị
trường khác và chiếm lĩnh được thị trường gạo nội địa, góp phần thúc đẩy hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty ngày càng hiệu quả. Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1. Khái niệm về sản phẩm
Theo quan niệm cổ điển, sản phẩm là tổng thể các đặc tính vật chất, những yếu tố
có thể quan sát, được tập hợp trong một hình thức đồng nhất là vật mang giá trị sử dụng.
Theo quan niệm marketing, sản phẩm là những gì mà doanh nghiệp cung cấp, gắn
liền với việc thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng nhằm thu hút sự chú ý,
mua sắm hay sử dụng chúng. Sản phẩm bao gồm các thuộc tính hữu hình (chất liệu,
kiểu dáng, bao bì,…) và các thuộc tính vô hình (danh tiếng, giá cả, sự phô diễn, các dịch
vụ kèm theo,…).
Khi hoạch định phải quan tâm đến sản phẩm theo bốn cấp độ
- Phần cốt lõi của sản phẩm: Giá trị, công dụng, lợi ích cơ bản của sản phẩm mà
nhà sản xuất mang lại cho khách hàng.
- Phần cụ thể của sản phẩm: Bao gồm các thuộc tính hữu hình có liên quan đến
sản phẩm: kiểu dáng, chất lượng, tính chất, đặc điểm riêng, bao bì, nhãn
hiệu,…dùng để phân biệt với các sản phẩm khác trên thị trường.
dáng
Bao
bì
Tên
hiệu
Chất
lượng
Đặc
điểm
Những
lợi ích
Giao
hàng
và sự
tín
nhiệm
Ph
ụ t
ùng
kèm theo
Dịch
vụ
bán
hàng
Bảo hành
Phần cốt lõi
Phần phụ thêm
của sản phẩm
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
các cuộc thăm dò khách hàng, trắc nghiệm chiếu hình, trao đổi nhóm tập trung, những
thư góp ý kiến và khiếu nại của khách hàng.
- Đối thủ cạnh tranh: Doanh nghiệp có thể tìm được những ý tưởng hay qua
khảo sát sản phẩm và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh. Để phát hiện ra những thứ hấp
dẫn nhất đối với người mua.
- Những đại diện bán hàng và những người trung gian: Đây được xem là
nguồn ý tưởng về sản phẩm mới rất tốt, bởi vì họ là những người có điều kiện mắt thấy
tai nghe những nhu cầu và phàn nàn của khách hàng.
- Những nhà khoa học: Họ có thể sáng tạo hay tìm kiếm những vật liệu thuộc
tính mới của sản phẩm để tạo ra những sản phẩm hoàn toàn mới hay cải tiến cho những
sản phẩm hiện có.
Hình thành ý
tưởng
Lựa chọn ý
tưởng
Soạn thảo
chiến lược
marketing
Soạn thảo dự
án và thẩm
định dự án
Triển khai sản
xuất đại trà
Thiết kế sản
phẩm
Phân tích khả
năng sản xuất
và tiêu thụ
Sau khi dự án sản phẩm mới được thông qua, doanh nghiệp cần soạn thảo
chiến lược marketing cho sản phẩm mới. Chiến lược marketing gồm ba phần:
- Phần thứ nhất, mô tả quy mô, cơ cấu và hành vi của thị trường mục tiêu, dự
kiến định vị của sản phẩm cũng như các chỉ tiêu về mức tiêu thụ, thị phần và lợi nhuận
dự kiến trong một vài năm đầu tiên.
- Phần thứ hai, chiến lược marketing trình bày giá dự kiến của sản phẩm,
chiến dịch phân phối và ngân sách marketing cho năm đầu tiên.
- Phần thứ ba, trình bày những mục tiêu tương lai của các chỉ tiêu mức tiêu
thụ và lợi nhuận, cũng như quan điểm chiến lược lâu dài về việc hình thành hệ thống
marketing mix.
2.3.5. Phân tích khả năng sản xuất và tiêu thụ
Tiếp theo là đánh giá mức độ hấp dẫn về mặt kinh doanh của việc cung ứng.
Muốn vậy, cần phải ước tính mức tiêu thụ, tính chi phí và lợi nhuận để biết chắc rằng
chúng có phù hợp với những mục tiêu của doanh nghiệp.
2.3.6. Thiết kế sản phẩm
Qua việc xác định khả năng thực tế của sản phẩm mới, doanh nghiệp sẽ thực
hiện việc thiết kế sản phẩm. thiết kế sản phẩm bao gồm các nội dung:
- Các thông số kỹ thuật của sản phẩm (kích thước, trọng lượng, chỉ tiêu chất
lượng, các chi tiết kỹ thuật).
- Kiểu dáng, màu sắc, đặc tính mỹ thuật của sản phẩm.
- Thiết kế bao bì sản phẩm.
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 6
- Thiết kế các yếu tố pháp luật vật chất của sản phẩm như: tên sản phẩm, biểu
tượng,…
2.3.7. Thử nghiệm thị trường
Mục tiêu của giai đoạn này là định hình việc sản xuất sản phẩm, khẳng định
các thông số kỹ thuật, đặc tính sử dụng sản phẩm và kiểm tra các chỉ tiêu kinh tế của
sản phẩm. Việc thử nghiệm thường được thực hiện ở hai giai đoạn.
- Thử nghiệm trong doanh nghiệp: Thử nghiệm ở phòng thí nghiệm hay
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 7
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY LƯƠNG THỰC
THỰC PHẨM AN GIANG
3.1. Lịch sử hình thành và phát triển công ty LTTP An Giang
Theo quyết định số 070/QĐ-HĐQT ngày 26/08/2002 của Chủ tịch hội đồng quản
trị Tổng công ty Lương thực Miền Nam, xí nghiệp Mễ Cốc Long Xuyên được thành lập
thay thế nhiệm vụ của công ty Lương thực An Giang đã có quyết định tuyên bố phá sản
trong việc kinh doanh bị thua lổ nặng không có khả năng thanh toán.
Xí nghiệp Mễ Cốc Long Xuyên được xem là đơn vị trực thuộc và chịu sự quản lý
trực tiếp của Tổng công ty Lương thực Miền Nam, được đăng ký kinh doanh và sử dụng
con dấu riêng theo quy định của Nhà nước. Thành lập theo luật doanh nghiệp Nhà nước
và điều lệ của Tổng công ty, hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch
của Tổng công ty giao. Bên cạnh đó, còn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và nhiệm vụ của
Tỉnh ủy và UBND tỉnh An Giang trên cơ sở phù hợp với pháp luật và chính sách của
Nhà nước.
Căn cứ quyết định số 125/2006/QĐ-TTg ngày 30/05/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Lương thực Miền
Nam theo mô hình công ty mẹ-công ty con. Vì vậy, đến 19/03/2007 Chủ tịch hội đồng
quản trị Tổng công ty Lương thực Miền Nam đưa ra quyết định số 44/QĐ-HĐQT đổi
tên xí nghiệp Mễ Cốc Long Xuyên thành công ty Lương thực Thực phẩm An Giang.
Tên tiếng việt: Công ty Lương thực Thực phẩm An Giang.
Tên giao dịch quốc tế: ANGIANG FOOD & FOODSTUFF COMPANY.
Tên viết tắt: ANFOODCO.
Địa chỉ: Số 6, Đường Nguyễn Du, Phường Mỹ Bình, Thành phố Long Xuyên,
Tỉnh An Giang.
Hiện nay, toàn bộ công ty có 348 người. Trong đó có 148 người (nữ 25 người)
được xem là nhân viên chính thức của công ty và được tổ chức như sau:
- Ban giám đốc: 3 người.
- Các phòng ban: 39 người.
+ Phòng Tổ chức hành chính: 11 người.
+ Phòng Kế hoạch kinh doanh: 17 người.
+ Phòng Tài chính kế toán: 11 người.
- Các nhà máy: 106 người
+ Nhà máy An Giang 3: 21 người (lao động chính 11 người, lao động phụ
trợ 3 người, lao động quản lý 7 người).
+ Nhà máy An Giang 4: 31 người (lao động chính 18 người, lao động phụ
trợ 4 người, lao động quản lý 9 người).
+ Nhà máy An Giang 3: 54 người (lao động chính 38 người, lao động phụ
trợ 6 người, lao động quản lý 10 người).
Các nhân viên của công ty đều có trình độ chuyên môn nghiệp vụ (trừ một số lao
động chính, lao động phụ trợ và 200 lao động công nhật bốc xếp làm việc trong dây
chuyền sản xuất ở các nhà máy).
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 9
mức độ hoạt động mà công ty huy động và thu mua hàng hóa.
Ban Giám Đốc
Trạm
Thu
Mua
Kho Phân
Xưởng
Sản
Xu
ất
Trạm
Thu
Mua
Kho
Phân
Xưởng
Sản
Xu
ất
Trạm
Thu
Mua
Kho
Phân
Xưởng
Sản
Xu
ất
Năm
2005
Năm
2006
Số tiền % Số tiền %
Tổng doanh thu 534.139
529.385
608.342
-4.754
-0,89
78.957
14,91
Tổng chi phí
- Giá vốn
- Các chi phí
533.928
513.909
20.019
527.884
506.003
21.881
1.207
80,41
(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2004-2005-2006 của công ty LTTP An Giang)
Qua bảng kết quả hoạt động kinh doanh của công ty vào năm 2004-2005-2006, ta
thấy tổng doanh thu năm 2005 của công ty giảm 0,89% so với năm 2004 nhưng lợi
nhuận sau thuế của công ty lại tăng đột biến lên đến 611%. Điều này chứng tỏ rằng
công ty kinh doanh có hiệu quả hơn năm 2004.
Nguyên nhân là do năm 2005 thị trường nguyên liệu đầu vào thuận lợi và sự cố
gắng của công ty trong khâu thu mua, vận chuyển, chế biến do đó đã tiết kiệm được một
lượng chi phí. Vì thế mà giá vốn hàng bán giảm đáng kể với tốc độ giảm là 1,54% nên
dẫn đến tổng chi phí giảm. Và chính tốc độ giảm của giá vốn cao hơn tốc độ giảm của
doanh thu đã làm cho lợi nhuận sau thuế của công ty tăng lên cao.
Đến năm 2006, tổng doanh thu và lợi nhuận sau thuế của công ty đều tăng lên. Cụ
thể, tổng doanh thu tăng 14,91% còn lợi nhuận sau thuế tăng 80,41%. Qua đó cho thấy
công ty ngày càng hoạt động có hiệu quả hơn, một phần là do công ty đã nhận được hợp
đồng cung cấp gạo với số lượng lớn hơn trước của Tổng công ty và các đơn vị nhận ủy
thác xuất khẩu, phần còn lại là do công ty tìm được hợp đồng xuất khẩu gạo trực tiếp
sang Châu Phi. Vì vậy, số lượng gạo tăng lên nên giá vốn hàng bán và chi phí bán hàng
cũng tăng lên, kéo theo tổng chi phí tăng.
Tóm lại, qua ba năm hoạt động sản xuất kinh doanh công ty luôn phấn đấu và nổ
lực để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này được minh chứng lợi
nhuận sau thuế của công ty tăng dần qua các năm. Và một khi công ty đã hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển.
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 11
gạo chất lượng này thì hiện tại các doanh nghiệp trong nước chưa có khả năng đáp ứng.
Mặt khác, kinh doanh gạo ở thị trường nội địa cũng khá hấp dẫn vì giá bán của
các sản phẩm gạo vào năm 2006 tăng cao, gạo thường được bán với giá 5.000-6.000
đ/kg, còn gạo thơm được bán với giá từ 6.000 đ/kg trở lên và cho đến thời điểm này
mức giá vẫn không có chiều hướng giảm. Bên cạnh đó, kinh doanh gạo ở thị trường nội
địa các doanh nghiệp sẽ dễ dàng nắm bắt được nhu cầu của người tiêu dùng hơn và chất
lượng gạo ở thị trường này cũng không quá đòi hỏi khắt khe như ở thị trường xuất khẩu.
Cộng với việc Chính phủ luôn có chính sách đảm bảo nguồn lương thực trong
nước như: ấn định chỉ tiêu về xuất khẩu gạo, cho các doanh nghiệp ngừng ký hợp đồng
xuất khẩu gạo hay cấm xuất khẩu gạo khi nguồn cung gạo khan hiếm. Chẳng hạn vào
cuối năm 2006 Chính phủ đã đưa ra quyết định cấm xuất khẩu gạo nhằm đảm bảo an
ninh lương thực trong nước.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp sẽ phải chịu 5% thuế VAT khi kinh doanh gạo ở
thị trường nội địa cho nên các doanh nghiệp phải bán với giá cao hơn, nếu như thế sẽ
khó lòng cạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân hay cơ sở sản xuất kinh doanh nộp
thuế khoán hoặc một số đối tượng kinh doanh trốn thuế vì họ sẽ bán với giá mà người
1
Nguồn: http://vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2006/11/3B9F053D/
2
Nguồn: http://www.vietrade.gov.vn/old/news.asp?cate=1&article=12802&lang=vn
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 12
Biểu đồ 4.1. Vai trò hạt gạo để có bữa cơm ngon
3%
20%
51%
26%
< 25%
Từ 25%-50%
(Nguồn: Tự tổng hợp thông qua bảng câu hỏi)
nh giá vai trò hạt gạo đó chỉ là bước nhận thức đầu tiên trong nhận thức nhu
cầu, bước tiếp theo là cần phải nhận thức nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng về đặc
tính gạo như thế nào? Điều này được thể hiện rõ ở biểu đồ sau đây.
(Nguồn: Tự tổng hợp thông qua bảng câu hỏi)
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 13
Biểu đồ 4.3. Xuất xứ gạo sử dụng
8%
0%
71%
10%
11%
(Nguồn: Tự tổng hợp thông qua bảng câu hỏi)
Biểu đồ này nói lên đa số người tiêu dùng đều sử dụng gạo có xuất xứ trong
nước thuộc dạng gạo đại trà chiếm tỷ lệ 71% là vì loại gạo này được bày bán rất phổ
biến trên thị trường nên dễ mua, dễ lựa chọn. Còn gạo có xuất xứ trong nước thuộc dạng
gạo của công ty chiếm tỷ lệ rất thấp với 8%, nguyên nhân là do các công ty sản xuất
kinh doanh gạo đều tập trung vào thị trường xuất khẩu vì thế loại gạo này chưa được
bày bán phổ biến ở thị trường trong nước nên rất ít được người tiêu dùng biết đến.
Bên cạnh đó, gạo có xuất xứ ngoài nước thuộc dạng gạo đại trà đã từng bước
len lõi vào thị trường trong nước và cũng được người tiêu dùng chọn sử dụng với tỷ lệ
10% cao hơn cả gạo trong nước thuộc dạng gạo của công ty. Đây là điều mà các doanh
nghiệp trong nước cần xem xét và nhìn nhận lại, bởi hiện nay nước ta đã gia nhập WTO
và một khi các doanh nghiệp ngoài nước nắm bắt được cơ hội này thì các doanh nghiệp
trong nước sẽ khó có được một chổ đứng ở chính thị trường của nước mình.
Ngoài ra, có 11% người tiêu dùng không biết loại gạo mình đang sử dụng, có
thể nói đây là những người tiêu dùng dễ tính, không quan tâm đến xuất xứ.
3
Nguồn: Hành vi tiêu dùng gạo của người dân Long Xuyên_Nguyễn Thị Kim Nhị - DH3KN1
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 14
Biểu đồ 4.4. Nguồn thông tin tham khảo
21%
51%
43%
12%
6%
0% 10% 20% 30% 40% 50% 60%
với 6%, điều này nói lên rằng cuộc sống của người dân thành thị hiện nay khá khép kín,
ít quan tâm trao đổi thông tin với những người xung quanh.
Tầm quan trọng của các tiêu chí chất lượng khi chọn mua gạo
Như chúng ta đã biết, khi chọn mua một sản phẩm nào đó sử dụng lâu dài thì
hầu hết người tiêu dùng đều quan tâm đến yếu tố chất lượng, do đó sản phẩm gạo cũng
không ngoại lệ.
Qua tổng kết dữ liệu thu thập thì người tiêu dùng cho rằng các tiêu chí chất
lượng như: không lẫn tạp chất, dễ nấu, hương thơm lâu và dễ bảo quản là các tiêu chí
quan trọng nhất khi chọn mua gạo. Và đây được xem là các tiêu chí cần thiết phải có đối
với gạo đạt chất lượng. Biểu đồ 4.5 sẽ chứng minh rõ về mức độ quan trọng đối với
từng tiêu chí chất lượng.
Xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới cho CT LTTP AG GVHD: Th.S Cao Minh Toàn
SVTH: Trần Thị Kim Tuyền Trang: 15
16% 24% 7% 9%
4%
10% 15%
2% 12% 9%
6% 8%
2%
8% 16%
38%
25%
13% 4%
2%
14% 25%
2%
Tiêu chí chất lượng không lẫn tạp chất được người tiêu dùng đánh giá quan
trọng nhất chiếm tỷ lệ 63%, cho thấy người tiêu dùng rất xem trọng đến vấn đề an toàn
vệ sinh trong hạt gạo nhằm để bảo vệ sức khỏe. Tiếp theo là tiêu chí dễ nấu chiếm tỷ lệ
quan trọng 45% vì dễ nấu sẽ cho cơm ngon không bị nhão, cứng hay sống với lượng
nước nhất định hay nấu mau chín cơm.
Đối với tiêu chí gạo cho hương thơm lâu và dễ bảo quản cũng chiếm mức độ
quan trọng tương đối nhiều 40%, 39% nhưng hiện nay đa số các loại gạo thơm được bán
bán trên thị trường chỉ tỏ ra hương thơm khi cơm còn nóng đến lúc nguội đã giảm hẳn
hay không còn hương thơm nữa, và gạo để lâu khoảng hơn một tháng thường bị sâu
mọt, ẩm móc. Do đó, các tiêu chí này cần xem xét lại khi sản xuất gạo đạt chất lượng
tung ra thị trường.
Phần lớn người tiêu dùng hiện nay đều cho rằng không có dư lượng hóa chất
trong hạt gạo nên mức độ quan trọng của tiêu chí này được đánh giá không cao chỉ
chiếm tỷ lệ quan trọng 34%, số đông người tiêu dùng quan tâm nhiều đến dư lượng hóa
chất là các nhân viên văn phòng hay các gia đình có thu nhập cao vì họ e ngại rằng hiện
nay các loại phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng,…được sử dụng nhiều khi trồng lúa,
còn 14% cho là bình thường vì có quan tâm đi chăng nữa cũng không biết được.
Các tiêu chí chất lượng được người tiêu dùng đánh giá ít quan trọng nhất là
kích thước hạt gạo và màu sắc hạt gạo sáng bóng, vì theo người tiêu dùng khi chọn mua
gạo thì kích thước hạt gạo như thế nào cũng được miễn sao hạt gạo đừng bị nát quá
nhiều là có thể chấp nhận. Và chỉ cần xem màu sắc hạt gạo không bị vàng là được chứ
không cần phải sáng bóng.