TIỂU LUẬN:
Những nét khái quát nhất về các quy trình
công nghệ, dây truyền sản xuất cũng như
công tác thực hiện An Toàn Vệ Sinh Lao
Động tại công ty Gang Thép Thái Nguyên
Lời mở đầu
Bảo Hộ Lao Động với ba nội dung chính là: Thực hiện công tác an toàn, vệ
sinh lao động; tuyên truyền về công tác an toàn và tai nạn xảy ra trong các nhà máy
xí nghiệp nhằm tác động đến ý thức thực hiện công tác An Toàn Vệ Sinh; ban hành
các chế độ chính sách, luật pháp về công tác Bảo Hộ Lao Động - An Tàon Lao
Động. Trong ba mục tiêu trên thì nội dung chủ yếu và cốt lõi là thực hiện công tác
An Toàn - Vệ Sinh Lao Động đó là các hoạt động đồng bộ trên các mặt lập pháp, tổ
chức hành chính, kinh tế xã hội khoa học kỹ thuật, nhằm cải thiện điều kiện lao
nhằm đảm bảo an toàn, bảo vệ sức khoẻ cho người lao động. Bảo Hộ Lao Động là
một yêu cầu rất khách quan để bảo vệ người lao động - yếu tố chủ yếu và năng động
nhất của lực lượng sản xuất. Hoạt động BHLĐ phát triển phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế, khoa học công nghệ của mỗi quốc gia, mỗi đơn vị sản xuất.
- Điều kiện lao động: Được hiểu là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội,
kinh tế, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các phương tiện và công cụ lao động,
quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp chúng trong không gian và
thời gian, sự tác động của chúng trong mối quan hệ tác động qua lại với người lao
động tại chỗ làm việc tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trogn quá trình
lao động. Tình trạng tâm sinh lý của con người trong khi lao động tại chỗ làm việc
cũng là một yếu tố gắn liền với điều kiện lao động.
- Các yếu tố nguy hiểm và có hại: Là yếu tố xuất hiện trong điều kiện lao
động có ảnh hưởng xấu, có hại và nguy hiểm, có nguy cơ gây ra tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Các yếu tố nguy hiểm và có hại xuất hiện
trong sản xuất cũng có nhiều loại, chúng được phân chia thành 4 loại chính sau:
+ Các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm bức xạ có hại, bụi tiếng ồn
+ Các yếu tố hoá học: Các chất độc hại, các loại hơi khí độc, bụi độc, các
chất phóng xạ
+ Các yếu tố sinh vật, vi sinh vật như các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, nấm
mốc các loại ký sinh trùng
+ Các yếu tố bất lợi về yếu tố lao động, không tiện nghi do không gian nhà
xưởng chật hẹp, mất vệ sinh các yếu tố không thuận lợi về tâm lý - Tai nạn lao động: Là tai nạn xảy ra trong quá lao động, công tác do kết quả
của sự tác động đột ngột từ bên ngoài làm chết người, tổn thương hoặc phá huỷ
chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể. Trường hợp
người lao động bị nhiễm độc đột ngột với sự xâm nhập vào cơ thể một lượng lớn
các chất độc có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc huỷ hoại chức năng nào đó
của cơ thể cũng có thể coi là tai nạn lao động. Trường hợp người lao động bị tai nạn
3. Tính chất của công tác BHLĐ.
Công tác BHLĐ mang 3 tính chất:
+ Tính khoa học kỹ thuật.
+ Tính pháp luật.
+ Tính quần chúng.
- Tính khoa học và kỹ thuật: Vì các biện pháp sử dụng ở đây phải có cơ sở
khoa học, việc đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm và có hại đến cơ thể
người lao động.
Các giải pháp kỹ thụât an toàn đều là các hoạt dộng khoa học kỹ thuật sử
dụng các dụng cụ khoa học do cán bộ khoa học thực hiện.
Hoạt động BHLĐ mang tính luật pháp ở chỗ muốn các giải pháp, biện pháp
khoa học kỹ thuật được thực hiện thì cần thể chế chúng thành các văn bản luật, các
văn bản dưới luật nhằm bảo đảm các giải pháp đó phải được thực hiện nghiêm
chỉnh phải có biện pháp kiểm tra việc thực hiẹn giải pháp đó.
Hoạt động BHLĐ mang tính quần chúng rộng rãi vì cả người sử dụng lao
động và người lao động đều cần phải được bảo vệ, hoạt động BHLĐ muốn thu hút
kết quả cao thì phải có sự tham gia hưởng ứng của đông đảo mọi người.
4. Nội dung của công tác BHLĐ.
Cùng với ba tính chất trên để đạt được mục tiêu của công tác BHLĐ, công
tác này phải được thực hiện với các nội dung sau:
* Nội dung về khoa học:
* Nội dung về xây dựng và thực hiện quy chế, chế độ chính sách, tiêu chuẩn
quy định về BHLĐ và công tác quản lý nhà nước về BHLĐ.
* Những nọi dung về công tác tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện về BHLĐ.
- Nội dung về khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động: Đây là nội dung quan
trọng trong côgn tác BHLĐ. Nội dung chính của khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động
bao gồm các vấn đề y học lao động và bệnh nghề nghiệp, kỹ thuật vệ sinh kỹ thuật
an toàn, khoa học về phương tiện bảo vệ cá nhân, kỹ thuật phòng cháy chữa cháy và
các nội dung khác (Ecônmic). Phần II.
giới thiệu chung về công ty gang thép thái nguyên và tình hình thực hiện an
toàn vệ sinh lao động tại công ty.
I.Giới thiệu chung về Công ty Gang Thép Thái Nguyên.
Công ty gang thép Thái Nguyên có tên giao dịch là: Thai Nguyen Iron and
steel corporation viết tắt là TISCO.
Trụ sở: Phường Lưu Xá - Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Công
ty đã có trên 40 năm phát triển, năm 1959 khởi công xây dựng khu gang thép.
Nhà máy Luyện Gang tiền thân của Công ty Gang Thép Thái Nguyên được
thành lập ngày 29/11/1963, đây cũng là ngày mà mẻ Gang đầu tiên ra lò.
Năm 1962 - 1972, các quá trình công nghệ, trạm xử lý nước thải bị bắn phá
hoàn do cuộc chiến tranh Mỹ.
Trước năm 1985 Nhà máy Gang Thép trực thuộc quản lý Nhà nước sau
năm 1985 chuyển sang hoạt động theo công ty gồm 24 đơn vị thành viên trải dài từ
Đà Nẵng đến Thái Nguyên.
Công ty là một ngành công nghiẹp thu nhỏ của Việt Nam, tập trung sản xuất
Gang thép, vật liệu xây dựng, khai thác mỏ than, quặng sắt
Sau hơn hoạt động, các công trình bị xuống cấp nhiều, được sự đầu tư của
nhà nước:
Giai đoạn 1: Thay đổi một số dây truyền công nghệ gồm lò cao, lò siêu công
suất.
Giai đoạn 2: Nâng sản xuất phôi thép nên 751 triệu tấn /năm gấp 2 3 lần.
Công ty Gang Thép Thái Nguyên là công ty trực thuộc bộ Công Nghiệp Việt
Nam, nguyên liệu chính của công ty quặng, than, sắt, thép, phế thải
Mặt bằng công ty nằm ở vị trí hết sức thuận lợi cho sự phát triển công
nghiệp. Nền của công ty được dặt trên gần 1000 quả đồi lớn nhỏ nên chịu lực rất tốt.
1.Bộ máy tổ chức của công ty.
Sơ đồ hệ thống tổ chức quản lý của công ty Gang Thép Thái Nguyên.
công ngh
ệ
P.K
ế hoạch vật
tư
P.Kế toán
th
ống kê
P.Hành chính
P.Tổ chức lao
đ
ộng
Tổ khu thành
ph
ẩm
Tổ vận chuyển
T
ổ KCS
Nhà ăn
Khối trực
ti
ếp
3
, một lò có dung
tích 120 m
3
.
Về luyện thép: Phần lớn dùng lò điện quang từ 1,5 30 tấn /mẻ.
Về công nghệ cán có 2 nhà máy cán: Nhà máy cán Lưu Xá và nhà máy cán
Gia Sàng. Với sản lượng 33 tấn/mẻ(năm 2003).
Những năm gần đây nhà máy đã trang bị được một số thiết bị máy móc hiẹn
đại để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Riêng ngành luyện kim cũng đã
thay đổi dược dây truyền sản xuất vào năm 2001- 2002.
4. Tình hình sản xuất kinh doanh.
Với những thuận lợi sẵn có cùng với sự tích cực đầu tư đổi mới công nghệ,
cơ chế quản lý đã tạo chỗ đứng vững chắc cho đơn vị nhà máy nói riêng và tổng
công ty nói chung trên thị trường. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của đơn vị ngày một nâng cao, đời sống cán bộ công nhân viên chức ngày càng tăng sản phẩm nhãn
mác, thương hiệu hàng hoá của đơn vị ngày càng có uy tín trên thị trường, chất
lượng giá cả hợp lý và có sức cạnh tranh cao. Điều đó càng làm cho công ty có diều
kiện mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường, tạo công ăn viẹc làm cho rất nhiều lao
động với mức lương thoả đáng với công sức mà họ bỏ ra và càng có điều kiện nâng
cao cải tiến trang thiết bị, thực hiện tốt hơn các chế độ chính sách của nhà nước về
An Toàn vệ Sinh Lao Động.
Sản phẩm của công ty bao gồm: Gang, thép, vật liệu xây dựng, chi tiết máy,
dụng cụ nông nghiệp.
II. Công tác an toàn bảo hộ lao động ở công ty.
Công ty đã trải qua trên 40 năm vận hành và đã sản xuất cho tổ quốc nhiều
tấn gang thép. Đặc diểm nổi bật của công ty là máy móc đã già cỗi, lạc hậu thường
xuyên phải sửa chữa, đại tu thay thế. Số người làm việc đông, công việc vận hành
sản xuất được thực hiện 1 năm một lần.
+ Bước 3: Huấn luyện kỹ thuật an toàn tại vị trí, nơi làm việc trực tiếp do tổ
trưởng chịu trách nhiệm thường xuyên kiểm tra đôn đốc.
Mạng lưới an tàon vệ sinh viên của công ty là người tổ chức, quản lý thực
hiện do công đoàn quản lý.
Về vấn đề chăm sóc sức khoẻ công nhân: Hàng năm công ty đều tổ chức
khám sức khoẻ định kỳ cho toàn bộ cán bộ công nhân viên. Từ đó phân loại sức
khoẻ và phát hiện bệnh nghề nghiệp kịp thời chữa trị, đề ra mức bồi thường thích
hợp cho từng công nhân làm ở các điều kiện làm việc khác nhau, bảo vệ sức khoẻ
cho công nhân, đẩy mạnh sản xuất. Công ty tổ chức khám tuyển và bố trí công nhân
làm việc hợp lý.
2. Phòng kỹ thuật an toàn.
Từ khi xây dựng đến nay phòng KTAT vẫn tồn tại và là một bộ phận tham
mưu trực tiếp cho giám đốc công ty.
Phòng KTAT - BHLĐ có 35 cán bộ làm công tác BHLĐ chuyên trách, 7 kỹ
sư công nghệ làm công tác BHLĐ. Trưởng phòng kỹ thuật an toàn là: Kỹ
sư.Nguyễn Văn Kế.
Phòng có quy định chức năng và nhiệm vụ cho từng người trực tiếp theo rõi
phụ trách các phần việc khác nhau. Nhiệm vụ chính là giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến công tác BHLĐ, thường xuyên kiểm tra giám sát tại chỗ người lao
động.
3. Phòng tổ chức công tác BHLĐ.
Ban chấp hành công đoàn công ty có 15 người, trong dó ca 2 nữ. Ban thường
vụ có 5 người trong đó có 1 nữ là trưởng ban nữ công kiêm phó chủ tịch công đoàn.
Ban nữ công có 9 người. ban thanh tra công nhân có 5 người, ban công đoàn có 3
người.
Có tất cả 114 uỷ viên chấp hành công đoàn làm mọi việc có liên quan đến
việc bảo vệ lợi ích cho công nhân la động, chăm sóc sức khoẻ người lao động tạo
chuyên đề về phòng chống cháy nổ về điện, hoá chất độc hại
Về công tác huấn luyện, công ty quy định mọi người khi vào công ty làm
việc phải học về BHLĐ có thẻ ra vào các đơn vị phải có lịch huấn luyện kiểm tra an
toàn định kỳ.
ở đâu có lao động là ở đó có BHLĐ. BHLĐ đi từ công nghệ và gắn liền với
sản xuất. Do sản lượng gang thép là liên tục, công nhân trong nhà máy lại rất đông
nên việc quản lý về BHLĐ cần phải quản lỹ chặt chẽ theo pháp lệnh về sản xuất
công nghiệp hiện nay.
Tuy nhiên giữ an toàn chặt chẽ thì phương thức tiến độ không đảm bảo, còn
đảm bảo phương thức tiến độ thì vấn đề an toàn lại bỏ qua. Vì vậy việc dung hoà
giữa an toàn lao động và tiến độ sản xuất là một vấn đề hết sức cần thiết cần được
các cấp quản lý quan tâm.
III. Giới thiệu chung về nhà máy luyện - cán thép gia sàng.
1. Giới thiệu chung.
Nhà máy luyện cán thép Gia Sàng được khởi công xây dựng ngày 23/3/1971,
là đơn vị thành viên trực thuộc tổng công ty gang thép Thái Nguyên.
Được cộng hoà dân chủ Đức đầu tư quy trình công nghệ khép kín với công
suất thiết kế ban đầu là 62.500 tấn thép thỏi và 5000 tấn thép kéo dây mạ kẽm.
Đây là 3 sản phẩm chính của nhà máy. Sau 4 năm xây dựng ngày 1/5/1975
mẻ thép đầu tiên ra lò đúng vào ngày quốc tế lao động đó là ngày truyền thống của
nhà máy.
- Ngày 28/81975 công nghệ cán thép đi vào sản xuất. - Ngày 12/6/1976 công nghệ kéo dây mạ kẽm đi vào sản xuất.
Sản phẩm của nhà máy sản xuất theo TCVN, tiêu chuẩn Nga, tiêu chuẩn
Nhật Bản.
Sau 3 năm sản xuất, năm 1978 nhà máy đã vượt công suất thiết kế thép cán,
thép thỏi trên 5000 tấn, thép cán vượt 12% so với thiết kế ban đầu. Năm 1984 sản
được thể hiện theo sơ đồ: Giám đốc
P.Giám đốc 1
ph
chính
quản
trị
P.
Bảo
vệ
Phân
xưởng
luyện
thép
Phân
xưởng
cán
thép 1
Phân
xởng
cán
thép 2
Phân
xưởng
cơ
điện
NL
Phân
xưởng
may
Trạm
điện11
0 kV
Lò nung liên tục 3
vòng kiểu đẩy
Máy cán phôi
( 530)
( 7 lần cán)
Cắt đầu đuôi
50tấn(cắt nóng)
Máy cán 400
(Cán 5 lần)
Ra cán
(360*2)
360 * 4
hàng ngang
Ra 280*2
thành phẩm
Máy cắt (cắt bay phân đoạn)
5 đoạn* 46 m
Sàn làm
má t(55*13)
Máy cắt
nguội 250 T
(cắt 46m - 11,7m)
Đ óng bó
Cân
(Nhập kho)
không an toàn.
3. An toàn thiết bí áp lực.
Có nhiều việc phải làm sau mỗi lần ngừng lò, máy vì có liên quan đến các
thiết bị áp lực và phải đưa ra xem xét, khám nghiệm định kỳ hoặc đến hạn phải đưa
ra đại tu sửa chữa, tuy vậy các thiết bị áp lực liên quan đến nồi hơi vận hành còn
nhiều sự cố mà thường là xì, bục ống quá nhiệt, ống bộ hâm, bộ sấy của lò mới đại
tu do chất lượng mối hàn kém, cần rút kinh nghiệm. 4. An toàn thiết bị nâng.
Nhà máy đang vận hành quản lý các thiết bị nâng như Palăng, cầu trục vận
hành bằng điện hoặc cần cẩu bánh lốp di dộng. Các thiết bị này đã được kiểm tra
định kỳ và cấp phép sử dụng song có một thực tế là đơn vị trực tiếp quản lý các
thiết bị nâng chính những người dược bàn giao cho sử dụng, việc sử dụng các thiết
bị hư hỏng không dược bàn giao kịp thời, có hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm cho
nhau làm chậm tiến độ khám nghiệm, hoặc thiếu chủ động khi đưa các thiết bị có
liên quan ra sửa chữa.
5. An toàn hoá chất và xử lý chất thải.
Trong quy công nghệ sản xuất từ quặng ra gang, thép có một khâu rất quan
trọng là biến nước cứng của sông cầu thành nước mềm nhờ hoá chất sút và phèn.
Ngoài ra nhà máy còn dùng dầu FO để nhóm lò, đây la một nguồn ô nhiễm lớn.
Khi vận hành các thiết bị áp lực rất nguy hiểm do sinh công dẫn đến sinh
nhiệt dễ gây cháy nổ do áp lực tăng cao. Vì vậy ta phải làm mát bằng H
2
, yêu cầu
khi sử dụng H
2
làm mát là phải kín, khí H
2
phân tán với áp lực lớn chia nhỏ tia hồ
khá lớn, ở xung quanh thiết bị cán thép và lò đúc phôi có độ rung nhưng có ảnh
hưởng không lớn đến sức khoẻ người lao động. Nhưng ồn có ảnh hưởng đáng kể.
Vì nhà máy có quy mô lớn, công suất các thiết bị cao nên quá trình vận hành phát ra
tiếng ồn lớn là điều tất nhiên. Để hạn chế tiếng ồn nhà máy đã thiết kế các buồng
điều khiển cách âm rất tốt ở những nơi có ồn rung, hạn chế tối đa số người lao động
sử dụng trang thiết bị có độ ồn rung lớn và trang bị bịt tai cho người lao động. Tuy
nhiên khi đến 1 phân xưởng sản xuất, ngươi lao động phải đứng ngay bên cạnh máy
móc để điều khiển, họ không hề có bịt tai để chống ồn, nói thì phải hét thật to thì mới nghe thấy và họ liên lạc với nhau bằng ký hiệu tay. Như vậy vấn đề chống ồn
của nhà máy chưa được đảm bảo cần phải có những biện pháp để khắc phục
7. Phòng chống cháy nổ
Để đảm bảo tốt công tác PCCN, đơn vị nhà máy thành lập đội PCCN có 1
người trực 24/24 sẵn sàng ứng cứu kịp thời các sự cố cháy nổ xảy ra trong đơn vị.
Đội PCCN được huấn luyện định kỳ về nghiệp vụ 2lần/năm, đội có xây dựng
phương án PCCN từng năm để phù hợp với tình hình của đơn vị và được phòng
cảnh sát PCCC thành phố Thái Nguyên phê duyệt.
Tất cả các khu vực sản xuất, làm việc trong nhà máy dều được trang bị bình
cứu hoả đặt ở vị trí thuận tiện cho việc sử dụng. Nội quy PCCN được phổ biến đến
tận tổ sản xuất để người lao động biét có ý thức thực hiện.
Hàng năm công tác PCCN được đưa vào kế hoạch BHLĐ và giành được một
khoảng kinh phí phục vụ cho hoạt động trong đó chủ yếu để mau sắm kiểm tra trang
thiết bị và công tác huấn luyện về PCCC. Tất cả các cán bộ trong nhà máy đều được
huấn luỵen về PCCC để đảm bảo biét sử dụng các trang thiết bị phục vụ chữa cháy
cơ bản như bình cứu hoả và bơm chữa cháy. Định kỳ 6 tháng một lần nhà máy tổ
chức kiểm tra, thay thế, bổ sung các trang thiết bị, phương tiện phục vụ chữa cháy
như: Bình bột, bình khí CO
2
, bơm chữa cháy
Nhà máy thực hiện tốt chế độ giờ làm việc, giờ nghỉ ngơi của công nhân
trong ngày là 8h/ngày, 48h/ tuần trong đó có thời gian nghỉ giữa ca.
Với chế độ nghỉ phép người sản xuất thường được nghỉ phép 14 ngày/năm,
với sản xuất đặc biệt được nghỉ phép 16 ngày/năm và cứ 5 năm tăng một ngày phép.
Trong thời gian nghỉ phép năm công tác công nhân vẫn được hưởng lương.
Công nhân nhà máy được bồi dưỡng sức khoẻ trong ca làm việc tuỳ từng tính
chất của công việc và có 3 mức.
+ Loại I: 1500VNĐ/xuất.
+ Loại II: 2100VNĐ/xuất.
+ Loại III: 2800VNĐ/xuất.
Hiện vật để bồi dưỡng là sữa, đường tuỳ thuộc theo điều kiện có thể thay thế
bằng chè, nước hoa quả, thịt, trứng. Chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật được tổ chức
phục vụ ăn tại nhà máy theo đúng chức danh chế độ và tiêu chuẩn, cấm thanh toán
bằng tiền. Toàn bộ các công nhân viên trong nhà máy đều được đóng thẻ Bảo Hiểm với
mức đóng góp của công nhân là 5% tiền lương cơ bản hàng tháng, nhà máy đóng
15% tổng quỹ tiền lương của cán bộ công nhân viên trong nhà máy. Người lao động
được hưởng các chế độ BHXH: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động,
BNN Hàng năm nhà máy tổ chức đại hội công nhân viên chức do ban chấp hành
công đoàn tổ chức, lấy ý kiến tập thể về nội dung thoả ước lao động tập thể, biên
bản phải có chữ ký của đại diện ban chấp hành công đoàn nhà máy và được đăng ký
với cơ quan lao động.
Toàn thể công nhân trong nhà máy đều được ký hợp đồng lao động với nhà
máy bằng các văn bản.
Mỗi năm một lần nhà máy tổ chức thi nâng bậc cho công nhân.
mức như: Bụi, CO, CO
2
, SO
2
, NO
2
, NH
3
, tiếng ồn nói chung đều dưới mức tiêu
chuẩn cho phép.
- Kết quả phân tích tại khu dân cư Gia Sàng trước hướng gió đông bắc(số
nhà 22 đường bắc nam) và khu dân cư cuối hướng gió Đông Bắc, khu dân cư dọc
đường cách mạng tháng 8(cạnh cầu Loàng) mức độ bụi và ồn còn quá lớn cụ thể
mức bụi cao nhất là 0,956 mg/m
3
mà tiêu chuẩn cho phép là 0,3mg/m
3
, tiếng ồn cao
nhất là 88,9 dB tiêu chuẩn cho phép là 50 70 dB.
Căn cứ vào thực trạng của công tác an toàn vệ sinh lao động của các nhà
máy, các biện pháp tổ chức quản lý, quy trình công nghệ, dây truyền sản xuất và các
chỉ tiêu đánh giá em xin có vài đề xuất sau:
1. Tăng cường các biện pháp kỹ thuật giảm tiếng ồn cho các máy móc thiết
bị ở những khâu sản xuất có mức độ ồn quá lớn cụ thể là ở các máy cán thép. Có thể
sử dụng biện pháp chặn ồn tại nguồn phát sinh như sử dụng lớp che chắn hay sử
dụng hẹ thông bao bọc giảm thanh ở giữa bằng các lớp bảo ôn. Sau khi sử dụng tất
cả các biện pháp trên không được mới phải sử dụng bịt tai an toàn cho người lao
động.
2. Trang bị BHLĐ cho công nhân tại nhà máy cần thay đổi, hiện nay quần áo
BHLĐ được cấp phát đều được may trên sợi tổng hợp có chứa nilon, mặc rất nóng