1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
BÀI KIỂM TRA GIỮA KỲ - THẢO LUẬN NHÓM
HỌC THUYẾT CHÍNH DANH CỦA KHỔNG TỬ
Giảng Viên: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh
Nhóm Sinh Viên Thực hiện: Nhóm 3
Hà Nội - 2011
2
vị minh quân để thực hiện chủ trương chính sách của mình nên sau đó ông
đành về quê viết sách và dạy học.
Xã hội cuối thời Xuân Thu có nhiều biến động, quyền hành thiên tử
nhà Chu rơi vào tay người khác, thiên tử không thể thống lĩnh được chư hầu,
các giai cấp trong xã hội mâu thuẫn sâu sắc, đặc biệt là giai cấp thống trị và
nhân dân lao động. Vua quan tìm mọi cách đàn áp bóc lột nhân dân, chính
sách cai trị là dùng chính và hình. Là một nhà tư tưởng, một người tham gia
quản lý đát nước, Khổng Tử luôn mong muốn một xà hội có tôn ti trật tự, có
trên có dưới, vua ra vua, tôi ra tôi, mọi người sống vui vẻ, hòa thuận, thiên
hạ thái bình, xã hội công bằng, không có người quá giầu, không có người
quá nghèo.
Cái “cốt” lý luận để xây dựng xã hội trên đó chính là Đạo Nhân - triết
lý về quản lý của Khổng tử.Trong đó nổi bật là Thuyết chính danh - một học
thuyết chính trị và quản lý của Khổng Tử.
2. Bối cảnh ra đời của học thuyết chính danh
Sinh thời Khổng tử thường nói với học trò rằng “(Ngô) thuật nhi bất
tác, tín nhi hiếu cổ” nghĩa là: Ta chỉ thuật lại mà không trước tác, tin vào đạo
lý đời xưa. Các nhà nghiên cứu về Nho giáo và Khổng tử ngày nay đều cho
rằng, trong các tác phẩm như Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, Luận
Ngữ… thì chỉ có quyển Luận Ngữ được xem là đáng tin cậy nhất vì những
lời phát biểu của Khổng tử trong sinh thời mà phần lớn là đàm thoại với học
trò của ngài và được học trò ghi chép lại. Do đâu mà Khổng tử đề ra học
thuyết “Chính danh”?
Trong thời đại của mình, Khổng Tử nhận thấy tình trạng rối ren, phức tạp
4
của xã hội phong kiến thời Chu. Xã hội mà tôn ti trật tự bị rối ren, đảo lộn.
Khổng Tử lấy làm tiếc cái thời đầu nhà Chu như Chu Võ Vương, Chu
Công… sao mà thời đại tươi đẹp, phong hóa tốt đến thế! Ngài nhìn thấy tình
cảnh “tôi thí vua, con giết cha không phải nguyên nhân của một sáng một
- Khổng tử đáp: Anh Do quê mùa này! Người quân tử có điều gì mình
không biết thì bỏ qua mà không nói. Nay danh bất chính tất lời nói không
thuận. Lời nói mà không thuận tất việc chẳng thành. Việc chẳng thành thì tất
lễ nhạc không hưng thịnh. Lễ nhạc không hưng thịnh thì tất hình phạt chẳng
đúng phép, hình phạt mà không đúng khuôn phép thì tất dân không biết đặt
tay chân vào đâu để nhờ cậy. Cho nên người quân tử quan niệm được danh
ắt nói ra được, mà nói ra được tất làm được. Người quân tử nói ra điều gì
nên dè dặt không cẩu thả được!”
Câu này được nói trong hoàn cảnh vua Xuất công nước Vệ đã chiếm
ngôi vua của cha mình một cách không hợp pháp, đồng thời ông vua này lại
mời Khổng Tử ra làm tướng quốc cho ông ta. Nếu Khổng Tử ra thì có nghĩa
là thừa nhận Xuất công lên ngôi vua hợp pháp. Vua Vệ lên ngôi không đúng,
việc này được xem là hiện tượng tiêu biểu nhất cho tình hình vua chẳng ra
vua, thần chẳng ra thần, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con… ở thời Khổng
Tử. Trong hoàn cảnh như vậy phải chính danh. Vậy chính danh ở đây bao
gồm cả nội dung cần phải cải tổ lại hệ thống chính trị để danh đúng với thực,
lúc đó danh sẽ đúng với việc làm, việc làm sẽ thành…
Nguyễn Hiến Lê viết trong Hồi Ký của mình rằng “Thuyết chính danh
của ông (Khổng Tử) đẻ ra thuyết giết một bạo chúa là giết một tên thất phu
của Mạnh, bắt bọn cầm quyền phải có đức, phải thương dân; ông điều chỉnh
lại quyền lợi, nghĩa vụ của vua tôi; ông lại đào tạo một giai cấp mới: Kẻ sĩ
6
để trị nước, thay thế bọn quý tộc thiếu tài, thiếu đức, giai cấp đó đa số sống
ở trong giới bình dân, địa chủ mới và thương nhân mà ra.”
Học thuyết chính danh của Khổng tử không chỉ chỉ được áp dụng
trong chính trị, cai trị mà còn được ông áp dụng trong cách gọi tên sự vật, đồ
vật. Sách Nho giáo có câu chuyện về cái bình đựng rượu được gọi là cái
“cô”. Thời trước Khổng tử, cái bình đựng rượu có cạnh góc người ta gọi là
cái “cô”. Đến đời Khổng tử, người ta làm cái bình đựng rượu bỏ cạnh góc đi
thân bất chính, tuy lệnh bất tòng. Luận Ngữ, thiên Tử Lộ)
Người cầm quyền thời nào cũng phải nêu cao cái đức của mình. Theo
Khổng tử, người cầm quyền trước hết phải sửa mình cho đoan chính cái đã.
Đó là ý tứ trong câu bốn chữ của Khổng tử “chính giả, chính dã”. Người
cầm quyền theo Khổng tử phải là người quân tử, vì người quân tử ắt phải rèn
đức tức là tu thân, rồi sau đó mới có quyền bắt người trong nhà khuôn theo
phép tắc mà ông ta đưa ra tức là tề gia. Có tề gia giỏi thì mới có thể trị quốc
tốt, ngày nay có thể gọi là lãnh đạo quốc gia, quản lý xã hội. Có trị quốc tốt
thì thiên hạ mới theo về mình thì coi như đã bình được thiên hạ rồi. Theo ý
kiến cá nhân chúng tôi, thuật “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” được
hiểu là như vậy.
Ta thử ví dụ, nếu lãnh đạo của chúng ta tham nhũng, mất đức thì nói ai
nghe? Con cái trong nhà họ chưa chắc là nghe họ nữa là. Như thế thì họ có
tư cách gì để lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo xã hội nữa? Lại càng không có tư
cách đứng trên trường quốc tế để phát biểu. Trường hợp như vậy họ đã mất
chính danh, làm mất luôn chức vụ cũng giống như các vua chúa thời xưa
một khi đã mất chính danh thì mất luôn thân phận làm vua.
8
Vì vậy muốn chính danh thì thân phải chính(có nhân),không chấp
nhận thói xảo trá,lừa lọc hoặc việc lạm dụng chức quyền. Đã mang cái danh
vua phải làm tròn trách nhiệm của một vị vua, không sẽ mất cả danh và ngôi
Khi việc làm vượt quả trách nhiệm và danh vị.Khổng Tử gọi đó là
“việt vị”.Một quan đại phu mà cử lễ như một vị thiên tử thì mắc tội “tiếm
lễ”,”khi quân”.Khổng Tử cho rằng mầm mống của loạn lạc bất ổn của quốc
gia là các hành vi “việt vi”,”tiếm lễ” của tầng lớp cai trị.Ông yêu cầu họ phải
gương mẫu thực hiện đúng “chính danh”,i giữ phận nấy và làm tròn phận sự
của mình,xã hội nhờ đó trở nên có trật tự,kỷ cương,thịnh trị.
Do đó.học thuyết chính danh tuy là được Khổng tử phát kiến cách đây
hơn 2.500 năm nhưng vẫn còn giá trị của nó. Tuy học thuyết là của người
vượt quyền, không phải việc của mình thì không quan tâm, thưởng phạt
công tâm, trong tình cảm ông dựa vào tình cảm thân - sơ, nhưng trong công
việc quản lý ông đòi hỏi phải công minh,rõ ràng; ai có tội thì phạt, ai làm tốt
thì phải được thưởng sứng đáng
Thời ông,ông mong sao cho có ông vua nào dùng mình, vì ông tin
rằng nếu có ông vua nào dùng mình thì chỉ vài năm thôi, ông sẽ làm cho
nước đó cường thịnh. Nhưng thực tế thầy trò ông, đi hết nước này đến nước
nọ, tìm cách này hay cách nọ để truyền đi bản ý của ngài đến các ông vua,
cố tìm cách để cho họ dùng mình nhưng rốt cục ngài đã thất bại. Có lần ông
và học trò còn bị vây khốn suýt chết ở nước Trần và Thái vì họ cho rằng,
ông có tài như vậy, nếu đến giúp nước nào thì nước đó mạnh lên thì họ sẽ
nguy mất. Thật là chua xót cho thầy trò ông!
“Chính giả, chính dã” là một châm ngôn bất hủ của Khổng tử. Nghĩa
là muốn được chính danh thì lời nói và hành động phải đúng đắn. Muốn làm
10
bậc chính danh quân tử thì lời nói và hành động phải đúng đắn. Nói suông e
không được đâu! Lời nói và việc làm có đúng đắn thì người mới theo về.
Chừng nào mà vua còn làm tròn thiên mệnh, nhân dân dưới quyền cai
trị của vua được hưởng hòa bình và hạnh phúc thì đó là vua hiền, con người
vua là thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Muốn như vậy ông vua, chẳng
hạn, còn phải siêng năng lên nữa để làm tròn trách nhiệm của một ông vua.
Trái lại, nếu đó là một ông vua ác độc, mà sự cai trị hà khắc làm cho nhân
dân điêu đứng khổ sở, thì tức là ông vua ác đó đã đánh mất chính danh và có
thể sẽ bị mất luôn ngôi vua và mệnh trời và nhân dân có quyền chính đáng
nổi dậy, lật đổ ông vua ác độc đó và cử người khác lên thay thế. Thay bậc
đổi ngôi cũng là do mệnh trời. Nếu cuộc khởi nghĩa thành công, một ông
vua khác lên thay, thì đó cũng hợp chính danh và hợp với mệnh trời. Nếu
không phải thì cuộc khởi nghĩa đó thất bại.
Trường hợp của hai ông vua Kiệt, Trụ là điển hình vì không làm tròn
nêu cao những tấm gương người tốt, việc tốt tiêu biểu để thu phục được lòng
tin của nhân dân.
Trong quản lý ngày nay thuyết chính danh có vai trò lớn : người quản
lý muốn quản lý tốt công việc của mình thì hành động phải đi đôi với lời nói,
nhà quản lý phải có “danh” (cấp bậc chức vụ rõ ràng ) bởi vì danh có chính
thì ngôn mới thuận .Khi đó lời nói của nhà quản lý mới có hiệu quả ,khiến
cho cấp dưới nghe theo.Tuy nhiên không chỉ có danh mà người quản lý cần
có “ thực” (thực lực, khả năng ).Có danh mà không có thực thì quản lý cũng
không hiêu quả .Vì vậy để quản lý được hiệu quả thì nhà quản lý cần có đủ 2
yếu tố là :danh và thực
Với đối tượng bị quản lý : cần làm đúng với chức vụ và công việc
được giao ,ai ở vị trí nào thì làm đúng ở vị trí ấy.Tuy nhiên công việc quản
12
lý là rất linh hoạt .Người quản lý có thể điều chỉnh giữa các bộ phận với
nhau .Đó là sự kết hợp để đạt mục tiêu chung.
Đất nước ta đang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá,
xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó,
một xã hội trật tự, ổn định có tầm quan trọng đặc biệt. Vì vậy, việc kế thừa
tư tưởng chính danh của Khổng Tử là rất cần thiết, để làm được điều đó,
chúng ta phải xây dựng một lối sống lành mạnh cùng với những chuẩn mực
mới về danh. Vì chính những quan hệ đạo đức, cách ứng xử giữa người với
người là nền tảng của trật tự xã hội, chúng ta phải lấy chúng ta mà rèn luyện,
đó là phải xây dựng cho mình một lẽ sống hay một đạo lý phù hợp với chế
độ mới. Lẽ sống, đạo lý đó là mình vì mọi người thì mọi người mới vì mình,
đây là quan hệ hai chiều tạo ra sự đồng thuận giữa người với người và sự
đồng thuận trong xã hội. Muốn làm được điều đó trước hết chúng ta phải
giáo dục cho thế hệ trẻ truyền thống yêu nước yêu thương con người kính
trọng, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, tôn sư trọng đạo,… Đối với đội ngũ cán
bộ công chức phải là “công bộc” của nhân dân, lời nói phải đi đôi với việc
xét ý kiến của cấp dưới để đưa ra quyết định tốt nhất)
Qua thuyết chính danh ta thấy Khổng Tử đã dùng “danh” quy đinh
“thực” mà không phải dùng “thực” quy định “danh”, làm giàu cho danh là tư
tưởng bảo thủ, lạc hậu chống lại quy luật khách quan của xã hội.
Nhận xét chung:
Quy tắc chính danh đưa tới quy kết: ai ở địa vị nào cũng phải làm tròn
trách nhiệm, vai ai giữ phận ấy, không được việt vị nghĩa là không được
hưởng những quyền lợi cao hơn quyền vị của mình. Như Khổng Tử với tư
14
cách là một đại phu trí sĩ, có trách nhiệm khuyến cáo Lỗ trừng trị một nghịch
thần của một nước bạn, và ông đã theo chính danh nghiêm cẩn làm tròn
trách nhiệm đó
Mặc gia và Danh gia cũng chính danh nhưng với mục đích lý luận
Tuân Tử chính danh vừa để phân biệt kẻ sang kẻ hèn vừa để phân biệt
vật giốn với nhau. Nghĩa là với cả hai mục đích luân lý và lý luận
Vậy là thuyết chính danh của Khổng Tử đã gợi ý cho nhiều triết gia
đời sau, vừa trực tiếp, vừa gián tiếp làm cho triết học Trung Hoa thêm phong
phú
Nhận xét của Nguyễn Hiến Lê: Thuyết chính danh của Khổng Tử về
chính trị tuy hàm ý bảo thủ: phải trọng những danh cũ, phải hành động hợp
với tiêu chuẩn cũ, nhưng Khổng Tử không phải là không tạo ra danh từ mới
hoặc danh từ cũ nhưng nội dung mới.