LUẬN VĂN:
Phương hướng và giải pháp thúc
đẩy hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu của Công ty May
Chiến Thắng Lời mở đầu Quá trình quốc tế hoá đang phát triển mạnh mẽ ở khắp các châu lục, các khu vực
trên thế giới với sự tham gia ngày càng rộng rãi của các nước chậm phát triển. Những
lợi ích to lớn của hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho mỗi nước tham gia là rõ ràng
và khó có thể bác bỏ. Con đường xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ theo kiểu cô
lập với bên ngoài đã hoàn toàn không có sức thuyết phục và hầu như không còn nước
nào đi theo nữa. Vấn đề đặt ra cho mỗi quốc gia là hội nhập kinh tế quốc tế với
những bước đi như thế nào để có thể mang lại những lợi ích tối đa và phải trả một cái
giá tối thiểu quả thực là một thách thức không nhỏ.
Việt Nam đã mang lại cho đất nước trong những năm vừa qua song còn nhiều khó
khăn và thách thức đang ở phía trước mà ngành sẽ phải đối mặt. Do đó, việc nghiên
cứu những tiến bộ mà ngành đạt được và những tồn tại còn trong ngành là việc làm
vừa mang tính khích lệ vừa mang tính giải pháp.
Là một sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp với kiến thức và kinh nghiệm song nhiều
hạn chế, đứng trước hoàn cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, song cũng muốn
đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc thúc đẩy kinh tế nước nhà phát triển
nói chung và sự phát triển của công ty may Chiến Thắng nói riêng. Không nằm ngoài
vấn đề " giai phap thuc day hoat dong kinh doanh xuat nhap khau cua cong ty may
chien thang ". Chuyên đề tốt nghiệp này sẽ tập trung nghiên cứu 3 nội dung cơ bản
sau:
Chương 1: Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty May Chiến Thắng.
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Công ty May Chiến
Thắng trong những năm qua.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu của Công ty May Chiến Thắng. Chương I
Lịch sử hình thành và phát triển của
Công ty May Chiến Thắng
1. Giới thiệu chung về công ty may Chiến Thắng
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty May Chiến Thắng
Ra đời trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (2/3/1968), xí
nghiệp May Chiến Thắng trước kia và nay là Công ty may Chiến Thắng thuộc Tổng
Công ty dệt- may Việt Nam (VINATEX) tính đến nay đã được 34 năm
Mặc dù trải qua 34 năm với bao nhiêu sóng gió thăng trầm, thành công nhiều và
sóng gió gặp phải cũng không ít nhưng Công ty may Chiến Thắng vẫn đứng vững,
phát triển và vươn lên trở thành một công ty trực thuộc Tổng Công ty may Việt Nam,
quản lý hàng dệt- may tiêu thụ sản phẩm thị trường trong nước và xuất khẩu cho các
thành tốt nhiệm vụ được giao.
Năm 1978 đánh dấu 10 năm xây dựng và phát triển của xí nghiệp May Chiến
Thắng. Xí nghiệp tiếp tục phát triển lớn mạnh về nhiều mặt. Sau 10 năm giá trị tổng
sản lượng tăng gấp 11 lần, tổng số công nhân viên chức tăng 3 lần. Cơ cấu sản phẩm
ngày càng được nâng cao.
Cho đến năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu
bước quyết định cho sự nghiệp đổi mới và phát triển đi lên của dân tộc Việt Nam.
Đây là thời kỳ xoá bỏ bao cấp tự chủ trong sản xuất kinh doanh, đòi hỏi Xí nghiệp
phải vượt qua nhiều khó khăn, khách quan và chủ quan vì cơ chế thị trường ở nước ta
mới được mở ra, các doanh nghiệp còn chưa có kinh nghiệm với kinh tế thị trường.
Từ giữa năm 1991, khi Liên Xô và hệ thống các nước XHCN tan rã, xí nghiệp
May Chiến Thắng đứng trước một khó khăn vô cùng to lớn, mất thị trường xuất khẩu
truyền thống, thiếu việc làm, công nhân thu nhập thấp, khả năng cạnh tranh trong cơ
chế thị trường thấp do máy móc thiết bị đã bị xuống cấp, trình độ quản lý hạn chế do
nhiều năm làm việc trong cơ chế kế hoạch hoá ổn định. Để tồn tại và phát triển trong
cơ chế thị trường, lãnh đạo xí nghiệp đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng đầu tư mua
sắm thêm hơn 200 máy may chuyên dùng của Nhật Bản và Hồng Kông, 20 máy vắt
sổ và 5 máy trần diềm để có thể sản xuất được những sản phẩm có xl cao hơn, đáp ứng được nhu cầu thị trường các nước tư bản chủ nghĩa. Từ năm 1992, công ty được
cấp giấy phép xuất khẩu trực tiếp, sản phẩm của xí nghiệp đã được xuất khẩu đi các
thị trường mới như CHLB Đức, Hà Lan, Thuỵ Điển, Hàn Quốc… bên cạnh đó vẫn
giữ mối quan hệ bạn hàng tốt đẹp với Hunggary, CHLB Nga nhưng chuyển sang
phương thức thanh toán trực tiếp bằng USD chứ không còn thanh toán trừ nợ theo
Nghị định thư như trước.
Năm 1992 tại cơ sở số 10 Thành Công- Ba Đình- Hà Nội mới xây dựng xong đã
được đưa vào sử dụng kịp thời. Ngày 25 tháng 8 năm 1992 Bộ Công nghiệp nhẹ có
Quyết định số 730/CNn-TCLĐ chuyển xí nghiệp May Chiến Thắng thành công ty
May Chiến Thắng. Đây là sự kiện đánh dấu một bước trưởng thành về chất của Xí
đồng gia công xuất khẩu đã góp phần tăng thêm nhiều việc làm cho người lao động,
góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của Công ty trong những năm vừa qua.
Xu hướng thị trường thế giới ngày càng chú trọng đến chất lượng sản phẩm, yêu
cầu về mẫu mã, chất lượng sản phẩm đòi hỏi ngày càng cao, với mặt hàng may mặc
ngày nay khách hàng không còn muốn mua những sản phẩm cắt may đơn giản như
trước, họ yêu cầu sản phẩm phải được trang trí, phối màu, in, thêu,… làm cho sản
phẩm đẹp hơn, dễ tiêu thụ hơn. Với mặt hàng áo Jắc két, khách hàng ngày nay đòi
hỏi sản phẩm phải được sản xuất bằng chất liệu vải cao cấp hơn, mặt vải ổn định hơn
sau khi giặt, trên sản phẩm cũng phải được trang trí bằng những hoạ tiết thêu hoặc in
hoặc phối mầu. Nắm bắt được nhu cầu thị hiếu của khách hàng nước ngoài đòi hỏi
ngày càng cao, trong những năm gần đây công ty đã tích cực, chủ động khai thác mọi
nguồn vốn đầu tư mới, bổ sung thêm một số máy móc thiết bị nhằm nâng cao chất
lượng sản phẩm xuất khẩu.
1.2. Hệ thống tổ chức bộ máy của Công ty may Chiến Thắng
1.2.1. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty
Công ty may Chiến Thắng là một doanh nghiệp Nhà nước, được thành lập với
chức năng sản xuất và kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng dệt- may vì mục tiêu lợi
nhuận, vì hiệu quả kinh tế xã hội, thực hiện phân công lao động quốc tế, góp phần
hoàn thiện những kế hoạch, góp phần thực hiện các chiến lược kinh tế của Công ty
nói riêng và của thủ đô nói chung. Công ty tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm may và các hàng hoá khác liên quan đến
ngành dệt- may. Công ty chuyên sản xuất 3 mặt hàng chính là: sản phẩm may, găng
tay da và thảm len
Sản phẩm may Công ty thường sản xuất bao gồm:
- áo Jắc két các loại như áo jắc két 1 lớp, 2 lớp, 3 lớp
- áo váy các loại
- Quần các loại
- áo sơ mi các loại
và mặt hàng nội địa.
+ Duy trì và phát triển những thị trường đã có, từng bước khai thác mở rộng thị
trường mới ở cả trong và ngoài nước.
Với chức năng và nhiệm vụ chung của Công ty, để có thể hoạt động mang lại
hiệu quả trong sản xuất kinh doanh và sử dụng hết những nguồn lực của mình, hệ
thống tổ chức bộ máy của Công ty được tổ chức hợp lý và được phân công chức năng
nhiệm vụ cụ thể như sau:
1.2.2. Hệ thống tổ chức bộ máy của Công ty
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Công ty là cơ cấu trực tuyến chức năng bao gồm
Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc và các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ
quản lý, các cửa hàng, xưởng sản xuất và chế biến.
Lực lượng lao động của Công ty bao gồm: Cáccán bộ nhân viên trong biên chế
Nhà nước là cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ còn lại là lực lượng lao động làm việc
theo chế độ hợp đồng.
Công ty có trụ sở chính thức tại: số 10 Phố Thành công- Ba Đình- Hà Nội Sơ đồ tổ chức công ty may Chiến Thắng (trang sau) Sơ đồ tổ chức Công ty may Chiến Thắng
ay
Phó
Tổng
giám
đốc
SX-
KT
Phòng kinh doanh
ti
ếp thị
Phòng phục vụ sản
xu
ất
Phòng y tế
Tr. tâm may đo
th
ời trang
CH Đội cấn
CH Nguyễn
Thái H
ọc
CH Bà Tri
ệu
CH Kim Mã
Đ
ội xe
Kho nguyên
VL
Kho cơ khí
Kho th
ảm
Chức năng nhiệm vụ của ban giám đốc và các phòng ban
Nhìn vào sơ đồ trên chúng ta thấy rõ chức năng và giới hạn quản lý của từng
phòng. Sự xắp xếp này rất khoa học đảm bảo cho việc cung cấp thông tin nhanh,
chính xác và xử lý kịp thời các thông tin đó. Các phòng có chức năng riêng của mình
và trực thuộc sự quản lý của Tổng giám đốc và phó tổng giám đốc.
a) Ban giám đốc
Bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh bao gồm Tổng giám đốc và phó Tổng giám
đốc. Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm về
toàn bộ kết quả quản lý sản xuất kinh doanh và nghĩa vụ đối với Nhà nước. Giám đốc
điều hành hoạt động của doanh nghiệp theo chế độ một thủ trưởng.
Nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do Tổng công ty giao để
quản lý và sử dụng theo mục tiêu, nhiệm vụ được giao, sử dụng có hiệu quả, bảo toàn
và phát triển vốn.
- Dựa trên cơ sở chiến lược phát triển của Công ty, xây dựng các kế hoạch dài
hạn hàng năm, dự án đầu tư chiều sâu, dự án hợp tác và đầu tư nước ngoài, dự án liên
doanh, các hợp đồng kinh tế có giá trị lớn
hàng
- Thực hiện các nghiệp vụ xuất nhập khẩu như thủ tục xuất khẩu, thủ tục thanh
toán
- Tham mưu cho Tổng giám đốc ký kết các hợp đồng với nước ngoài - Tổng hợp thống kê các báo cáo kế hoạch, thực hiện kế hoạch các mặt của toàn
Công ty
- Cân đối nguyên phụ liệu cho sản xuất, quyết toán tiền hàng vật tư với các khách
hàng, hải quan, cơ quan thuế…
Phòng tổ chức lao động
Tổ chức quản lý sắp xếp nhân lực phù hợp và chặt chẽ trên dây chuyền sản xuất,
dựa vào cơ sở định mức hợp lý và điều kiện của công nhân. Xây dựng các quy chế về
trả lương, trả thưởng, quy chế kỷ luật lao động. Tuyển chọn lao động, sử dụng lao
động hoặc giải quyết thôi việc công nhân viên trong công ty do yêu cầu sản xuất kinh
doanh…
Phòng kế toán- tài vụ
Phòng có nhiệm vụ hạch toán các khoản chi phí nguyên vật liệu, chi phí về động
lực, nhân công, tính giá thành sản phẩm…
- Theo dõi tình hình biến động vốn, tài sản của Công ty, theo dõi các khoản thu
chi tài chính để phản ánh vào các tài khoản liên quan, hạch toán kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh. Sau một thời gian lãnh đạo công ty đề ra các biện pháp nhằm
đạt hiệu quả kinh tế cao, tạo điều kiện giúp cho phòng kinh doanh tiếp thị thực hiện
tốt nhiệm vụ
- Trực tiếp quản lý vốn, nguồn vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh tham mưu
cho Tổng công ty trong lĩnh vực tài chính thu chi, đảm bảo cho các nguồn thu chi.
Phòng kinh doanh tiếp thị
Phòng có nhiệm vụ tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp xử lý những
phát sinh trong quá trình tiêu thụ nhằm mục đích tiêu thụ được nhiều sản phẩm. Quản
lý các kho thành phẩm, theo dõi quản lý các cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm
- Tổ chức công tác phục vụ
Phòng bảo vệ
- Phòng có nhiệm vụ xây dựng và quản lý tài sản của Công ty, phòng cháy chữa
cháy, an ninh quốc phòng, chính trị, kinh tế… trong Công ty.
- Xây dựng các nội quy, quy chế về trật tự an toàn trong công ty
Phòng y tế
- Khám, chữa bệnh và bảo vệ sức khoẻ cho người lao động
Trung tâm may đo thời trang
Bán và giới thiệu các sản phẩm của Công ty
Ngoài ra còn có các hệ thống phục vụ khác như: kho nguyên vật liệu, kho thảm,
kho bán thành phẩm và kho thành phẩm của Công ty. Các kho này được giao cho các
phòng chức năng quản lý.
Suốt 33 năm hoạt động có 15 năm trong cơ chế đổi mới chung của đất nước
(1986- 2002) Công ty may Chiến Thắng đã không ngừng đổi mới sắp xếp lại bộ máy,
hoạt động của các phòng ban tương đối đều và đạt được một số hiệu quả trong các
nhiệm vụ kế hoạch của Tổng công ty
2. Một số đặc điểm kinh tế, kỹ thuật chủ yếu của Công ty may Chiến Thắng.
a) Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật
Kho tàng, nhà xưởng
Công ty may Chiến Thắng có diện tích nhà xwongr sản xuất là 9.260 m
2
. Diện
tích nhà kho là 3.810 m
2
Đặc điểm chính của kiến trúc nhà xưởng là nhà xây 5 tầng có thang máy để vận
chuyển nguyên vật liệu cho các phân xưởng. Xung quanh nhà xưởng được lắp kính
tạo ra một không gian rộng rãi thoải mái cho công nhân. Có 50% khu vực sản xuất
thiết bị và công nghệ sản xuất là thuộc loại mới, tiên tiến và hiện đại, đảm bảo chất
lượng của sản phẩm sản xuất ra
Công ty có 36 loại máy chuyên dùng khác nhau. Chính điều này tạo điều kiện cho
Công ty hoàn thiện các công đoạn của quá trình sản xuất sản phẩm, làm cho sản
phẩm hoàn thiện hơn, chất lượng tốt hơn, đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của
khách hàng nước ngoài, từ đó tạo lòng tin đối với khách hàng, nâng cao chữ tín cho
Công ty, góp phần vào việc mở rộng thị trường
Với số lượng máy móc thiết bị hiện có, hàng năm Công ty có thể sản xuất
5.000.000 sản phẩm, sản phẩm may mặc (quy đổi theo sơ mi), 200.000 sản phẩm
may da
Sau đây là các loại máy móc thiết bị chuyên dùng để sản xuất của Công ty tính
đến ngày 30 tháng 9 năm 2002. Bảng: Các loại máy móc thiết bị sản xuất của Công ty đến hết quý III/2002
STT Tên máy
Nhà sản
xuất
Xuất xứ
Năm chế
tạo
Số lượng
1
Máy may bằng 1
kim
Juki Japan 1991-1997 1173
2
Máy may bằng 2
kim
Brother Japan 1991-1997 211
22 Máy hút ẩm USA 1992 8
23 Máy cắt thuỷ lực Japan 1995 22
24 Máy là găng đông Juki Japan 1995 7
25 Máy là da Juki Japan 1995 2
26 Máy cắt lót Juki Japan 1997 2
27 Máy dán nilon Juki Japan 1992 1
28 Máy dán cao tần Jajima Japan 1994 1
29 Máy ép chữ Tuki Japan 1992 1
30 Máy dán măng Tuki Japan 1994 2
31 Máy may mác Tuki Japan 1991 1
32 Máy ép mác Tuki Japan 1991 1
33 Cân điện tử Japan 1994 3
34 Máy giác Naomoto Japan 1995 2
35 Máy san chỉ Hashima Japan 1991-1997 8
36
Máy khoan dầu
tay
Japan 1997 1
* Đặc điểm về lao động
Lao động là một yếu tố không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh
doanh bởi vì con người là chủ thể của quá trình sản xuất. Cho dù được trang bị máy
móc thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến nhưng thiếu lao động có trình độ tổ
chức thì cũng không thực hiện sản xuất được. Nhất là đối với ngành may đòi hỏi phải
có nhiều lao động vì mỗi máy may phải có 1 người điều khiển. Tính đến ngày
30/9/2002 Công ty có 2.476 người lao động. Trong tổng số đó có 2375 người là lao
động ngành công nghiệp chiếm 96,27%, lao động nữ là 2048 người chiếm 84,5%, lao động làm công tác quản lý là 142 người chiếm 5,7% lao động có trình độ cao đẳng
trở lên là 80 người chiếm 3,2%.
1998 1999 2000 2001
N¨m
Thu nhËpĐội ngũ lao động gián tiếp của Công ty chiếm tỷ lệ nhỏ 5,7% nhưng lại giữ vai
trò hết sức quan trọng. Họ có trình độ chuyên môn về các lĩnh vực tài chính, thương
mại, xuất nhập khẩu, kỹ thuật công nghệ… Do đó họ sẽ giữ vai trò quan trọng trong
việc quản lý sản xuất, thực hiện hoạt động thu mua, nhập khẩu nguyên liệu và tiêu
thụ hàng hoá giúp cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục. Chính vì vậy, để
phát triển thị trường đòi hỏi lực lượng lao động gián tiếp phải không ngừng tìm tòi
thị trường, sử dụng các biện pháp marketing, tìm kiếm và ký kết các hợp đồng kinh tế
với khách hàng.
Đội ngũ lao động trực tiếp quyết định tới số lượng và chất lượng sản phẩm làm
ra. Để mở rộng thị trường, Công ty phải nâng cao uy tín của mình thông qua chất
lượng sản phẩm và thời hạn giao hàng. Chính vì vậy, công ty phải đào tạo nâng cao
tay nghề cho công nhân nhằm giảm đến mức tối thiểu sản phẩm hỏng và đảm bảo
chất lượng sản phẩm, nâng cao năng suất lao động
Đặc điểm vốn của công ty
Tổng nguồn vốn của Công ty đầu năm 1998 là 35.231.852.000 đồng, đầu năm
1999 là 43.241.813.000 đồng; đầu năm 2000 là 45.720.284.000 đồng, và đến ngày
30/9/2002 là 63.458.540.000 đồng. Điều đó chứng tỏ quy mô sản xuất và cơ sở vật
chất kỹ thuật của Công ty ngày càng được mở rộng
Đầu năm 1998 tài sản cố định là 22.580.775.000 đồng, đầu năm 1999 tài sản cố
định tăng lên là 31.266.600.000 đồng, đầu năm 2000 tài sản cố định giảm xuống còn
27.823.695.000 đồng và đến đầu năm 2002 tổng tài sản cố định của Công ty tăng lên
37.541.400 đồng
Vốn lưu động của Công ty năm 1998 là 12.651.076.000 đồng, năm 1999 giảm
xuống còn 11.975.180.000 đồng năm 2000 tăng lên 15.139.746.000 đồng năm 2002
tăng lên là 17.891.090.000 đồng
Cắt
May
Là
Đóng
gói Chương II
thực trạng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty may Chiến thắng
trong những năm qua
1. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty may Chiến Thắng
1.1. Về xuất nhập khẩu
Tính đến nay hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty đã trải qua gần
15 năm. Trong giai đoạn đầu Công ty rất bỡ ngỡ trước quy luật kinh doanh của nền
kinh tế thị trường, lượng vốn ban đầu còn khiêm tốn… nên hoạt động xuất nhập khẩu
của Công ty còn chưa có gì đáng kể.
Từ năm 1992 trở lại đây, mặc dù có nhiều biến động về chính trị ở Liên Xô (cũ)
và Đông Âu là những thị trường truyền thống của Công ty, nhưng với sự cố gắng
nhất định, để duy trì và phát triển kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty vẫn tăng
một cách đều đặn. Năm 1997, do có nhiều biến động về tài chính ở thị trường trong
nước và châu á làm cho kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty chỉ tăng 0,2 triệu
USD nhưng đến năm 1999 đã tăng lên 1,9 triệu USD so với năm 1996. Tính đến
tháng 9 năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty là 7,5 triệu USD.
Kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty may Chiến Thắng được thể hiện qua biểu
1 dưới đây
Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh
xuất nhập khẩu, giảm được kim ngạch nhập khẩu xuống. Năm 1997 kim ngạch nhập
khẩu của Công ty là 32% thì đến tháng 9 năm 2002 cơ cấu mặt hàng giảm xuống còn
15%.