LUẬN VĂN: Chiến lược và kế hoạch kinh doanh tại Công ty kim khí Hà Nội - Pdf 11



LUẬN VĂN:

Chiến lược và kế hoạch kinh
doanh tại Công ty kim khí Hà Nội
Mở đầu

theo sự chỉ đạo thống nhất của công ty ”.
Công ty kim khí Hà Nội có nhiệm vụ mua bán bảo quản, quản lý kim khí, tiến hành
sản xuất và các hoạt động dịch vụ phục vụ các nhu cầu về kim khí cho các đơn vị tiêu
dùng và sản xuất thuộc địa bàn Hà Nội và trong cả nước. Cụ thể Công ty có trách nhiệm
xác định và tổng hợp nhu cầu kim khí trên địa bàn Hà nội, điều tra, xác định và đề xuất
với công ty trong việc khai thác nguồn kim khí. Trực tiếp bán kim khí cho các nhu cầu
của các đơn vị trung ương đóng trên địa bàn Hà nội. Ngoài ra công ty còn có nhiệp vụ
điều chuyển kim khí cho các công ty vật tư khai thác như Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc
Thái Bên cạnh đó, công ty còn chịu trách nhiệm dự trữ vật tư đặc biệt cho công ty.
3. Sự thay đổi, bổ sung các sản phẩm dịch vụ chủ yếu.
Công ty kim khí Hà nội chuyên kinh doanh tất cả các mặt hàng vật tư kim khí như
kim loại màu, thép tấm lá U, T, L và cá loại thép xây dựng. Nhìn chung các sản phẩm
của công ty kim khí Hà nội là ổn định, ít thay đổi cơ cấu mặt hàng. Trong vòng hai năm
tới có thể bổ sung thêm sản phẩm tấm lợp kim loại tự sản xuất để cạnh tranh với sản
phẩm tấm lợp liên doanh hiện nay như tấm lợp UTC, tấm lợp OLYMPIC vv
4. Các hoạt động liên doanh liên kết:
Công ty kim khí Hà nội là một công ty có vốn 100% của nhà nước, do nhà nước
quản lý, và thực hiện mọi hoạt động sản xuất kinh doanh theo sự chỉ đạo của nhà nước,
nó hoạt động gần như độc lập, hầu như không liên doanh, liên kết dươí bất cứ hình thức
nào.
II. Công tác tổ chức nhân sự.
Để thực hiện được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nói trên, công ty kim khí Hà nội
có một đội ngũ, cán bộ công nhân viên khá đông đảo, theo quyết định 176/HĐBT về sắo
xếp lại lao động, công ty đã và đang hoàn thiện bộ máy tổ chức cho nhày càng gọn nhẹ
và hiệu quả hơn.
Tổng số cán bộ công nhân viên của công ty: 320 người
Trong đó:

giám đốc trong quản lý, điều hành công việc.
Bộ phận nghiệp vụ vủa công ty bao gồm bốn phòng ban:
 Phòng tổ chức hành chính: có chức năng giúp giám đốc về mô hình cơ cấu tổ chức
bộ máy kinh doanh cuả công ty nhằm phát huy cao nhất năng lực của các đơn vị (
quyết định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức, phương thức hoạt động,
mối quan hệ công tác ). Giúp giám đốc quản lý cán bộ công nhân viên về các vấn đề
thuộc chủ trương, tiêu chuẩn, nhận xét, quy hoạch, điều động và các chính sách của
người lao động ( nâng lương,khen thưởng, đào tạo, bồi dưỡng, bảo hiểm xã hội ).
Xây dựng mức chi phí tiền lương của công ty và các đơn vị trực thuộc. Khuyến khích
các định mức và khoán có thưởng, nghiên cứu các hình thức tổ chức lao động thích
hợp. Thực hiện hướng dẫn công tác an toàn lao động và chăm lo phục vụ quản lý
hành chính quản trị văn phòng ở công ty. do sát nhập phòng thanh tra bảo vệ vào
phòng tổ hác hành chính nên phòng tổ chức hành chính có chức năng giúp giám đốc
thực hiện hoạt động thanh tra kinh tế về các hoạt động kinh doanh sản xuất của công
ty. Hướng dẫn quy trình, tổ chức lực lượng bảo vệ tài sản, hàng hoá kho tàng, chống
thất thoát vật tư, kiểm tra hoạt động mua bán, giữ gìn trật tự an ninh nói chung, đảm
bảo công tác phòng chống cháy nổ, trực tiếp bảo vệ an toàn cho văn phòng cơ quan.
 Phòng kế hoạch- Kinh doanh: Có chức năng giúp giám đốc xây dựng và triển
khai thực hiện kế hoạch kinh doanh phát triển dài hạn và kế hoạch hàng năm theo
phương hướng mục tiêu kế hoạch của nhà nước và nhu cầu thị trường. Xác định nhu cầu
tiêu dùng kim khí, điều tra khai thác nguồn hàng kim khí nhập khẩu và có sẵn trong nền
kinh tế quốc dân ( nơi sản xuất, tồn kho, xã hội ). Lập kế hoạch mua bán vật tư , tổ chức
tiếp nhận và vận chuyển, giao nhận với các đầu mối.Giúp giám đốc xây dựng kế hoạc
cân đối kim khí, nắm chắc lực lượng hàng hoá hiện có, quy cỡ các loại hàng hoá để lên
kế hoạch lưu chuyển sát với tình hình thực tế, đảm bảo mọi nhu cầu tiêu dung trong nhân
dân, giao kế hoạch sản xuất kinh doanh tới các đơn vị của công ty. Thực hiện liên doanh
liên kết về đầu tư và kinh doanh sản xuất các mặt hàng kim khí.

và ngoài nước). Để sản xuất các sản phẩm bằng thép.
- Kinh doanh các dịch vụ về giao nhận, vận chuyển, kho bãi, nhà xưởng, cho thuê
văn phòng, các hoạt động phụ trợ phục vụ sản xuất kinh doanh và các dịch vụ, đại lý, kí
gửi các mặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh của công ty.
Nhìn chung, hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty là hoạt động thương mại:
Nhập các nguyên liệu thép thô từ nước ngoài về rồi chế biến thành các sản phẩm thép sau
đó bán lại trong nước và xuất khẩu trở lại ra nước ngoài

Mạng lưới cửa hàng bán lẻ kim khí khắp nội, ngoại thành
và khối lượng bán ra
Đơn vị: Tấn thép
TT Tên Cửa hàng Khối lượng bán Tỷ trọng trong
tổng bán lẻ(%)
1 CHKK La Thành
1.842 1,79
2 CHKK 80B Trường Chinh
2.150 2,09
3 CHKK Minh Khai
1750 1,66
4 CHKK 127 D Giải Phóng
1812 1,76
5 CHKK Cầu Biêu
2815 2,74
6 CHKK Thanh Trì
2176 2,12
7 CHKK Văn Điển
1492 1,45

kiểm toán.
- Chịu sự thanh tra, giám sát của các cơ quan nhà nước về những lĩnh vực thuộc
chức năng đã được pháp luật quy định cho các cơ quan đó
pgđ k.doanh
ddoanh

pgđ tài
chính

phòng
kh - kd
phòng
tc - kt
phòng
tt -
xnk

phòng
tc - hc
xn g.công
cbiến
kkhí văn
đi
ển

x.nghiệp
k.doanh
k.thác
v.tư


 Thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh danh hàng năm do tổng cong ty giao, Thực hiện
quy hoạch, định hướng phát triển công ty trong tổng thể quy hoạch, chiến lược
phát triển của nghành.
 chấp hành các quy định về tổ chức, cán bộ, chế độ tài chính, tín dụng các chế độ
về kế toán, thống kê,quy định về kinh doanh, xuất nhập khẩu.
 Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn, tài sản, cơ sở vật chất và các nguồn
lực được Nhà nước và Tổng công ty giao, bảo toàn và phát triển các nguồn lực đó
 Chịu sự kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt dộng sản xuất kinh doanh và chấp
hành chế độ chính sách của nhà nước và sự chỉ đạo của công ty
 Công ty được quyền đề xuất các kiến nghị, giải pháp và các nội dung khác có liên
quan đên hoạt động của công ty. Được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá theo quy
định của nhà nước và tổng công ty.
 Mối quan hệ với các thành viên khác trong Tổng công ty: Là mối quan hệ
bình đẳng, hợp tác vì lợi ích chung của tổng công ty và mỗi đơn vị trên cơ
sở chế độ chính sách của nhà nước và sự diều hành của công ty.
 Đối với chính quyền địa phương, công ty chịu sự quản lý về hành chính và
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ với hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân
theo quy định của pháp luật
III. Chiến lược và kế hoạch kinh doanh.
1. Thị trường của công ty kim khí Hà Nội
Từ khi thành lập (1/6/1961) công ty kim khí Hà Nội luôn luôn là một trong những
công ty lớn nhất của ngành kim khí tuy có sự thay đổi cơ quan quản lý cấp trên nhưng
Công ty vẫn giữ chức năng chuyên kinh doanh kim khí với đội ngũ cán bộ công nhân
lành nghề, có trình độ cao với cơ sở vật chất kĩ thuật lớn hiện đại phù hợp với hoạt động
kinh danh mặt hàng kim khí.
Trước những năm 1990, hoạt động của công ty vẫn còn mang hình thức bao cấp,
nguồn hàng được tổng công ty giao kế hoạch nhập từ các công ty đầu mối trong ngành và


81,1

Nguồn: công ty kim khí Hà Nội
Những năm bao cấp trước đây phần lớn hàng kim khí phải nhập ngoại nên các hoạt
động kinh doanh của ngành kim khí chịu ảnh hưởng lớn về nguồn hàng tức là các thị
trường nước ngoài, đặc biệt là Liên Xô cũ, hàng năm cung cấp cho ta một khối lượng lớn
các mặt hàng kim khí. Do từ năm 1991 đến nay, phía Liên Xô gặp nhiều khó khăn. Mặt
khác việc nắm bắt nhu cầu chưa chính xác. Điều này dẫn đến các mặt hàng đưa về nhiều
nhưng bán chậm, có loại nhập về ít, không đủ cho nhu cầu sử dụng, gây nên tình trạng
khan hiếm, mất ổn định của thị trường.
Nước ta và các nước bạn chuyển sang hệ thống thanh toán mới bằng đồng tiền có
khả năng chuyển đổi và xuất bao nhiêu thì cũng nhập về bấy nhiêu chứ không còn cảnh
xuất một nhập về ba, bốn như trước đây. Bên cạnh đó, ta mở rộng hợp tác với nhiều quốc
gia trong lĩnh vực xuất nhập khẩu kim khí như: Hàn Quốc, Đài loan, Nhật Bản, Hàn
Quốc, úc, CHLB Đức, Mỹ Canada khả năng nhập khẩu phụ thuộc vào khả năng xuất
khẩu và lượng ngoại tệ mà ta có đựơc. Trong tình hình này, việc tạo ra nguồn vật tư kim
khí là rất khó khăn. Đa phần vật tư kim khí đều phải nhập nhưng lượng ngoại tệ mà ta có
được là rất hạn chế.
Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, các nhà sản xuất nói chung đều gặp
khó khăn. Nhu cầu kim khí nói chung thay đổi về lượng, quy cách chủng loại và giá cả (
điển hình vào năm 1999, 2000 ). Vì vậy tình hình kinh doanh kim khí của các doanh
nghiệp cũng bị ảnh hưởng theo. về nguồn vẫn do công ty nhập và phân phối.
Trong tình hình diễn biến sôi động của thị trường, thị trường của công ty kim khí
Hà Nội đã và đang chịu ảnh hưởng rất lớn của xu hướng chung của thị trường vật tư hiên
nay đó là:
Một là: Thị trường đang có bước chuyển biến quan trọng từ chỗ một cách hình

Việt Nam để lấy vốn kinh doanh trong các lĩnh vực khác, do đó các doanh nghiệp này chỉ
tập trung một vài loại thép xây dựng thông dụng như thép tròn 6mm, thép xoắn và các
loại thép góc nhỏ là các loại hàng có thể bán nhanh với số lượng lớn để lấy vốn. Vì vậy
họ có thể bàn dưới giá nhập khẩu bán lỗ, bán phá giá) khi cần vốn.
Bên cạnh đó một số liên doanh có vốn đâu tư ở nước ngoài đã lợi dụng chính sách
ưu đãi của ta về việc miễn giảm thuế trong nhập khẩu sắt thép phục vụ nhu cầu xây dựng
cơ bản nên đã nhập ồ ạt một khối lượng kim khí rất lớn vượt quá hẳn nhu cầu xây dựng
cơ bản và mang bán ra trên thị trường để kiếm lời.
Chính những điêù đó đã tạo nên sự bất ổn định trên thị trường gây ra những cơn sốt
giả tạo làm thiệt hị cho các doanh nghiệp chuyên kinh doanh kim khí, trong đó có công ty
kim khí Hà Nội cũng chịu sự tác động trên.
Hiện nay qua tình hình thực hiện kế hoạch năm 2001 công ty nhận thấy tình hình thị
trường thép nhìn chung diễn biến không thuận lợi, giá giảm liên tục do các đơn vị ngoài
nghành nhập khẩu về nhiều giá chào hàng của nước ngoài cũng giảm vì đứng ở mức thấp,
trong khi đó thép sản xuất trong nước vẫn khó khăn về tiêu thụ do tâm lý ưa chuộng hàn
ngoại vẫn còn phổ biến và chủng loại theo nội địa vẫn chưa đa dạng, mới chỉ ở một số
quy cỡ của thép xây dựng.
Theo ước tính, thị phần của công ty kim khí Hà Nội hiện là vào khoảng trên 30 %,
điều này khăng định sự mất dần vai trò chủ đạo của công ty trên thị trường của công ty
kim khí nói chung và trên thị trường Hà Nội nói riêng. Bảng số liệu dưới đây phần nào minh hoạ được thực trạng đó.
Năm Doanh số bán

Tổng khối
lượng bán
77.759 97.204 120.700 1,24
Phôi thép 26.483

27.217 41.038 1,5
Thép lá 31.103

22.356 48.280 2,16
Thép tấm 4.666

10.724 7.242 0,68
Thép xây
dựng+ hình
15.552 39.907 24.140 0,6

Nguồn: Công ty kim khí Hà Nội
Qua bảng số liệu ta thấy qua ba năm phôi thép bán được nhiều nhất. Năm 2000 bán
được 27.217 tấn tăng 1,03 lần so với năm 1999. năm 2001 đạt 41.038 tấn tăng 1,24 lần so
với năm 2000. trong khi thép lá năm 2000 đạt 22.356 tấn giảm 0,722 lần so với năm
1999, sở dĩ như vậy là vì do nhu cầu của thép lá giảm và sự cạnh tranh gay gắt trên thị
trường. nhưng đến năm 2001 đạt 48.280 tấn tăng 2,16 lần so với năm 2000, còn thép năm
2000 tấm năm 2000 tăng 2,3 lần so với năm 1999 nhưng năm 2001 lại giảm 0,68 lần so
với năm 2000. thép xây dựng thì cũng giống như thép tấm năm 2000 tăng 2,5 lần so với
năm 1999 song năm 2001lại giảm 0,6 lần so với năm 2000. Tóm lại trong mấy năm gần
đây phôi thép vẫn là mặt hàng bán được với lớn nhất vì phôi thép có thể sản xuất ra nhiều
loại thép khác như thép cuộn, thép hình …
3- Các loại chiến lược, kế hoạch, đã đang và sẽ được quan tâm.
 những chủ trương, nguyên tắc, quan điểm và mục tiêu của công ty.
Chủ trương:

nhuận.
Mục tiêu:
- Nâng tỷ lệ kinh doanh thép nội địa từ mức thấp dưới 20 % hiện nay lên đạt 60-
75% tổng sản lượng của các nhà máy sản xuất của công ty.
- Chú trọng tìm kiếm măt hàng và thị trường để tăng khả năng bán hàng.
Các chiến lược, kế hạch của công ty
Công ty kim khí Hà Nội là một doanh nghiệp thương mại chuyên kinh doanh trên
thị trường kim khí, mục tiêu của doanh nghiệp là lấy hiệu quả kinh doanh làm mục tiêu
cho mọi sự phấn đấu và hoạt động của công ty. Do đó công ty luôn coi trọng các chiến
lược, kế hoạch của mình và coi đó như là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của công ty.
Những kế hoạc và chiến lược của công ty đã và đang được quan tâm chủ yếu là làm sao
tiêu thụ được ngày càng nhiều sản phẩm của doanh nghiệp để qua đó tăng doanh thu, qua
đó cố gắng tăng thêm lợi nhuận cho công ty, những chiến lược và kế hoạch đó là:
Nghiên cứu thị trường. Việc nghiên cứu thị trường là vô cùng cần thiết đối với
công ty vì thị trường không phải là bất biến, bí ẩn và thay đổi không ngừng, do đó công
ty phải thường xuyên tiến hành công việc này. Mục đích của nghiên cứu thị trường là
nghiên cứu xác định khả năng tiêu thụ để từ đó đề ra các kế hoạch sản xuất kinh doan
hợp lý, trên cơ sở đó nâng cao năng lực hoạt động của công ty. Quá trình tìm hiểu thị
trường được tiến hành theo ba bước: thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết định.
Khi nghiên cứu thị trường hàng hoá, công ty đã phân biệt được thị trường nguồn (
nguồn sản xuất, nguồn cung cấp ) đặc điểm của nguồn hàng sản xuất, tổ chức sản xuất,
phương thức bán và chính sách tiêu thụ sản phẩm của người cung cấp, mối quan hệ bạn
hàng chi phí vận chuyển hàng hoá và những thoả thuận của người cung ứng với các hãng
khác về cung cấp hàng hoá. Thực chất của nghiên cứu thị trường này là nghiên cứu khách
hàng cuối cùng cần hàng hoá của công ty để làm gì. Nghiên cứu khách hàng trung gian
có nhu cầu và khả năng đặt hàng. Trên địa bàn công ty đã và đang hoạt động, công ty cần
phải biết tỷ phần thị trường mà công ty đáp ứng phù hợp với thị trường, khách hàng và

- Mở rộng thị trường: Là cố gắng tăng thêm việc bán các hàng hoá hiện có cuả công ty
vào thị trường mới.
- Phát triển sản phẩm: Là việc đưa các mặt hàng mới hoặc các sản phẩm cải tiến, sản
phẩm hoàn thiện của công ty vào thị trường hiện tại của công ty.
- Đa dạng hoá kinh doanh: Là đưa các mặt hàng mới lạ và các thị trường mới của công
ty và hoạt động trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, thậm chí cả việc kinh doanh
trong lãnh vực không truyền thống.
Chiến lược phân phối: Quản lý kênh phân phối và quá trình phân phối
hàng hoá trong nền kinh tế là rất quan trọng và cần thiết. Kênh phân phối giúp cho
người tiêu dùng các lợi ích về thời gian, địa điểm, do vậy việc xác định kênh phân phối
cho công ty là rất quan trọng.
Căn cứ vào việc xác định sản phẩm của công ty là sản phẩm không được tiêu dùng
thường xuyên, khi mua khách hàng thường có quyết định, cân nhắc và khách hàngcủa
công ty thường là tổ chức mua với khối lượng lớn. Do vậy kênh phân phối mà công ty
lựa chọn cho mình là kênh phân phối trực tiếp. Để xây dựng kênh phân phối này công ty
đã bố trí một mạng lưới bán hàng trên toàn bộ thị trường bao gồm 28 cửa hàng, bố trí
rộng khắp trên toàn thị trường Hà nội.
Chiến lược sản phẩm: Trong những năm gần đây, tốc độ xây dựng và phát triển đô
thị nhanh, tạo ra một thị trường hấp dẫn cho kinh doanh kim khí, thép xây dựng. Vì thế
ngày càng nhiều đối tượng tham gia kinh doanh trên thị trường thép. điều này tạo nên
một lực lượng bán hàng mạnh, cạnh tranh quyết liệt với các ưu thế nhất định về cơ chế thị
trường, mặt hàng kinh doanh trong khi mặt hàng là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng lớn
đến sự thành công trong kinh doanh. Nắm bắt dược điều này, công ty kim khí đã cố gắng
nghiên cứu thị trường nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường,
những sản phẩm có khả năng mang lại lợi nhuận cao cũng như sự phát triển dài hạn của
công ty.
Ngoài ra công ty rất chú trọng đến công tác quản lý sản phẩm ngay từ khi nhập

Tép hình i Thép lá rất nhiều
kích cỡ
Lưới B40
Thép hình L với
nhiều kích cỡ
Giỏ xe máy, xe đạp
bàng thép bọc
nhựa

Chiến lược giá:Một vài năm trở lai đây thị trường thép luôn trong tình trạng cạnh
tranh gay gắt, thị trường luôn biến động, cung vượt quá cầu,và giá cả thị trường không
luôn ổn định. Do đó một trong những quyết định quan trọng và phức tạp nhất mà công ty
phải làm là quyết địng giá cả hàng hoá và dịch vụ. Để quy định về giá công ty thường áp
dụng cách tính sau:

Giá bán =
Chi phí;mua bán
+
Chi phí;mua hàng
+
Chi phí;bảo quản
+
Chi phí;vận chuyển
+
Chi phí;bán hàng
+
Lợi;nhuận

Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào tình hình thị trường mà công ty đưa ra những mức giá phù
hợp. Vì nếu mức giá của công ty đưa ra là cao hơn thị trường thì người mua có thể

Bảng kết quả kinh danh của công ty kim khí hà nội
Đơn vị: Tấn thép
Năm Sản xuất Tiêu thụ
KH TH tỷ lệ (%) KH TH Tỷ lệ (%)

1998 85.000 43.994 51,7 84.000 60.583 72
1999 85.000 74.801 88 85.000 77.759 91,5
2000 85.000 95.663 112,5 84.500 97.204 114,4
2001 85.000 115.600 136 85.000 120.700 142

Nguồn: Công ty kim khí Hà nội
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy trong hai năm 1998 và 1999 Công ty đã
không hoàn thành được kế hoạch trong đó năm 1998 đạt 72 % so với kế hoạch, còn năm
1999 đạt 91,5% so với kế hoạch. Nhưng năm 2000 năm 2001 công ty đã hoàn thành vượt
mức kế hoạch tiêu thụ trong đó năm 2000 ( đạt 114,4% so với kế hoạch ) và năm 2001
(đạt 142% so với kế hoạch ).
Việc quy định giá cả đối với từng loại khách hàng, từng nguồn hàng có ý nghĩa vô
cùng quan trọng đói với hoạt dộng kinh doanh của công ty, thế nhưng công ty vẫn chưa
được tự do quy định giá cả hoàn toàn theo cơ chế thị trường mà vẫn phải chịu giá bán
buôn kim khí nhập khẩu do Uỷ Ban Vật giá nhà nước quy địng áp dụng cho các đơn vị có
hạn mức. Đối với quỹ hàng hoá bán lẻ do tổng công ty phân xuống thì công ty không
được tự do đặt giá mà tổng công ty sẽ quy định một số mức giá chuẩn bán lẻ tối thiểu của
một số mặt hàng cơ bản cho từng thời điểm. Với hệ thống giá bán trên đã làm cho hoạt
động kinh doanh của công ty trở nên đa dạng và phức tạp.
Có thể nói, từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường và là nhất là khi thị trường
Đông âu, đặc biệt là thị trường Liên Xô cũ có sự thay đổi về phương thức thanh toán thì
công ty gặp rất nhiều khó khăn trong việc tạo nguồn hàng kinh doanh. Nguồn vật tư kim
khí của ta chủ yếu vẫn là nhập khẩu, ngoài thị trường Liên Xô và một số nước Đông âu ra
hiện nay còn nhập khẩu kim khí của một số nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài
Loan, Thái Lan


1998 1999 2000 2001 2000/99 2001/
2000
1.Tổng doanh thu
255.536

310.000

419.358

774.106

135

184

2. Tổng lợi nhuận
400

- 950

- 700

- 1400

0,73



2.589

2.323

3.431

89,7

147,6

6. Tổng số lao động
498

463

461

320

99,8

69,4

7. Thu nhập bình quân
0,440

0,466

0,420


2,04

10.Tỷ suất lợi nhuân/DT
0,15

-0,30

- 0,16

0,18

Nguồn: công ty kim khí Hà Nội
Qua bảng thực hiện chỉ tiêu kinh tế hàng năm của công ty ta thấy công ty kinh
doanh không có hiệu quả: năm 1999 lỗ 950 triệu, năm 2000 lỗ 700 triệu ( Giảm 0,73 lần
so với năm 1999 ), năm 2001 lỗ 1400 triệu ( Tăng 2 lần so với năm 2000 ) Điều này
chứng tỏ thị trường kim khí những năm gần dây diễn biến không thuận lợi đối với công
ty kim khí Hà Nội. Đồng thời đây cũng là biểu hiện của công ty chưa giữ vai trò chủ đạo
trên thị trường, kinh doanh kém hiệu quả, chưa có những thích nghi cao đối với những
biến động trên thị trường
IV. Hoạt động marketing và các chính sách căn bản.
1. Thu thập và xử lý thông tin thị trường.
Để ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ thì các công ty nói chung luôn phải xem
xét dự báo nhu cầy và bảo đảm chất lượng công việc. Thực chất hiện nay công ty chưa
coi trọng công tác dự báo nhu cầu thị trường như những khâu khác trong sản xuất kinh
doanhví dụ trong hoạt động bán hàng, sản xuất nhập khẩu Tại công ty chưa có phòng
nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường riêng biệt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status