MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế thị trường hệ thống ngân hàng được ví như hệ thần
kinh của cả nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng các quốc gia hoạt động thông
suốt, lành mạnh và hiệu quả sẽ là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân
chuyển, phân bổ và sử dụng có hiệu quả kích thích tăng trưởng kinh tế một
cách bền vững. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong kinh
doanh là không thể tránh khỏi, mà đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng có phản ứng dây chuyền, lây lan và ngày càng có những
biểu hiện phức tạp. Sự sụp đổ của ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ
đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một đất nước và có thể lan rộng sang
quy mô quốc tế.
Như vậy, các ngân hàng muốn hoạt động lành mạnh và hiệu quả thì phải
tự chủ về tài chính. Để thực sự tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chủ
về tài chính các NHTM phải tiến hành phân tích tài chính. Phân tích tài chính
sẽ giúp các nhà quản lý, các nhà kinh doanh, chủ doanh nghiệp và những
người quan tâm nắm được tình hình tài chính cũng như toàn bộ hoạt động
kinh doanh của ngân hàng, để từ đó có những giải pháp hữu hiệu nhất cho
hoạt động của ngân hàng mình.
Sacombank đã nhận rõ được tầm quan trọng của hoạt động phân tích tài
chính, đã không ngừng quan tâm đến hoạt động này và đã đạt được nhiều kết
quả rất khả quan. Tuy nhiên, việc thực hiện hoạt động phân tích tài chính tại
Sacombank vẫn chưa được đầy đủ và toàn diện, xuất phát từ thực tế đó và với
mong muốn được đóng góp vào sự phát triển và lớn mạnh của Sacombank nói
riêng và của hệ thống các NHTM nói chung, tôi đã lựa chọn đề tài: “Hoàn
1
thiện hoạt động phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương
Tín” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động phân tích tài
chính tại Sacombank để đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH CỦA NHTM
1.1.Tổng quan về hoạt động của NHTM.
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ. Hầu hết các
hoạt động của NHTM là các hoạt động tài chính nên có tính nhạy cảm cao và
tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các hoạt động chủ yếu của NHTM bao gồm:
- Nhận tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng
nhất của NHTM. Tiền gửi của khách hàng bao gồm: Tiền gửi thanh toán;
Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội; Tiền gửi tiết kiệm
của dân cư và Tiền gửi của các ngân hàng khác.
- Cho vay: Tín dụng là hoạt động đặc trưng và đem lại thu nhập chủ yếu
của các NHTM. Tuy nhiên hoạt động này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, vì vậy định
hướng phát triển của các NHTM phần lớn đều là giảm dần tỷ trọng thu nhập
trong hoạt động cho vay và tăng dần tỷ trọng thu nhập từ các sản phẩm dịch
vụ.
Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau: Theo thời hạn
gồm: Tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; Theo hình thức tài trợ gồm:
cho vay, bảo lãnh, cho thuê; Theo đảm bảo gồm: không có đảm bảo và có đảm
bảo; ....
- Đầu tư chứng khoán: Các NHTM có thể đầu tư vào chứng khoán, đây
là loại hình đầu tư phổ biến nhất trong tài sản có của các NHTM tại các nước
phát triển. Chứng khoán bao gồm: trái phiếu (trái phiếu kho bạc, trái phiếu
chính quyền địa phương) và cổ phiếu.
- Hoạt động liên kết: Ngân hàng có thể tham gia góp vốn với các tổ chức
khác như tham gia hùn vốn vào các ngân hàng liên doanh, các công ty,...
4
Ngoài các hoạt động tài chính trên NHTM còn cung cấp các dịch vụ
như: dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, chi trả kiều hối,...
1.2.Phân tích tài chính của NHTM.
1.2.1. Khái niệm hoạt động phân tích tài chính NHTM.
doanh, để từ đó có những điều chỉnh kịp thời giúp ngân hàng không đi chệch
hướng.
-> Phân tích tài chính của ngân hàng còn là điều kiện cần thiết cho cơ
quan quản lý có cơ sở đưa ra các biện pháp thích hợp trong việc huy động vốn
và sử dụng vốn một cách hiệu quả hơn nhằm góp phần hạn chế rủi ro và nâng
cao lợi nhuận cho Ngân hàng.
+ Đối với nhà đầu tư: đánh giá kết quả kinh doanh và khả năng sinh lời
của ngân hàng để có quyết định đầu tư đúng đắn.
+ Đối với người gửi tiền: đánh giá khả năng thanh toán của ngân hàng
+ Đối với Ngân hàng Nhà nước: Nắm được tình hình kinh doanh, mức
độ an toàn, minh bạch trong hoạt động kinh doanh của các NHTM để có
những chính sách quản lý và những biện pháp xử lý kịp thời nhằm đảm bảo
hoạt động của hệ thống ngân hàng được lành mạnh và hiệu quả.
+ ......
1.2.3. Các phương pháp phân tích tài chính NHTM.
1.2.3.1. Phương pháp so sánh:
- Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến để đánh giá kết quả, xác
định vị trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Khi phân tích, các
nhà phân tích thường so sánh theo thời gian (so sánh kỳ này với kỳ trước) để
nhận biết được xu hướng thay đổi tình hình tài chính của ngân hàng và so
sánh theo không gian (so sánh với mức bình quân của ngành, với các đơn vị
khác) để đánh giá vị thế của ngân hàng trong ngành.
6
- Để áp dụng phương pháp so sánh, cần chú ý đến các vấn đề sau:
+ Điều kiện so sánh được của các chỉ tiêu: Để so sánh được với nhau,
các chỉ tiêu phải đảm bảo các điều kiện có thể so sánh. Các chỉ tiêu sử dụng để
so sánh phải thống nhất về nội dung phản ánh, phương pháp tính toán, về thời
gian và đơn vị đo lường. Nếu không thống nhất các điều kiện so sánh, việc so
sánh sẽ không có giá trị, thậm trí còn phản ánh sai lệch thông tin.
+ Gốc so sánh: Để so sánh cần phải có gốc so sánh. Việc xác định
chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ lệ nào đó của một NHTM.
Thứ hai: Việc áp dụng các công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu
và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ.
Thứ ba: Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có
hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo
chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
Nhược điểm của phương pháp này là sự rời rạc, không liên kết trong hệ
thống các chỉ số.
1.2.3.3. Phương pháp Dupont:
Là phương pháp phân tích tài chính nhằm đánh giá sự tác động hỗ trợ
giữa các tỷ số tài chính, biến một chỉ tiêu tổng hợp thành một hàm số của một
loạt biến số. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với
tỷ số tổng hợp. Như vậy, với phương pháp phân tích này các nhà phân tích sẽ
nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động
của NHTM. Đây cũng chính là ưu điểm của phương pháp phân tích tài chính
này với khả năng khắc phục nhược điểm của hai phương pháp trên. Thực tế
cho thấy phương pháp này đã được áp dụng ở nhiều nước và đang bắt đầu
8
được áp dụng ở Việt Nam.
1.2.3.4. Phương pháp phân tích định tính.
Đây là phương pháp phân tích bổ sung cho phương pháp phân tích định
lượng, khắc phục những nhược điểm của phương pháp phân tích định lượng
là không tạo ra được tính liên kết, tổng hợp giữa các thông tin phục vụ phân
tích được phân theo các nhóm khác nhau.
Phương pháp phân tích này có thể sử dụng kết quả từ phương pháp
định lượng để đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, phân tích các cơ hội và
những mối đe doạ đối với hoạt động tài chính của ngân hàng để từ đó có thể
đề ra các chiến lược, tận dụng các cơ hội để phát huy điểm mạnh, khắc phục
điểm yếu.
1.2.4. Nội dung của hoạt động phân tích tài chính NHTM.
đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh phần lớn lợi nhuận được tạo ra từ hoạt
động sản xuất, buôn bán do đó họ cần nhiều máy móc, thiết bị, nguyên vật
liệu, hàng hoá tồn kho,…Ngược lại, lợi nhuận chủ yếu của NHTM có được từ
việc cho vay và đầu tư, cho nên NHTM nắm giữ nhiều trái phiếu, kỳ phiếu và
các công cụ tài chính khác làm cơ sở cho các khoản tiền tệ sẽ được thanh toán
trong tương lai.
- Phần ngoại bảng: Ngoài các giao dịch được phản ánh trong nội bảng,
các Ngân hàng còn tham gia vào các hoạt động khác nữa và các hoạt
động này được theo dõi ở các tài khoản ngoại bảng như: Bảo lãnh
ngân hàng, các giao dịch về hối đoái như: giao dịch swaps, options,
futures, các chứng từ có giá, các cam kết mua bán không hạch toán
nội bảng,…Mặc dù sự biến động của các giao dịch ngoại bảng không
làm thay đổi kết cấu, cân số của Bảng cân đối kế toán nhưng vì nó
10
cũng là một hiện tượng kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh
nên độ rủi ro của nó cũng tác động mạnh mẽ đến độ an toàn và kết
quả kinh doanh chung của của ngân hàng.
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Phản ánh các khoản thu
nhập và chi phí diễn ra trong kỳ. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản
ánh tập trung nhất kết quả kinh doanh trong kỳ của ngân hàng.
Thu nhập của ngân hàng: gồm thu nhập lãi; thu nhập từ hoạt động dịch
vụ; hoạt động kinh doanh chứng khoán; hoạt động kinh doanh ngoại hối; thu
nhập từ hoạt động khác và thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần. Thu nhập lãi từ
các tài sản sinh lãi như thu lãi tiền gửi, thu lãi cho vay, thu lãi chứng khoán,…
Thu nhập khác bao gồm các khoản thu ngoài lãi như thu phí, chênh lệch tỷ
giá,…
Chi phí của ngân hàng: Gồm chi phí trả lãi; chi phí hoạt động dịch vụ;
chi phí kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại hối; chi phí hoạt động
khác; chi phí hoạt động; chi phí dự phòng rủi ro và chi phí thuế thu nhập
doanh nghiệp.
quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động của
NHTM. Tiền gửi của khách hàng bao gồm: Tiền gửi thanh toán; Tiền gửi có kỳ
hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
Tiền gửi thanh toán là nguồn có lãi suất thấp nhưng yêu cầu chi trả lại rất
cao, yêu cầu dự trữ cao. Khả năng sử dụng nguồn vốn này để cho vay đầu tư
trung dài hạn là rất thấp.
-> Phân tích tỷ trọng nguồn tiền gửi và vay của các TCTD: Tiền gửi của
các TCTD chủ yếu nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ, tuy nhiên nguồn này
12
thường không lớn.
-> Phân tích tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn và trung dài hạn: Phân tích kỳ
hạn danh nghĩa của nguồn tiền cho phép Ngân hàng đánh giá được tính ổn
định tương đối của nguồn vốn, tính toán khả năng hoán chuyển kỳ hạn của
nguồn vốn ngắn hạn, xác định thị phần và khả năng tăng trưởng quy mô của
mỗi loại.
+ Rủi ro thiếu vốn khả dụng tức thời: “Hệ số vốn khả dụng” - Hệ số này
đánh giá khả năng chi trả cho khách hàng trong một thời gian ngắn, tức là khả
năng đáp ứng yêu cầu rút tiền của người gửi.
+ Rủi ro chuyển hoán vốn: “Hệ số chuyển hoán vốn” - Hệ số này đánh giá
mức sử dụng nguồn vốn ngắn hạn ổn định để cho vay dài hạn của ngân hàng.
-> Phân tích tỷ trọng nguồn tiền gửi bằng VNĐ và bằng các ngoại tệ
khác: Lãi suất huy động bằng ngoại tệ thường thấp hơn bằng nội tệ, do vậy tỷ
trọng ngoại tệ trong tổng tiền gửi ảnh hưởng tới tình hình tài chính của Ngân
hàng. Tuy nhiên, nếu tỷ giá có tính ổn định không cao, việc cho vay bằng
ngoại tệ sẽ gặp khó khăn, việc chuyển từ tiền gửi loại này sang loại khác do
biến động tỷ giá và lãi suất cũng gây rủi ro tài chính cho ngân hàng.
-> Phân tích tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm trong tổng tiền gửi: ở hầu hết các
ngân hàng tiết kiệm là nguồn huy động lớn nhất. Tuy lãi suất cao hơn các loại
tiền gửi khác song tính ổn định của tiết kiệm cao, là nguồn chính để cho vay
và đầu tư.
giá khả năng phân tán rủi ro, không tập trung vốn cho một khách hàng hoặc
một số khách hàng quá lớn. Người ra thường đánh giá khả năng này của một
ngân hàng theo chỉ tiêu Hệ số phân tán rủi ro.
Đối với các NHTM tại Việt Nam, vốn tự có là căn cứ để xác định các
giới hạn: Đầu tư cổ phần hoặc liên doanh không quá 50% vốn tự có; Cho vay
14
các đối tượng ưu đãi không quá 5% vốn tự có; Cho vay tối đa đối với một
khách hàng không quá 15% vốn tự có; Tổng số tiền cho vay và bảo lãnh đối
với một khách hàng của một tổ chức tín dụng không được vượt quá tỷ lệ 25%
so với vốn tự có của tổ chức tín dụng đó.
* Phân tích tài sản:
Tài sản của NHTM bao gồm: Tiền mặt, vàng bạc, đá quý; Tiền gửi tại
NHNN; Tiền, vàng gửi tại các TCTD khác và cho vay các TCTD khác;
Chứng khoán kinh doanh; Các công cụ tài chính phái sinh và các tài sản tài
chính khác; Cho vay khách hàng; Chứng khoán đầu tư; Góp vốn đầu tư dài
hạn; Tài sản cố định; Bất động sản đầu tư và Tài sản có khác.
Khi phân tích tài sản của NHTM tập trung vào các vấn đề sau:
- Phân tích quy mô và tốc độ tăng trưởng các khoản mục tài sản (so với
kế hoạch hoặc kỳ trước).
- Phân tích quy mô và tốc độ tăng trưởng của tài sản sinh lãi đặc biệt là
cho vay khách hàng, chứng khoán kinh doanh và đầu tư. Tài sản sinh lãi là tài
sản mang lại thu nhập từ lãi cho ngân hàng như cho vay, đầu tư và các loại
tiền gửi khác. Một số tài sản sinh lời song không được xếp vào tài sản sinh lãi
cho ngân hàng như: tài sản cho thuê, ngân quỹ dùng để kinh doanh ngoại tệ,
…
- Phân tích chất lượng tài sản, trong đó chủ yếu tập trung vào chất lượng
các khoản đầu tư và cho vay. Chất lượng tài sản là chỉ tiêu tổng hợp nói lên
khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời, năng lực quản lý và
phần lớn rủi ro trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Chất lượng tài sản là yếu
tố quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong đó chất
+ Hệ số bù đắp nợ không có khả năng thu hồi = Quỹ dự phòng rủi ro/
Nợ không có khả năng thu hồi. Hệ số này nhất thiết phải = 1, nếu <1 thể hiện
16
ngân hàng không bù đắp được nợ không có khả năng thu hồi.
Phân tích chất lượng tín dụng còn được đánh giá trên giác độ tài sản
đảm bảo của khoản vay, vì tài sản đảm bảo tiền vay làm giảm nhẹ mức độ
nghiêm trọng của nợ tồn đọng.
Việc đánh giá chất lượng tín dụng là rất quan trọng và cần thiết. Nó
được xem xét dưới các mặt sau:
Mức độ tuân thủ nguyên tắc phân tán rủi ro cho vay đối với một khách
hàng, cho vay một nhóm khách hàng và cho vay vào một lĩnh vực nào đó có
quá mức cho phép không.
Nợ quá hạn và mức độ quá hạn: Đây là chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá
hoạt động của một ngân hàng, phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng rất
rõ nét. Nó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng trong hiện tại và
tương lai.
- Cơ cấu tài sản và sự thay đổi cơ cấu tài sản: NHTM là doanh nghiệp kinh
doanh tiền tệ nên phần lớn tài sản của ngân hàng là các tài sản tài chính như: tiền
gửi, chứng khoán, các hợp đồng cho vay,... Một phần nhỏ trong khối tài sản của
ngân hàng là tài sản cố định như: nhà cửa, trang thiết bị,... Tài sản của NHTM
cũng có thể được chia thành: tài sản sinh lãi và tài sản không sinh lãi.
Trong tổng thu nhập của ngân hàng thì thu nhập từ lãi chiếm tỷ trọng
chủ yếu. Thu nhập này phụ thuộc vào cơ cấu, quy mô và lãi suất của các tài
sản sinh lãi. Tài sản sinh lãi chủ yếu là: cho vay khách hàng; chứng khoán đầu
tư và các khoản tiền gửi. Các NHTM cần xác định cơ cấu tài sản phù hợp để
vừa đảm bảo khả năng sinh lời đã đặt ra, vừa đảm bảo an toàn trong hoạt
động kinh doanh.
- Xu hướng phát triển của từng mục tài sản: Để dự đoán được xu hướng
thay đổi trong cơ cấu tài sản thì cần căn cứ vào kế hoạch, chiến lược phát
triển của ngân hàng và nhận định được những nhân tố ảnh hưởng đến sự thay
xu hướng giảm.
+ Chênh lệch lãi suất = (Thu nhập lãi – Chi phí trả lãi)/Tài sản sinh lãi
+ ROA = Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản
+ ROE = Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu
Các chỉ tiêu trên phản ánh mức sinh lời trên tổng tài sản hoặc trên vốn
chủ sở hữu. Với mục tiêu chủ yếu là tối đa hoá lợi ích của chủ sở hữu, ROE là
chỉ tiêu được các nhà ngân hàng quan tâm nhất.
- Mối liên hệ an toàn:
Ngân hàng phải duy trì các mối liên hệ an toàn theo luật định, ví dụ
như: khoản cho vay cao nhất đối với một khách hàng không vượt quá tỷ lệ
quy định trên vốn chủ sở hữu; Đầu tư cổ phần hoặc liên doanh không vuợt
quá tỷ lệ quy định trên vốn chủ sở hữu; ....
Quy mô và cấu trúc tiền gửi liên quan chặt chẽ đến ngân quỹ và chứng
khoán thanh khoản cũng như kỳ hạn nợ của các khoản tín dụng. Một số ngân
hàng từ cấu trúc, tính ổn định và thanh khoản của nguồn tiền sẽ quyết định
cấu trúc và tính thanh khoản của tài sản. Ngược lại, một số ngân hàng từ cấu
trúc và tính thanh khoản của tài sản dự tính sẽ tìm kiếm và quản lý quy mô và
cấu trúc nguồn vốn cho thích hợp.
+ Sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn vốn và tài sản được đo
bằng “Khe hở lãi suất”.
Khe hở lãi suất = Tài sản nhạy cảm lãi suất - Nguồn nhạy cảm lãi suất.
Tài sản và nguồn vốn nhạy cảm thường là các loại mà số dư nhanh
chóng chuyển sang lãi suất mới khi lãi suất thay đổi (thường là các tài sản và
nguồn vốn có kỳ hạn từ 12 tháng trở xuống, lãi suất thả nổi hoặc có kỳ đáo
hạn dưới 12 tháng). Ngân hàng có khe hở lãi suất dương nếu tài sản nhạy cảm
lớn hơn nguồn vốn nhạy cảm (kỳ hạn huy động dài hơn sử dụng) và có khe hở
19
âm nếu tài sản nhạy cảm nhỏ hơn nguồn nhạy cảm (kỳ hạn huy động nhỏ hơn
sử dụng).
khác nhau, nhưng thông thường được lượng hoá qua một số chỉ tiêu cơ bản:
+ Hệ số vốn khả dụng = Tổng tài sản có thời hạn dưới 1 tháng (nội
bảng và ngoại bảng)/ Tổng các khoản nợ phải thanh toán trong vòng một
tháng (nội bảng và ngoại bảng).
Các nhu cầu thanh toán bao gồm:
• Nhu cầu rút tiền của người gửi: Các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân
có tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi khác,...
• Nhu cầu tín dụng hợp pháp của khách hàng để thanh toán tiền hàng
hoá, dịch vụ mà ngân hàng cam kết cho vay.
• Các khoản tiền vay đến hạn trả.
• Lãi phải trả cho các khoản tiền gửi, tiền vay.
Trong đó: nhu cầu rút tiền và vay tiền của khách hàng là hai bộ phận
quan trọng nhất.
Hệ số vốn khả dụng đòi hỏi các NHTM phải tuân thủ một cách thường
xuyền và vào bất kỳ thời điểm nào. Nếu hệ số vốn khả dụng <1 là biểu hiện
ngân hàng bị đe doạ về khả năng thanh toán và tính linh hoạt trong kinh
doanh có vấn đề.
Ở Việt Nam, TCTD phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi
trả đối với từng loại đồng tiền, vàng như sau:
+ Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản có thể thanh toán ngay và
Nợ phải trả sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo.
+ Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản có thể thanh toán ngay trong
khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng Nợ phải trả phải thanh
21
toán trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo.
Tài sản có thể thanh toán ngay: bao gồm: Tiền mặt, vàng, tiền gửi tại
NHNN (trừ tiền gửi dự trữ bắt buộc); Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi
không kỳ hạn tại TCTD khác và tiền gửi không kỳ hạn nhận của TCTD đó;
Các loại chứng khoán do Chính phủ Việt Nam phát hành hoặc được Chính
phủ Việt Nam bảo lãnh: 100% giá trị sổ sách nếu thời hạn còn lại từ 1 năm trở
-> Nhóm nhân tố cạnh tranh trên địa bàn giữa các trung tâm tài chính
như chính sách huy lãi suất huy động, chính sách tín dụng,.. của mối tổ chức
tín dụng.
-> Nhóm nhân tố tạo nên sức mạnh và uy tín của bản thân ngân hàng
như nguồn lực, công nghệ, thị phần, uy tín,..
b/ Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh.
- Phân tích doanh thu: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của các
TCTD là số tiền thu được trong kỳ bao gồm:
+ Thu từ hoạt động kinh doanh gồm: thu từ hoạt động tín dụng, thu
lãi tiền gửi, thu dịch vụ, thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng, thu
lãi góp vốn, mua cổ phần, thu từ hoạt động mua bán nợ, thu về chênh lệch tỷ
giá, thu từ hoạt động kinh doanh khác.
+ Thu khác gồm: các khoản thu từ việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố
định, thu về các khoản vốn đã được xử lý bằng dự phòng rủi ro, thu kinh phí
quản lý đối với các công ty thành viên độc lập; thu tiền phạt do khách hàng vi
phạm hợp đồng và các khoản thu khác.
* Nội dung khi phân tích doanh thu của ngân hàng:
- Phân tích quy mô và cơ cấu các khoản mục thu nhập qua các thời kỳ
- Phân tích sự thay đổi của khoản mục thu nhập và các nhân tố ảnh
23
hưởng.
- Phân tích các khoản mục thu nhập quan trọng như thu nhập từ lãi
hoặc có tốc độ tăng trưởng nhanh.
Tổng thu từ lãi = Thu lãi từ cho vay + Thu lãi từ các khoản tiền gửi
+ Thu lãi từ chứng khoán nợ + Thu lãi từ cho thuê
Thu lãi được tính cho từng khoản mục tài sản chi tiết, từng khách hàng
với lãi suất khác nhau, thời gian khác nhau.
Thu từ lãi đóng vai trò quan trọng đối với ngân hàng và là kết quả tài
chính quan trọng được quan tâm hàng đầu. Phần lớn các NHTM thu lãi chiếm
bộ phận chủ yếu trong thu nhập và quyết định độ lớn của thu nhập ròng.
-> Chi cho việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
-> Chi cho thuê, đi thuê tài sản.
-> Chi nhượng bán, thanh lý tài sản.
-> Chi cho hoạt động liên doanh, hợp doanh, góp vốn cổ phần.
-> Chi cho việc mua bán nợ giữa các TCTD.
-> Chi cho việc thu hồi các khoản tổn thất tài sản còn lại sau khi
đã bù đắp bằng các nguồn theo quy định.
-> Các khoản chi khác.
Chi trả lãi là khoản chi lớn nhất của ngân hàng và có xu hướng gia tăng
do gia tăng quy mô huy động cũng như kỳ hạn huy động (lãi suất cao hơn khi
kỳ hạn huy động dài hơn). Tiền gửi thường chiếm tỷ trọng cao hơn nên trả lãi
tiền gửi là bộ phận chủ yếu trong chi trả lãi. Lãi suất của các khoản vay cao
hơn lãi suất tiền gửi (với cùng kỳ hạn), do vậy nếu ngân hàng gia tăng vay chi
25