LUẬN VĂN: Triết học Mác Lê Nin , thế giới quan , phương pháp luận khoa học của hoạt động nhận thức và thực tiễn - Pdf 11


LUẬN VĂN:
Triết học Mác Lê Nin , thế giới quan ,
phương pháp luận khoa học của hoạt
động nhận thức và thực tiễn
A. Đặt vấn đề
a.Lí do chọn đề tài
Khi bắt đầu làm quen với môn Triết học các bạn sinh viên năm thứ nhất
thường rất lúng túng và cảm thấy môn Triết học thực sự rất khó hiểu . Với 1 số
lựơng kiến thức lớn với hơn 500 trang của giáo trình thì đó là 1 thử thách nếu chúng

tiến trình phát triển của thực tiễn sản xuất xã hội và của sự tích luỹ các tri thức khoa
học , đã diễn ra quá trình tách ra của các khoa học riêng biệt khỏi triết học và đồng
thời quá trình tách triết học thành 1 khoa học độc lập . Triết học với tính cách khoa
học nảy sinh do sự cần thiết phải xây dựng 1 quan điểm chung về thế giới , phải
nghiên cứu các nguyên lý chung và các quy luật của thế giới , do nhu cầu phải có
phương pháp tư duy hợp lý và có căn cứ đối với hiện thực , do nhu cầu phải có lozic
và lí luận nhận thức .
Vấn đề cơ bản của triết học với tính cách một khoa học đặc biệt – đó là vấn đề
quan hệ của tư duy đối với tồn tại , của ý thức đối với vật chất . Mọi hệ thống triết
học đều là giải quyết 1 cách cặn kẽ , cụ thể vấn đề này ngay dù cho “vấn đề cơ bản“
ở đây không được nêu lên trực tiếp . Cả sự phân cực của triết thành hai khuynh
hướng đối lập nhau , thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,cũng gắn liền
với điều đó ; nhị nguyên luận giữ vị trí trung gian giữa 2 khuynh hướng nói trên .
Cuộc đấu tranh giữa chủ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên qua toàn bộ
lịch sử triết học như là sợi chỉ chủ yếu , nó làm thành trong những động lực chính
của triết học . Cuộc đấu tranh này gắn chặt với sự phát triển của xã hội , với các
quyền lợi kinh tế , chính trị và tư tưởng của các giai cấp .Việc giải thích rõ thêm các
vấn đề riêng biệt của khoa học triết học , sự tách ra trong bản thân nó những mặt
khác nhau với tính cách những bộ phận tương đối độc lập và đôi khi rất khác nhau .
Các bộ phận đó là : bản thể luận , nhận thức luận , logic học , đạo đức học , mỹ học ,
tâm lý học , xã hội học và lịch sử triết học. Đồng thời do còn nhiều những tri thức cụ
thể nên triết học tìm cách thay thế các mối liên hệ và các tính quy luật còn chưa biết
hết của thế giới bằng những điều tưởng tượng ; do đó nó biến thành một khoa học
đặc biệt đứng trên tất cả các ngành khoa học khác , trở thành “ khoa học của các
khoa học” . Đối với giới tự nhiên , triết học này đóng vai triết học tự nhiên ; đối với
lịch sử nó đóng vai trò triết học của lịch sử . Triết học của HêGhen là một hệ thống
cuối cùng thuộc loại này . Song , cùng với sự phát triển và sự phân hoá của các tri


vừa được nói đến đếu gắn liền nhiều nhất với các vấn đề triết học đặc thù , cụ thể là
với vấn đề quan hệ qua lại chủ thể và khách thể . Triết học góp phần vào sự phát
triển tự ý thức của con người , vào việc hiểu địa vị và vai trò của các phát minh khoa
học trong hệ thống phát triển chung của văn hoá nhân loại , do đó cung cấp 1 thước
tỷ lệ để đánh giá chúng và cho mối liên hệ giữa các khâu riêng lẻ của tri thức trong
tính thống nhất của thế giới quan . Những xu hướng phản triết học là cái vốn có
trong các lý luận tư sản hiện đại. Nó tuyên bố các vấn đề triết học là các vấn đề giả
hiệu , tìm cách thay thế sự phân tích triết học đối với sự phát triển của tri thức hiện
đại và của thực tiễn bằng sự phân tích ngôn ngữ của khoa học , tức là bằng sự phân
tích ngôn ngữ học - ngữ nghĩa học các hình thức bên ngoài của tư duy – ngôn ngữ
các hệ thống kí hiệu để biểu diễn tư tưởng v v Do đó về thực chất triết học với tư
cách là 1 khoa học đã bị thủ tiêu . Vì vậy cho nên con đường duy nhất để phát triển
triết học với tính cách 1 khoa học riêng bệt vẫn là con đường của chủ nghĩa duy vật
biện chứng, con đường tiếp tục những truyền thống ưu tú của triết học thế giới .
II.Nguồn gốc và vai trò mang tính lịch sử của Triết học Mác
Ở trên chúng ta cũng đã hiểu triết học là gì và trong lịch sử triết học , ở mỗi
giai đoạn lịch sử lại xuất hiện 1 dòng triết học mang tư tưởng của thời đại đó . Triết
học với khái niệm là 1 hình thái ý thức xã hội là môn khoa học nghiên cứu về các
nguyên lý chung nhất của sự vận động trong tư duy , xã hội và tự nhiên , như vậy thì
ở mỗi 1 giai đoạn , những phát hiện của con người cùng với nó là phê phán cái cũ
những cái ko phù hợp với trình độ nhận thức của con người đồng thời phát triển cái
mới đã dẫn đến sự thay thế những quan niệm trong thế giới quan của các trường phái
triết học trong lịch sử .
Sở dĩ chúng ta ca ngợi và đề cập nhiều đến triết học Mác vì sự hoàn bị của nó
đem lại cho chúng ta 1 công cụ để giải thích thế giới , 1 phương pháp luận khoa học .
Còn với chúng ta , sinh viên của 1 trường đại học thuộc 1 quốc gia xa hội chủ nghĩa
vận dụng triết học Mác để vạch ra đường lối và phát triển đất nước lên CNXH , việc
học tập nghiên cứu Triết học là điều bắt buộc hiển nhiên


chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh , mọi sự lên xuống của thị trường ……
Giai cấp vô sản trải qua nhiều giai đoạn tiến triển khác nhau . Cuộc đấu
tranh của họ chống giai cấp tư sản bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời.
Nhưng sự phát triển của công nghiệp không những đã làm tăng thêm số
người vô sản , mà còn tập hợp họ lại thành những khối quần chúng lớn hơn; lực
lượng của những người vô sản tăng thêm và họ giác ngộ về lực lượng của mình hơn .
Máy móc càng xoá bỏ mọi sự khác nhau trong lao động và càng rút tiền công hầu
khắp mọi nơi xuống một mức thấp ngang nhau , thì lợ ích , điều kiện sinh hoạt của
những người vô sản càng dần dần bằng nhau . Vì bọn tư sản ngày càng cạnh tranh
với nhau hơn , và vì khủng hoảng thương mại do sự cạnh tranh ấy sinh ra , cho nên
tiền công ngày càng trở nên bấp bênh: việc cải tiến máy móc không ngừng và ngày
càng nhanh chóng hơn làm cho tình cảnh của người công nhân ngày càng bấp bênh ,
những xung đột cá nhân giữa công nhân và tư sản ngày càng có thêm tính chất xung
đột giữa hai giai cấp . Công nhân bắt đầu liên hợp lại chống bọn tư sản để bảo vệ tiền
công của mình . Thậm chí họ đi tới chỗ lập thành những đoàn thể thường xuyên để
chuẩn bị trước cho những cuộc xung đột bất thần xảy ra. Đây đó , đấu tranh nổ thành
bạo động . ………………
Khi người ta nói đến những tư tưởng đang cách mạng hoá cả 1 xã hội , tức
là người ta chỉ nêu ra sự thật sau đây : trong lòng xã hội cũ , đã hình thành những
yếu tố của 1 xã hội mới và sự tan rã của những tư tưởng cũ đi đôi với sự tan rã của
những điều kiện sinh hoạt cũ
b)Tiền đề khoa học tự nhiên
Trong suốt thời kì lâu dài từ ĐêCactơ đến HêGhen và từ Hỗ Xơ đén
PhơBach cái thúc đẩy các nhà triết học tiến lên, hoàn toàn không phải chỉ riêng sức
mạnh của tư duy thuần tuý , như họ tưởng tượng . Trái lại , cái thật ra đã thúc đẩy họ
tiến lên chủ yếu là sự phát triển mạnh mẽ , ngày càng nhanh chóng và ngày càng
mãnh liệt của khoa học tự nhiên và của công nghiệp . Ở những người duy vật chủ

lượng hoá học; là những hình thức biểu hiện khác nhau của 1 sự vận động phổ biến
chuyển từ cái nọ sang cái kia theo những quan hệ nhất định về số lượng , thành ra
khi một số lượng nào đó của 1 hình thức khác xuất hiện và như vậy toàn bộ sự vận
động ở trong tự nhiên quay lại thành 1 quá trình chuyển hoá không ngừng từ một
hình thức này sang 1 hình thức khác.
- Cuối cùng , thứ ba là nhờ sự chứng minh có mạch lạc do Đác-uyn là
người đầu tiên đề ra,.Theo sự chứng minh đó thì tất cả những cơ thể hiện nay đang
bao quanh ta , kể cả con người , đều sinh ra do kết quả của một quá trình phát triển
lâu dài từ một số nhỏ mầm mống đơn bào lúc đầu mà những mầm mống này thì lại
hình thành từ một chất nguyên sinh .
Nhờ 3 phát hiện vĩ đại đó và nhờ những thành tựu lớna lao khác của khoa
học tự nhiên, mà ngày nay chúng ta có thể vạch ra trong những nét chung và toàn bộ,
không những mối liên hệ giữa các quá trình của tự nhiên trong các lĩnh vực riêng
biệt , mà cả mối liên hệ giữa các lĩnh vực riêng biệt ấy. Do đó , có thể trình bày một
bức tranh tổng quát về toàn bộ tự nhiên coi như 1 chỉnh thể cố kết , dưới một hình
thức khá có hệ thống, bằng cá tài liệu do chính các khoa học tự nhiên thực nghiệm đã
cung cấp cho.
c) Tiền đề lý luận xã hội
Lịch sử triết học và lịch sử khoa học xã hội chứng tỏ rất rõ rệt rằngchủ
nghĩa Mác không có gì là giống “ chủ nghĩa bè phái” , hiểu theo nghĩa 1 học thuyết
bo bo chỉ biết có mình và cứng nhắc, nảy sinh , ở ngoài con đường phát triển của
văn minh thế giới . Trái lại thiên tài của Mấc ở chỗ đã giải đáp được những vấn đề
mà nhân loại tiên tiến đã nêu ra. Học thuết của ông ra đời là thừa kế thẳng và trực
tiếp học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất trong triết học, trong khoa kinh tế
chính trị và trong chủ nghĩa xã hội.
Học thuyết Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác .
Nó là một học thuyết cân đối và hoàn bị: nó cho mọi người một thế giới quan có

cân đường phải bằng chính nó. Điều này cũng lại không đúng – Tất cả sự vật đều
không ngừng biến đổi về kích thước, trọng lượng, màu sắc v.v. Chúng không bao giờ
bằng chính bản thân nó. Người nguỵ biện sẽ đáp lại rằng một cân đường phải bằng
chính bản thân nó tại một 'thời điểm' nhất định.
Ngoài những giá trị thực tiễn cực kỳ mơ hồ của 'tiền đề' này, nó cũng không
chịu đựng nổi những phê phán về mặt lý thuyết. Chúng ta thực sự hiểu từ 'thời điểm'
như thế nào? Nếu đó là một khoảng thời gian vô cùng nhỏ, vậy thì một cân đường
thuộc về quá trình của 'thời điểm đó' tất yếu phải biến đổi. Hay có phải 'thời điểm'
chỉ là một sự trừu tượng thuần tuý toán học, nghĩa là, một điểm không thời gian? Thế
nhưng tất cả đều tồn tại trong thời gian; và tồn tại tự nó đã là một quá trình không
ngừng biến đổi; thời gian là một nguyên lý cơ bản của tồn tại. Do vậy tiền đề 'A'
bằng 'A' nghĩa là một thứ bằng chính bản thân nó nếu nh nó không biến đổi, tức là,
nó không tồn tại.
Thoạt nhìn dường như sự 'tỉ mỉ' nêu trên là vô ích. Thực tế chúng lại có ý
nghĩa cực kỳ quyết định. Một mặt tiền đề 'A' bằng 'A' là nguồn gốc cho mọi hiểu biết
của chúng ta, mặt khác nó cũng là nguồn gốc của tất cả những sai lầm trong kiến
thức của chúng ta. Chỉ trong những giới hạn nhất định mới có thể sử dụng tiền đề 'A'
bằng 'A' mà không gây ra hậu quả gì. Khi sự biến đổi về lượng là không đáng kể thì
chúng ta có thể coi 'A' bằng 'A'. Đây chính là trường hợp khi người bán và người
mua cân nhắc về một cân đường. Hoặc khi chúng ta quan tâm đến nhiệt độ của mặt
trời. Chúng ta coi khả năng thanh toán của một đồng dollar cũng theo cách này. Nh-
ưng khi sự biến đổi về lượng vợt quá giới hạn nhất định nó sẽ chuyển thành những
biến đổi về chất. Một cân đường khi đem so với nước hay dầu về mặt tác dụng thì nó
không còn là một cân đường nữa. Một đồng dollar trong tay một vị tổng thống cũng
không còn là một đồng dollar nữa. Để xác định được chính xác khoảng khắc tại điểm
tới hạn mà chất biến đổi thành lượng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất
và khó khăn nhất trong mọi lĩnh vực tri thức trong đó bao gồm cả xã hội học.

giai đoạn phát triển nhất định. Không phải nhà nước của giai cấp công nhân nói
chung mà là một nhà nước của giai cấp công nhân ở một đất nước lạc hậu đang bị đế
quốc bao vây.
Tư duy biện chứng quan hệ với tư duy thông thường cũng giống như quan hệ
giữa một hình ảnh động và một bức ảnh tĩnh. Hình ảnh động không hề loại bỏ sự tồn
tại của bức ảnh tĩnh mà trái lại nó bao gồm một chuỗi các ảnh tĩnh tuân theo những
định luật chuyển động nhất định. Phép biện chứng không phủ nhận tam đoạn luận,
mà dạy cho chúng ta phải biết kết hợp với tam đoạn luận theo cách nào đó để đem lại
cho chúng ta sự hiểu biết sát hơn với thực tại bên ngoài luôn biến đổi. Trong cuốn
Logic của Hêgen, ông đã đưa ra một loạt các quy luật: sự biến đổi về lượng dẫn tới
sự biến đổi về chất, sự phát triển thông qua mâu thuẫn, sự mâu thuẫn giữa nội dung
và hình thức, sự gián đoạn trong liên tục, sự biến đổi từ khả năng đến tất yếu, v.v.,
đây là những quy luật thực sự quan trọng đối với quá trình tư duy cũng như đối với
các nhiệm vụ đơn giản hơn trong phơng pháp tam đoạn luận đơn giản.
Hêgen đã viết ra trước cả Đác-uyn và trước cả Mác. Nhờ có sự thúc đẩy mạnh
mẽ đến tư tưởng từ cuộc Cách Mạng Pháp, Hêgen đã báo trước sự chuyển biến sâu
sắc trong khoa học. Nhưng bởi nó chỉ là một sự dự đoán, dù là của một thiên tài, nó
đã tiếp nhận từ Hêgen bản chất duy tâm. Hêgen coi rằng ý thức hệ vô hình là thực tại
cuối cùng. Mác đã chứng minh sự vận động của ý thức hệ vô hình này không phải
cái gì khác mà trái lại chính là sự vận động của vật chất.
Chúng tôi gọi phép biện chứng của mình là duy vật bởi gốc rễ của nó chẳng
phải ở trên thiên đàng hay ở sâu thẳm trong 'ý chí tự do' của chúng ta mà là ở trong
thực tại khách quan, trong tự nhiên. ý thức nảy sinh từ vô thức, tâm lý nảy sinh từ
sinh lý, hữu cơ nảy sinh từ vô cơ, thái dương hệ được hình thành từ các tinh vân.
Trên mọi nấc thang của quá trình phát triển này, những biến đổi về lượng sẽ chuyển
thành biến đổi về chất. Tư duy của chúng ta, bao gồm cả tư duy biện chứng, chỉ là
một trong những hình thức biểu hiện rằng vật chất đang biến đổi. Trong hệ thống

quy luật về vận động trong tư tởng khoa học đương thời. Trái lại cuộc đấu tranh
chống lại phép biện chứng duy vật lại biểu hiện ở quá khứ xa xôi, ở sự bảo thủ của
giai cấp tiểu tư sản, ở sự tự phụ của những kẻ thủ cựu trong các trường đại học và ở
một tia hy vọng vào kiếp sau.
ABC về phép biện chứng duy vật (Leon Trotsky)

a) Triết học Mác Lê Nin là thể thống nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử , CNDV LS trong thực tiễn
Việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, hay nói đúng hơn , sự áp dụng
triệt để của chủ nghĩa duy vật vào lãnh vực những hiện tượng xã hội , đã loại bỏ
được 2 khuyết điểm căn bản của những lý luận lịch sử trước kia. Một là , những lý
luận này cùng lắm thì cũng chỉ xem xét những động cơ tư tưởng của hoạt động lich
sử của con người , chứ không tìm nguồn gốc của những động cơ đó , không phát
hiện ra những quy luật khách quan chi phối sự phát triển của hệ thống quan hệ xã hội
và không nhận thấy rằng trình độ phát triển của sản xuất vật chất là nguồn gốc của
những quan hệ ấy . Hai là , những lý luận trước kia đã không nói đến chính ngay
hành động của quần chúng nhân dân , còn chủ nghía duy vật lịch sử thì lần đầu tiên
đã giúp ta nghiên cứu , một cách chính xác như khoa học tự nhiên , những điều kiện
xã hội của đời sống quần chúng và những biến đổi của những điều kiện ấy . Khoa xã
hội học và kịch sử học trước Mác thì nhiều lắm cũng chỉ tích luỹ được những sự kiện
nguyên xi , góp nhặt 1cách tình cờ , và chỉ trình bày 1 số mặt nào đó của quá trình
lịch sử. Chủ nghĩa Mác mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá
trình phát sinh , phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế và xã hội , bằng cách
xem xét toàn bộ những xu hướng mâu thuẫn nhau , bằng cách quy những xu hướng
ấy vào điều kiện sinh hoạt và sản xuất dã được xác định rõ ràng của các giai cấp
trong xã hội , bằng cách gạt bỏ chủ nghĩa chủ quan và thái độ tuỳ tiện khi lựa chọn
những tư tưởng chủ đạo hay khi giải thích những tư tưởng ấy , bằng cách vạch ra

chứng , nên nó chẳng cần đến 1 thứ triết học đứng trên cá khoa học khác . Khi mà
mỗi khoa học đòi hỏi phải làm sáng tỏ vị trí của mình trong mối liên hệ chung của cá
sự vật và của sự nhận thức các sự vật , thì bất cứ 1 khoa học đặc biệt nào về mối liên
hệ chung ấy cũng trở thành thừa . Vậy thì trong toàn bộ nền triết học cũ , chỉ còn lại
học thuyết về tư duy và những quy luật của nó – logic hình thức và phép biện chứng
– là có ý nghĩa độc lập. Mọi cái khác đều thuộc vào khoa học thực nghiệm về tự
nhiên và lịch sử .
Nhưng trong sự biến chuyển nói trên trong quan niệm về tự nhiên chỉ có thể
thực hiện được dần dần tuỳ theo sự nghiên cứu khoa học đã đưa lại 1 số lượng tương
đương những tài liệu thực nghiệm cho nhận thức , thì những sự kiện lịch sử đã xảy ra
sớm hơn nhiều và đã dẫn tới một bước ngoặt quyết định trong quan niệm về lịch sử .
Năm 1831 , cuộc khởi nghĩa thứ nhất của công nhân nổ ra ở Ly-ông ; từ 1838 đến
1842, phong trào toàn quốc đầu tiên của công nhân , phong trào hiên chương ở nước
Anh , đạt tới mức cao nhất của nó. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và
giai cấp tư sản chuyển lên hàng đầu trong lịch sử các nước tiên tiến nhất ở châu Âu,
một mặt là tương đương với sự phát triển của đại công nghiệp và mặt khác là tương
đương với sự phát triển của quyền thống trị chính trị mà giai cấp tư sản mới giành
được . Sự thật ngày càng vạch trần ra rằng những học thuyết kinh tế tư sản nói về sự
nhất trí giữa lợi ích của tư bản và lợi ích của lao động về sự hoà hợp phổ biến và sự
thịnh vượng phổ biến nhờ cạnh trnh tự do mà có , đều là những thuyết giả dối cả .
Người ta không thể không tính đến sự thật ấy , cũng như không thể tính đến chủ nghĩ
xã hội Pháp và Anh , tuy nó còn có nhiều chỗ chưa được hoàn thiện, nhưng vẫn là
biểu hiện lý luận của những sự thật ấy .Nhưng quan diểm duy tâm cũ về lịch sử , 1
quan điểm chưa bị gạt bỏ , không hề biết gì về các cuộc đấu tranh giai cấp dựa trên
lợi ích vật chất và nói chung không hề biết cả đến lợi ích vật chất nữa. Sản xuất và
tất cả các quan hệ kinh tế chỉ được xem như những nhân tố thứ yếu của lịch sử nền
văn minh . Những sự thật mới buộc phải đưa ra xét lại toàn bộ lịch sử đã qua và

hoạt động cảm tính của con người là thực tiễn . Đó là lẽ tại sao mặt hoạt động lại
được chủ nghĩa duy tâm phát triển , ngược lại với chủ nghĩa duy vật, nhưng chỉ được
phát triển một cách trừu tượng thôi, vì chủ nghĩa duy tâm tất nhiên không hiểu được
sự hoạt động hiện thực , cảm tính với tính cách như vậy .
Thứ học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của hoàn
cảnh và của giáo dục , rằng do đó , con người đã được biến đổi là sản phẩm của
những hoàn cảnh khác và của 1 sự giáo dục đã biến đổi , thứ học thuyết đó quên rằng
hoàn cảnh được biến đổi bởi chính con người và bản thân nhà giáo dục cũng phải
được giáo dục. Bởi thế , học thuyết ấy không tránh khỏi dẫn tới chỗ phân chia xã hội
thành hai bộ phận mà một trong hai bộ phận đó đứng lên trên xã hội
Sự phù hợp giữa sự biến đổi của hoàn cảnh và hoạt động cảu con người chỉ có
thể xét và hiểu một cách hợp lý như là thực tiễn cách mạng
PhơBach xuất phát từ sự thực là có sự tự tha hoá về mặt tôn giáo , có sự phân
thế giới thành hai: thế giới tôn giáo tưởng tượng và thế giới hiện thực. Công việc của
ông là quy thế giới tôn giáo trở về cơ sở thế gian của nó. Nhưng ông không nhận
thấy rằng sau khi hoàn thành công việc ấy , cái chủ yếu vẫn còn chưa làm được . Cụ
thể là : cơ sở thế gian tự tách rời khỏi bản thân nó , bay lên mây mù thành một vương
quốc độc lập , điều đó chỉ có thể giải thích bằng sự tự phân biệt và tự mâu thuẫn của
cơ sở thế gian ấy . Vậy trước hết phải hiểu bản thân cơ sở thế gian trong mâu thuẫn
của nó để rồi cách mạng hoá nó một cách thực tiễn bằng cách bài trừ mâu thuẫn đó .
Do đó , chẳng hạn một khi người ta tìm thấy rằng gia đình ở trần thế là cái bí mật của
cái gia đình thần thánh thì từ nay bản thân gia đình ở trần thế là cái mà chúng ta phải
phê phán về mặt lý luận và phải cải tạo trong thực tiễn bằng cách mạng
Đời sống xã hội về bản chất là có tính chất thực tiễn . Tất cả những sự thần bí
đang đẩy lý luận vào con đường chủ nghĩa thần bí , đều được giải quyết một cách
hợp lí trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết về thực tiễn đó
Các nhà triết học trước kia chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status