LUẬN VĂN:
Những đề xuất nhằm hoàn thiện hoạt
động xuất khẩu thuỷ sản của công ty
xuất nhập khẩu thuỷ sản Hà Nội trong
thời gian tới
Lời mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Ngành xuất khẩu thuỷ sản được xây dựng và phát triển mạnh mẽ trong 20 năm
Đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và phương pháp luận
chủ yếu về một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của công ty xuất nhập
khẩu thuỷ sản Hà Nội
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Trong khuôn khổ nghiên cứu, đề tài tập trung vào vấn đề xây dựng một số biện
pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản đó chỉ là một số biện pháp chính và
quan trọng trong vô số các biện pháp cần được quan tâm.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công ty xuất nhập khẩu thuỷ sản Hà Nội (
SEAPRODEX Hà Nội ). Đây là một doanh nghiệp nhà nước, hoạt động chủ yếu
trong lĩnh vực XNK thuỷ sản trên địa bàn Miền Bắc.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và các phương
pháp cụ thể khác như: Điều tra phân tích kinh tế, tiếp cận hệ thống. để phục vụ cho
mục đích nghiên cứu.
5. Những đóng góp của đề tài.
-Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về biện pháp đẩy mạnh xuất
khẩu thuỷ sản của doanh nghiệp.
-Đánh giá đúng thực trạng, phân tích một cách khách quan những tồn tại và
những nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình kinh doanh của công ty
-Xây dựng được một hệ thống những quan điểm định hướng và những biện
pháp đóng góp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của công ty XNK thuỷ
sản Hà Nội
6. Kết cấu luận văn.
Tên luận văn: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản
của công ty XNK thuỷ sản Hà Nội ( SEAPRODEX Hà Nội )
Luận văn gồm:
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
Chương I
nhung van de co ban ve ly luan va
phuong phap luan ve hoat dong
xuat khau cua doanh nghiep
I. Thực chất và tầm quan trọng của hoạt động
xuất khẩu
1) Bản chất của xuất khẩu ( Hoạt động thương mại quốc tế ):
Nền thương mại quốc tế là sự hoạt động buôn bán giữa một quốc gia này với
một quốc gia khác, là sự trao đổi dưới hình thức mua bán hàng hoá và những dịch
vụ kèm theo việc mua bán hàng hoá như bảo hành, sửa chữa, lắp ráp máy móc,
bảo hiểm. Vì là một ngành kinh tế thực hiện chức năng lưu thông hàng hoá giữa
thị trường trong nước với thị trường nước ngoài, nên người ta coi ngành này là
cái cầu nối giữa hai thị trường và có tác dụng quan trọng thúc đẩy thị trường trong
nước
Hoạt động thương mại quốc tế của một nước bao gồm 3 nội dung cơ bản :
- Hoạt động ngoại thương: Gồm hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu
- Hoạt động hợp tác: Gồm hợp tác đầu tư và hợp tác khoa học công nghệ
- Hoạt động du lịch và dịch vụ: Là hoạt động vận tải, ngân hàng.
Vậy:
Xuất khẩu: Là hoạt động buôn bán giữa các chủ thể có quốc tịch khác nhau
được thực hiện qua biên giới quốc gia (Đường bộ, hàng không, đường thuỷ ).
Đây là hoạt động cơ bản của ngoại thương, xuất hiện lâu đời do sản xuất phát triển.
Cho đến nay các hình thức xuất khẩu rất đa dạng, hoạt động xuất khẩu diễn ra
trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ
với hàng hoá hữu hình mà cả với hàng hoá vô hình với tỉ trọng ngày càng lớn
Đảng và nhà nước ta có chủ trương mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại và
kinh tế đối ngoại. Trong đó một lĩnh vực cực kỳ quan trọng đó là hoạt động xuất
quyết định sự phát triển của sản xuất. Trong khi đó chính sách đóng cửa đã hạn chế
khả năng tiếp thu kỹ thuật mới, làm cho nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất
nhỏ là phổ biến, không có nguồn bổ xung kĩ thuật tiên tiến. Kết quả tất yếu là năng
xuất lao động thấp, hiệu quả kém, khả năng cạnh tranh yếu, tốc độ tăng trưởng
chậm.
- Hầu hết các nước nghèo, lạc hậu hoặc đang phát triển đều thiếu vốn. Trong
khi đó quá trình phát triển công nghiệp đòi hỏi phải nhập khẩu một khối lượng ngày
càng nhiều máy móc thiết bị, nguyên liệu công nghiệp mà trong nước không tự sản
xuất được. Nếu không phát triển mạnh xuất khẩu thì vấn đề ngày càng trở nên gay
gắt, thiếu hụt trong cán cân ngoại thương và cán cân thanh toán ngày càng lớn.
- Thị trường trong nước nhỏ hẹp, không đủ đảm bảo cho sự phát triển công
nghiệp với qui mô hiện đại, sản xuất hàng loạt do đó không tạo thêm việc làm, đây
là một vấn đề mà các nước nghèo và các nước đang phát triển luôn luôn phải giải
quyết
Nền kinh tế mở cửa sẽ mở ra những hướng phát triển mới tạo điều kiện khai
thác lợi thế, tiềm năng sẵn có của một nước, nhằm sử dụng trong sự phân công lao
động quốc tế một cách có lợi nhất. Trong thời đại ngày nay trên thế giới đã và đang
diễn ra những biến động to lớn và sâu sắc. Những thay đổi đó, một mặt tạo ra cơ hội
để các nước đang phát triển như nước ta vươn lên nhằm đạt được mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội. Mặt khác cũng đặt ra thách thức đòi hỏi mỗi quốc gia phải đối phó và
giải quyết
Đối với những nước mà trình độ phát triển kinh tế còn thấp như ở nước ta, có
những nhân tố thuộc tiềm năng là: tài nguyên thiên nhiên và lao động. Còn những
nhân tố thiếu và yếu là vốn, khoa học kỹ thuật, thị trường và khả năng quản lý.
Chiến lược hướng vào xuất khẩu về thực chất là giải pháp mở cửa nền kinh tế nhằm
tranh thủ vốn và kĩ thuật của nước ngoài, kết hợp chúng với những tiềm năng bên
trong về lao động và tài nguyên thiên nhiên, để tạo ra sự tăng trưởng nhanh về
doanh theo hướng ngày càng gắn với thị trường, lấy thị trường làm điểm xuất phát
và mục tiêu của hoạt động kinh doanh tốt là điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và
phát triển
3) Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu là quá trình tiêu thụ hàng hoá được thực hiện qua biên giới quốc gia
nên có đặc điểm chủ yếu sau:
- Khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài, loại khách hàng
này có những đặc điểm khác biệt với khách hàng trong nước về ngôn ngữ, lối sống,
mức sống, phong tục, tập quán, tôn giáo Do đó, trước khi xuất khẩu đòi hỏi doanh
nghiệp phải nghiên cứu kĩ thị trường và tìm hiểu về nhu cầu nhằm thoả mãn nhu cầu
của họ bằng hàng hoá thích hợp
- Thị trường trong hoạt động xuất khẩu thường phức tạp và khó tiếp cận do
cách xa về mặt địa lý, khó khăn về thu nhập và sử lý thông tin, sự khác biệt về môi
trường pháp lý. Sự khó khăn trong vận chuyển hàng hoá
- Xuất khẩu thông qua hợp đồng với khối lượng lớn nên đòi hỏi kĩ càng,
chặt chẽ, tránh nhầm lẫn, khiếu nại, tranh chấp về sau.
Các nghiệp vụ liên quan đến xuất khẩu như : Thanh toán, vận chuyển, kí kết
hợp đồng đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Xuất khẩu có thể đem lại những
hiệu quả cao về kinh tế hơn so với tiêu thụ trong nước.
4) Các hình thức xuất khẩu hàng hoá:
Khi tiến hành kinh doanh xuất khẩu, các doanh nghiệp phải nghiên cứu và
đánh giá ưu điểm, nhược điểm của từng hình thức kinh doanh xuất khẩu và đưa ra
quyết định chính xác để lựa chọn được hình thức kinh doanh phù hợp nhất với môi
trường và khả năng của mình
a) Xuất khẩu trực tiếp:
Doanh nghiệp có giấy phép xuất khẩu của nhà nước, trực tiếp xuất khẩu sản
phẩm của mình ra nước ngoài, không thông qua đơn vị trung gian. Doanh nghiệp
trực tiếp kí kết các hợp đồng xuất khẩu, tổ chức sản xuất giao hàng và tổ chức các
kiếm thị trường và tìm kiếm khách hàng, không có bước đột phá trong việc sinh lời
cũng như tạo ra siêu lợi nhuận
c) Gia công quốc tế :
Là loại hình chế biến sản phẩm theo mẫu mã, tiêu chuẩn kĩ thuật của hai quốc
gia. Bên sản xuất( bên B ) nhận trước nguyên liệu, thiết bị kĩ thuật để sản xuất ra sản
phẩm giao cho bên đặt làm ( bên A ) và nhận tiền công theo hợp đồng
Gia công quốc tế xuất phát từ lợi ích của hai bên. Bên A có nguyên liệu, có
nhu cầu và thành phẩm ổn định, có thị trường tiêu thụ, tận dụng nguồn nhân công rẻ
mạt, nhàn hạ, giá thành thấp nên đưa công đoạn chế biến ra nước ngoài. Bên B
thiếu vốn và kĩ thuật nhưng lại có nhân công, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu
nhập, thiếu thiết bị kĩ thuật mới và kinh nghiệm quản lý, tiếp xúc với thị trường
nước ngoài
- Ưu điểm: Doanh nghiệp không phải bỏ vốn vào kinh doanh, không phải lo
đầu vào, và quan trọng là không phải lo đầu ra, rủi ro ít, thị trường đảm bảo và an
toàn. Do vậy Việt Nam là nước hay nhận gia công do có nguồn nhân lực phong phú,
giá nhân công rẻ nhưng công nghệ sản xuất kém nên các doanh nghiệp nhận đặt
hàng gia công thường đầu tư máy móc thiết bị dây truyền công nghệ phù hợp cho
quá trình sản xuất. Vì thế các doanh nghiệp nhận gia công vừa được đầu tư thiết bị
công nghệ, vừa có điều kiện học hỏi kinh nghiệm, tạo điều kiện cho sản xuất phát
triển, từ đó nâng cao được chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh trên thị
trường thế giới
- Nhược điểm: Hình thức này đòi hỏi phải làm nhiều thủ tục nhập và xuất,
qua nhiều khâu trung gian. Đòi hỏi đội ngũ cán bộ xuất nhập khẩu có năng lực, trình
độ, kinh nghiệm tốt trong lĩnh vực XNK. Các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động
này thường bị động về vấn đề thị trường, không biết sự biến động của nó, chính
vì vậy lợi nhuận đạt được từ hoạt động này thường là quá thấp so với các doanh
nghiệp xuất khẩu trực tiếp
khác nhau nên một quốc gia có thế mạnh về lĩnh vực này nhưng lại yếu về lĩnh vực
khác. Vì vậy, để có thể khai thác được lợi thế, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản
xuất và tiêu dùng, các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau dựa trên lý thuyết
lợi thế so sánh của D.Ricardo.
Ông nói rằng :” Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với quốc gia khác
trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm, thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào
thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích của chính mình ’’ và khi tham gia vào thương
mại quốc tế thì ’’quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất các loại hàng hoá sẽ tiến
hành chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất
ra chúng là ít bất lợi nhất và nhập khẩu những loại hàng hoá mà việc sản xuất ra
chúng có bất lợi lớn hơn ’’. nói cách khác, một quốc gia trong tình huống bất lợi vẫn
có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này các quốc
gia tập chung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tương đối
Sự chuyên môn hoá đó làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình
một cách tốt nhất, giúp tiết kiệm được nguồn lực như vốn, kỹ thuật, nhân
lực trong quá trình sản xuất hàng hoá. Do đó tổng sản phẩm trên quy mô toàn thế
giới cũng sẽ được gia tăng
2) Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia.
Xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại chủ yếu của một quốc gia. Các lý
thuyết về thương mại quốc tế đã chỉ ra tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu là
một trong những yếu tố cơ bản thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế nước
nhà. Thực tế đã chứng minh rằng các nước đã tiến nhanh trên con đường tăng
trưởng và phát triển kinh tế là các nước có nền ngoại thương mạnh và năng động
a) Tạo nguồn vốn cho nhập khẩu : Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước
- Các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế đều chỉ ra rằng tăng trưởng
và phát triển kinh tế quốc gia cần 4 điều kiện : Nguồn lực – Tài nguyên – Vốn – Kĩ
giá cả và chất lượng đều không cao, do không được tập chung đầu tư, vì thế kết quả
thu được không cao
- Xuất khẩu mũi nhọn : Là tập chung xuất khẩu những mặt hàng mà mình có
điều kiện nhất, có lợi thế so sánh nhất. Đó chính là chuyên môn hoá trong sản xuất
và phân công lao động quốc tế. Khi chuyên sâu phát triển một mặt hàng nhất định
thì ta có điều kiện khả năng chiếm lĩnh thị trường, từ đó có thể thu được lợi nhuận
cao, khi mặt hàng xuất khẩu thu được lợi nhuận cao thì các doanh nghiệp sẽ tập
chung đầu tư phát triển mặt hàng đó và dẫn đến phát triển ngành hàng có liên quan
Chẳng hạn sự phát triển của ngành thuỷ sản xuất khẩu sẽ tạo cơ hội tốt cho
việc tập hợp các ngành nghề liên quan như chế biến, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản
để cung cấp nguyên liệu phục vụ cho ngành thuỷ sản xuất khẩu
c) Xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm: Dẫn đến cải thiện đời sống
nhân dân
Để tập chung phát triển các ngành hàng xuất khẩu thì phải cần thêm lao động.
Còn để xuất khẩu có hiệu quả thì phải tận dụng được lợi thế đó là lao động có số
lượng lớn, có trình độ văn hoá, giá nhân công rẻ. Chính vì vậy, nước ta chủ
trương phát triển ngành nghề cần nhiều lao động. Sản xuất hàng xuất khẩu thu hút
hàng triệu lao động vào làm việc và làm cho họ có thu nhập khá hơn. Ngoại tệ xuất
khẩu được dùng để nhập khẩu các vật phẩm tiêu dùng đáp ứng ngày một phong phú
nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
d) Là điều kiện thúc đẩy và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc
lẫn nhau. Xuất khẩu là một nội dung của kinh tế đối ngoại và tạo điều kiện thúc đẩy
các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư,
vận tải giữa các quốc gia với nhau
Qua hoạt động xuất khẩu, hàng hoá của Việt Nam được bày bán trên thị trường
quốc tế sẽ thu hút được sự chú ý của các đối tác nước ngoài. Các doanh nghiệp nước
phân công lao động quốc tế, thông qua việc phát triển các ngành chế biến xuất khẩu
đã góp phần nâng cao giá trị hàng hoá
III. Nội dung chủ yếu của công tác kinh doanh
xuất khẩu của doanh nghiệp XNK
Kinh doanh xuất nhập khẩu là một hoạt động kinh tế thương mại đối ngoại rất
phức tạp. Đó là một quá trình kinh doanh bao gồm rất nhiều khâu khác nhau. Mỗi
khâu lại bao gồm nhiều loại hoạt động mang những đặc điểm riêng và được tiến
hành theo cách thức nhất định. Hoạt động thương mại này rất phức tạp bởi lẽ chịu sự
điều tiết của nhiều hệ thống pháp luật, hệ thống tiền tệ và tín dụng thanh toán,
chính sách đối nội, đối ngoại của từng nước và có những đặc thù riêng hơn nữa bạn
hàng lại ở xa, thông tin liên lạc qua fax, điện thoại, dẫn đến chi phí cao, phải dùng
hệ thống ngôn ngữ quốc tế để trao đổi giao dịch. Do đó yêu cầu đối với người cán
bộ ngoại thương phải có cái nhìn tổng quát, có những kiến thức chuyên môn về kinh
doanh thương mại để phân tích, sàng lọc những thông tin để nắm vững những nội
dung của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, để đi đến một quyết định đúng đắn
trước khi bắt tay vào hoạt động kinh doanh xuất khẩu nhằm tạo mọi thuận lợi đi đến
kết quả thành công
Vậy nội dung chủ yếu của hoạt động xuất khẩu gồm:
1) Nghiên cứu thị trường quốc tế:
Đây là đầu tiên cần tiến hành hết sức cẩn thận và chu đáo. Nghiên cứu thị
trường tốt tạo khả năng cho các nhà kinh doanh nhận được quy luật vận động của
từng loại hàng hoá cụ thể thông qua sự biến đổi nhu cầu cung cấp và giá cả hàng hoá
đó trên thị trường
a) Nghiên cứu thị trường hàng hoá thế giới:
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại quốc tế việc nghiên cứu thị
trường trong nước chưa đủ mà còn phải nghiên cứu thị trường nước ngoài. Thị
trường nước ngoài có một ý nghĩa cực kì quan trọng trong kinh doanh xuất nhập
trường thích hợp, thời cơ thuận lợi, phương thức kinh doanh và điều kiện giao dịch
dễ dàng hơn
Tuy nhiên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh còn phụ thuộc vào phần lớn
là khách hàng. Trong nhiều trường hợp khách hàng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng
đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong những điều kiện như
nhau, việc giao dịch với khách hàng này thì bất lợi nhưng với khách hàng khác thì
thành công hoặc có khi giao dịch thành công rồi nhưng lúc đang thực hiện hợp đồng
lại xảy ra những bất khả kháng gây khó khăn và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả
kinh doanh. Vì vậy một nhiệm vụ quan trọng của doanh nghiệp khi kinh doanh xuất
nhập khẩu là phải nghiên cứu lựa chọn khách hàng
Để nghiên cứu lựa chọn khách hàng ngoài việc cần tìm hiểu kĩ về uy tín, khả
năng phát triển và thái độ chính trị của thương nhân ta còn phải đặc biệt chú ý đến
sở trường của họ trong lĩnh vực kinh doanh, khả năng tài chính, khả năng thanh toán
của họ. , không nên chỉ căn cứ vào những lời quảng cáo, tự giới thiệu. Và từ đó ta
có thể dựa vào những đặc điểm, số lượng, chủng loại, chất lượng mặt hàng để lựa
chọn khách hàng, chào hàng để họ có thể trả giá cho mặt hàng xuất khẩu đó. Từ đó
ta có thể xác định được đầu ra và đầu vào của mặt hàng mà doanh nghiệp kinh
doanh. Sau đó doanh nghiệp lập phương án kinh doanh
d) Nghiên cứu giá cả trên thị trường thế giới:
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá, đồng thời biểu hiện một cách
tổng hợp các hoạt động kinh tế, các mối quan hệ kinh tế như quan hệ cung cầu hàng
hoá, tích luỹ tiêu dùng. Giá cả luôn gắn với thị trường và chịu tác động của nhiều
nhân tố
Trong buôn bán quốc tế, giá cả thị trường rất phức tạp do việc buôn bán diễn ra
ở các khu vực khác nhau và trong thời gian dài. Mặt khác, hàng hoá được vận
chuyển qua nhiều nước có các chính sách thuế khác nhau nên giá cả cũng khác
nhau. Do vậy, để thích ứng với sự biến động của thị trường các nhà kinh doanh phải
doanh. Việc xây dựng phương án này bao gồm:
- Đánh giá tình hình thị trường, phác hoạ bức tranh tổng quát về hoạt động
kinh doanh và đưa ra những khó khăn thuận lợi.
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh. Sự lựa
chọn này phải có tính thuyết phục dựa trên cơ sở phân tích tình hình có liên quan.
- Đề ra mục tiêu cụ thể : Khối lượng, giá bán và thị trường xuất khẩu
- Đưa ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu đó.
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc kinh doanh thông qua các chỉ tiêu
chủ yếu như: tỷ suất ngoại tệ, thời gian hoàn vốn, điểm hoà vốn
3) Nguồn hàng cho xuất khẩu:
Chúng ta đều biết rằng, việc nghiên cứu lựa chọn nguồn hàng tốt sẽ góp phần
đáp ứng kịp thời, chính xác nhu cầu thị trường và thực hiện đúng thời hạn hợp đồng
với chất lượng tốt. Vậy nguồn hàng cho xuất khẩu là gì ? Đó là toàn bộ hàng hoá
của một công ty hay một địa phương, một vùng hoặc toàn bộ đất nước có khả năng
xuất khẩu được. Để tạo nguồn hàng cho xuất khẩu, các doanh nghiệp có thể đầu
tư trực tiếp hoặc gián tiếp cho sản xuất, có thể là thu gom hoặc kí hợp đồng với các
đơn vị sản xuất và với các chủ hàng
Nguồn hàng cho xuất khẩu ổn định là tiền đề cho việc phát triển kinh doanh
của các doanh nghiệp. Thông thường người ta tìm nguồn hàng cho xuất khẩu thông
qua việc nắm bắt khả năng cung ứng hàng xuất khẩu của các đơn vị trong và ngoài
ngành
4) Đàm phán ký kết hợp đồng:
a) Các hình thức đàm phán
Đàm phán là việc bàn bạc, trao đổi với nhau các điều kiện mua bán giữa các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến ký kết hợp đồng. Thông thường có các hình
thức : Đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điện thoại, đàm phán bằng cách gặp gỡ
trực tiếp Hình thức thứ ba thường được dùng khi có điều kiện phải giải quyết cặn
c) Thực hiện hợp đồng
Sau khi hợp đồng được ký kết thì đơn vị kinh doanh xuất khẩu phải thực hiện
theo các qui định ghi trong hợp đồng, tiến hành sắp xếp lại những phần việc phải
làm, ghi thành bảng biểu theo dõi tiến bộ thực hiện hợp đồng, ghi lại những diễn
biến kịp thời, những văn bản phát đi và nhận được để xử lý và giải quyết cụ thể.
Đồng thời phải đảm bảo được quyền lợi quốc gia và suy tính kinh tế của đơn vị.
Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu như sau:
III. Đặc điểm của mặt hàng thuỷ sản và vai trò
của xuất khẩu thuỷ sản trong kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam
1) Đặc điểm của mặt hàng thuỷ sản:
a) Tiềm năng:
Ký kết hợp
đ
ồng xuất
Kiểm tra L/C
Xin gi
ấy phép
xu
ất khẩu
Chuẩn bị
hàng hoá
Gửi hàng
lên tàu
h
ợp
đ
ồng
Việt Nam là một nước có một bờ biển dài 3260 km, cùng với hàng trăm con
sông lớn nhỏ và hàng chục vạn ao, hồ, đầm và có rất nhiều đảo và quần đảo ở ngoài
biển Đông. Đồng thời với đó là điều kiện về khí hậu nhiệt đới cũng là một yếu tố
đóng góp vào tiềm năng phát triển và khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản
Vùng đặc quyền kinh tế biển của Việt Nam rộng tới trên 1 triệu km, ngoài
khơi có trên 4000 dảo lớn nhỏ là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác nguồn lợi hải
sản.Theo số liệu điều tra chưa đầy đủ, sản lượng khai thác hải sản hàng năm của
Việt Nam khoảng 1, 2-1, 4 triệu tấn trong đó ngoài cá là sản phẩm chính còn có
khoảng 50-60 nghìn tấn tôm biển và 40 nghìn tấn mực và nhiều loại đặc sản có giá
trị kinh tế cao
Tiềm năng nghề nuôi thuỷ sản ở VN cũng rất lớn, VN có khoảng 1,4 triệu ha
các loại hình mặt nước có thể nuôi trồng thuỷ sản trong đó, có 30 vạn ha bãi triều và
gần 40 vạn ha ao, hồ, sông, suối, 60 vạn ha ao hồ nhỏ ruộng trũng và hơn 80 vạn ha
là vùng vịnh, đầm phá. Điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp cho VN có thể đạt sản
lượng nuôi trồng hàng năm khoảng 500 vạn tấn gồm cá nước ngọt và các loại hải
sản khác. Hiện nay ở VN đã hình thành các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung tại
đồng bằng sông Cửu Long và ven biển miền Trung. VN đã đầu tư xây dựng 115 cơ
sở sản xuất tôm con giống
Hình thức nuôi quản canh năng suất thấp, phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên vẫn
là phổ biến do các hình thức nuôi trồng khác đòi hỏi nhiều vốn đầu tư. Nhìn chung
hoạt động nuôi trồng thuỷ sản mới chỉ được triển khai trên một diện tích chưa đáng
1997 dịch bệnh tôm xảy ra liên tiếp nên sản lượng tôm tăng chậm hơn, xuất khẩu
tôm đông giảm mạnh.Năm 1995 sản lượng tôm chiếm 52% thì đến năm 1999 vẫn
giữ nguyên, năm1997 thì giảm chỉ là 38,75%.Thị trường tôm có sự chuyển dịch từ
thị trường Nhật sang các nước khác như Mỹ và Châu Âu do suy thoái kinh tế
Bên cạnh đó, các loại thuỷ sản xuất khẩu khác có xu hướng gia tăng (xem
bảng1) như mực đông, mực khô và thuỷ sản khác. Mực đông xuất khẩu năm 1995
chiếm 8,85% sản lượng hàng thuỷ sản xuất khẩu và đến năm 1999 chiếm 11,5%.
Các hàng thuỷ sản khác như cua, ghẹ, sò, ốc, rong biển cũng có sự gia tăng đáng kể.
Nhuyễn thể đông lạnh năm 1997 mới chiếm 10,5% thì năm 1999 đã chiếm 11,1%.
Đặc biệt trong năm 1999, nhuyễn thể đông lạnh đứng thứ 3 trong số các mặt hàng
thuỷ sản xuất khẩu sau tôm, cá.
Bảng1: `Cơ cấu sản lượng các nhóm hàng thuỷ sản xuất khẩu 1995-1999
Ch
ỉ tiêu
1995
1996
1997
1998
1999
T
ổng sản
M
ực
đông, T
Tỷ lệ(%)
11.300
8,85
14.500
9,36
18.800
10,00
18.000
9
23.077
11,51
Cá các lo
ại,T
Tỷ lệ(%)
31.400
24,59
41.000
27,24
Tỷ lệ(%)
14.500
11,35
21.000
13,95
41.050
21,85
31.620
15,81
34.666
17,29
Do yêu cầu của các thị trường nhập khẩu thuỷ sản nên hàm lượng công nghệ
của sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu đã có bước tiến bộ :các mặt hàng thuỷ sản tươi
sống phát triển nhanh, những mặt hàng giá trị gia tăng, tăng trưởng cả về chủng loại
lẫn số lượng. Năm 1990 tỷ trọng hàng thuỷ sản có giá trị gia tăng mới đạt
8,6%/năm, năm 1998 đã nâng lên 19% và năm1999 khoản 20,5% tổng giá trị kim
ngạch xuất khẩu (xem bảng 2)
Hy vọng rằng trong tương lai những mặt hàng có giá trị gia tăng ngày càng được
xuất khẩu ra thị trường nước ngoài nhiều, điều đó cũng phải ánh răng trình độ chế
biến hàng thuỷ sản đông lạnh của nước ta ngày càng được đầu tư hơn
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm giá trị gia tăng 1990-1999
Ch
ỉ tiêu