TIỂU LUẬN:
Các giải pháp hỗ trợ xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam
sang thị trường Mỹ Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang như một “guồng xoáy” cuốn các nền
kinh tế của các quốc gia vào một trật tự kinh tế trong đó việc tìm ra các lợi thế và giải
bài toán so sánh để xác lập vị thế trên trường quốc tế luôn là vấn đề đặt ra đối với từng
quốc gia. Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới, Việt Nam đang từng bước thực hiện quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế hướng mạnh
vào xuất khẩu.
Như nhiều quốc gia khác, vào những giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hoá, ngành dệt may Việt Nam từng bước khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân. Bên cạnh việc cung cấp hàng hóa đáp ứng các nhu cầu cho thị trường trong
nước, ngành dệt may còn tạo điều kiện mở rộng thương mại quốc tế. Đồng thời, vừa là
nguồn thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm, vừa tạo nguồn hàng xuất khẩu có
giá trị cao, ngành dệt may sẽ là nguồn thu hút ngoại tệ góp phần tạo đà cho nền kinh tế
trường Mỹ.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đứng trên giác độ ngành dệt may xuất khẩu để
nghiên cứu trong mối quan hệ với các chế định, chính sách vĩ mô của Nhà nước. Thời
gian nghiên cứu từ năm 1995 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, so
sánh, tổng hợp. Bằng cách phân tích lý giải tình hình và những thay đổi trong ngành dệt
may cùng những đánh giá và kết luận ban đầu về thị trường xuất khẩu tiềm năng, đề tài
luận giải những nội dung cần đề cập.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu
làm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về hỗ trợ nhập khẩu hàng dệt may
Chương II: Thực trạng của các chính sách hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ hiện
nay
Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ
những năm tới
Qua đề tài này, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo PGS.TS
Nguyễn Duy Bột – người đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
này.
Tăng cường mối quan hệ giữa nước ta và các nước khác: Là ngành xuất khẩu
mũi nhọn tại hơn 50 nước trên thế giới, ngành dệt may không chỉ giữ vai trò quan trọng
trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá đất nước mà với chiến lược kinh tế mở cửa,
hội nhập khu vực và quốc tế, ngành dệt may cũng đi đầu, mở đường cho mối liên kết
ngày càng sâu sắc giữa kinh tế nước ta và các nước khác trên thế giới. Hiện nay, các tổ
chức thương mại quốc tế đều có ưu đãi cho ngành dệt may, đặc biệt là ngành dệt may ở
các nước đang phát triển, hàng rào mậu dịch đối với sản phẩm thuộc ngành này được dỡ
bỏ hay nới lỏng rất nhiều.
Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động: Dệt may là ngành thu hút
nhiều lao động, tạo công ăn việc làm, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp của nền
kinh tế. ở Việt Nam, toàn ngành công nghiệp dệt may đã thu hút trên 1 triệu lao động xã
hội, đặc biệt là lao động nữ. Ngành dệt may không chỉ phát triển thêm công ăn việc làm
trong ngành mà cả trong các ngành liên quan và phụ trợ khác như bao bì, bảo quản, cơ
khí, vận tải, kho, cảng , nhờ đó thu nhập người lao động đã được cải thiện, tăng sức
mua, mở rộng thị trường trong nước. Cụ thể, năm 2000, ngành dệt may đã thu hút
1.374.000 lao động, con số này năm 2001 là 2.950.000 người, năm 2002 là 35.000.000
người.
Công nghiệp dệt may phát triển kéo theo và thúc đẩy sự phát triển của ngành
công nghiệp khác: Sự phát triển của ngành dệt may sẽ tạo điều kiện cho rất nhiều
ngành khác phát triển, trong đó có các ngành cung cấp nguyên vật liệu và ngành sử
dụng sản phẩm của ngành dệt may. Hiện nay, công nghiệp dệt may đang góp phần phát
triển nông nghiệp và nông thôn qua phát triển sản xuất bông, đay, tơ, tằm, từng bước
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp.
Đóng góp vào việc cải thiện cán cân thương mại: Với nỗ lực khắc phục điểm
yếu kém để vươn lên, ngành công nghiệp dệt may không chỉ giữ vai trò trọng yếu trong
xuất khẩu mà còn đóng góp đáng kể vào việc cải thiện cán cân thương mại của nước ta
và tăng nhanh đầu tư nước ngoài. Tầm quan trọng này còn được thể hiện càng rõ nét ở
tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của hàng dệt may Việt Nam.
Bảng 1: Giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
2.985
4.054
5.200
7.255
8.759
9.361
11.532
14.455
15.100
16.926
8.1%
11.7%
13.6%
14.4%
15.2%
15.4%
14.4%
14.6%
13.08%
13.25%
16.3%
(Nguồn: Bộ Thương mại và Tổng công ty Dệt May Việt Nam)
Tóm lại, với đường lối mở cửa và hội nhập quốc tế cùng với sư chuyển dịch
dòng vốn trên đầu tư và chuyển giao công nghệ đang diễn ra khá sôi động, ngành dệt
may nói chung và xuất khẩu hàng dệt may nói riêng đã, đang và sẽ có nhiều đóng góp
hiệu quả cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước, xứng đáng là một trong
chính sách thuế Điều này sẽ tạo điều kiện giúp cho doanh nghiệp có thể tăng kim
ngạch xuất khẩu.
1.2.2-Những công cụ hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may
Trong quá trình đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thị trường nhằm đạt được mục
tiêu đề ra, ngành dệt may gặp phải không ít khó khăn mà chỉ bản thân ngành không thể
giải quyết nổi, đó là vấn đề vốn đầu tư, thông tin xuất nhập khẩu và thị trường, các mối
quan hệ thương mại quốc tế. Do vậy, ngành dệt may rất cần các biện pháp hỗ trợ của
Chính phủ.
1.2.2.1-Nhóm công cụ hỗ trợ sản xuất
a/ Chính sách đầu tư phát triển
Không chỉ trong ngành dệt may mà trong hoạt động của tất cả các ngành khác
luôn luôn cần đến đầu tư. Có đầu tư thì có đổi mới, không đầu tư thì không bao giờ có
đổi mới. Chính vì vậy, chính sách đầu tư phát triển luôn là một trong những chính sách
quan trọng nhất, thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh của nền kinh tế nói chung và của ngành
dệt may nói riêng.
Để phát triển nhanh và có hiệu quả, ngành dệt may cần lượng vốn đầu tư vào các
mục tiêu sau đây:
- Đổi mới công nghệ, trước hết là công nghệ dệt và đồng bộ hoá dây chuyền sản
xuất toàn ngành, khắc phục các khâu yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các trang thiết
bị.
- Mở rộng quy mô sản xuất trên cơ sở các doanh nghiệp hiện có và xây dựng thêm
doanh nghiệp mới.
- Phát triển các loại sản xuất phục vụ và phụ trợ cho doanh nghiệp dệt may: tạo vùng
nguyên liệu, sản xuất các vật liệu phụ cho công nghiệp dệt (hoá chất, thuốc nhuộm, sản
xuất các loại phụ liệu cho công nghiệp may mặc).
Bên cạnh những khoản đầu tư trực tiếp thì còn cần những khoản đầu tư vào các
mục tiêu có tính chất gián tiếp khác như phát triển cơ khí dệt may, phát triển và hiện đại
hoá hạ tầng kỹ thuật cho công nghiệp dệt may
Để huy động được nguồn vốn có khả năng đáp ứng được nhu cầu của ngành dệt
may, chính sách đầu tư phát triển của Nhà nước tập trung vào 3 nguồn vốn chủ yếu sau:
lượng, chất lượng, mẫu mã của khách hàng. Trong giai đoạn hiện nay, khoa học công
nghệ nói chung và phát triển công nghệ trong ngành dệt may nói riêng của nước ta chưa
thực sự phát triển, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm dệt may
của nước ta. Do vậy, trong số các biện pháp hỗ trợ của Nhà nước đối với ngành công
nghiệp dệt may thì luôn phải có chính sách về công nghệ.
Chính sách phát triển khoa học công nghệ trong ngành dệt may chủ yếu tập trung
vào những vấn đề sau:
- Hỗ trợ xây dựng và phát triển các Viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trường
đào tạo về dệt may.
- Xây dựng các chiến lược nghiên cứu và triển khai các dự án công nghệ dệt may.
- Khuyến khích việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới trong dệt may.
d/ Chính sách về lao động và phát triển
Dệt may là ngành công nghiệp sản xuất cần nhiều nhân công, đặc biệt là trong kỹ
nghệ may. Để tăng giá trị đóng góp cho sản phẩm, các chủ doanh nghiệp cần gia tăng
giá trị công nghiệp bằng cách phát triển các khâu ban đầu như tạo mẫu hay cắt vải và
khâu chót như Marketing hay có những liên kết mật thiết với kỹ nghệ dệt để cung cấp
nguyên phụ liệu cho kỹ nghệ may. Cả hai khâu quan trọng (đầu và cuối) tạo ra phần lớn
giá trị gia tăng cho sản phẩm, phụ thuộc vào yếu tố con người nhiều hơn yếu tố vật chất.
Chính vì vậy, làm thế nào để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành dệt may
luôn là vấn đề được Nhà nước đặc biệt quan tâm.
Chính sách về lao động và phát triển của Nhà nước đối với ngành dệt may tập
trung vào những vấn đề sau:
- Các chính sách thu hút, khuyến khích học sinh theo học ngành công nghiệp dệt
may
- Đầu tư cơ sở hạ tầng cho các cơ sở đào tạo dệt may
- Định hướng cho các chương trình đào tạo công nhân, kỹ sư về dệt may
- Chính sách hỗ trợ người lao động để đảm bảo cuộc sống và công việc của họ, thúc
đẩy họ cống hiến cho sự phát triển của ngành
e/ Chính sách về tổ chức quản lý
Bất kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng đều cần có sự quản lý của Nhà nước, đặc
Hoạt động Marketing đặc biệt quan trọng đối với sản phẩm dệt may do đặc điểm
của nhóm hàng này là yêu cầu cao về sự phù hợp với các tiêu chuẩn xã hội, văn hoá, xu
hướng thời trang. Đã có nhiều doanh nghiệp quan tâm tới vấn đề này nhưng các hoạt
động tìm hiểu thị trường thường vượt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp. Vì
vậy, chính sách thị trường của Nhà nước để cung cấp thông tin thị trường cho các doanh
nghiệp dệt may là hết sức cần thiết.
Chính sách thị trường tập trung vào việc hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may trong
cả nước tiếp cận được với thị trường thế giới, có được những thông tin về thị trường,
điều kiện pháp lý, văn hoá khi xâm nhập vào các thị trường này. Đồng thời, chính
sách thị trường phải làm sao để có thể tư vấn tốt nhất cho doanh nghiệp để thâm nhập
thành công thị trường nước ngoài.
c/ Chính sách tỷ giá hối đoái
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động thương mại quốc tế là đồng tiền thanh toán
là ngoại tệ đối với ít nhất một trong hai bên nên bất kỳ sự thay đổi tỷ giá trao đổi ngoại
tệ nào cũng làm ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia. Sự thay đổi
tỷ giá hối đoái làm cho hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu đắt hơn hay rẻ hơn đối với
nước kia làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Ngoài ra, với mức tỷ
giá hối đoái ưu đãi còn có khả năng thu hút vốn đầu tư đổ vào trong nước. Vì vậy, một
quốc gia có thể dùng chính sách tỷ giá hối đoái để quản lý hoạt động xuất nhập khẩu và
thu hút vốn đầu tư.
Tùy vào tình hình kinh tế của mỗi quốc gia mà các nước thực hiện các chế độ tỷ
giá khác nhau để đạt được mục tiêu kinh tế, chính trị. Cụ thể có các chế độ tỷ giá sau:
- Tỷ giá hối đoái cố định: Là mức tỷ giá được Chính phủ thông qua Ngân hàng
Trung ương đồng ý mua vào hay bán ra lượng đồng tiền nào đó theo yêu cầu của các đối
tượng khác nhau để trao đổi lại một mức tỷ giá hối đoái không đổi.
- Tỷ giá hối đoái thả nổi: Là tỷ giá hối đoái được thả nổi tự do không có sự can thiệp
nào của Chính phủ của thị trường ngoại hối. Chính phủ không tăng thêm hay giảm bớt
lượng dự trữ ngoại hối. Và mối quan hệ giữa cung và cầu ngoại hối hoàn toàn quyết
định mức cân bằng tỷ giá hối đoái.
- Chế độ đa tỷ giá: Với việc áp dụng chế độ này thì có nhiều tỷ giá hối đoái cùng lúc
từ phía Nhà nước.
1.3.1-Các yếu tố thuộc ngành dệt may
a/ Năng lực của ngành dệt may
Nói đến các chính sách hỗ trợ là nói đến những việc mà tự bản thân mình, không
một doanh nghiệp nào có thể làm nổi hoặc những việc mà chỉ có cơ quan của Nhà nước
mới có thể giải quyết được. Chính vì vậy, nếu ngành có đủ năng lực thì Nhà nước không
cần phải hỗ trợ nhiều và ngược lại.
Như vậy, năng lực của ngành dệt may quyết định rất lớn đến các chính sách hỗ
trợ xuất khẩu hàng dệt may. Nếu năng lực của ngành quá yếu thì Nhà nước cần phải làm
rất nhiều việc để có thể thúc đẩy ngành này phát triển. Ngược lại, nếu năng lực đủ mạnh
thì công việc của Nhà nước sẽ giảm đi rất nhiều.
b/ Tiềm năng phát triển của ngành
Nhà nước không thể đưa ra các chính sách để hỗ trợ xuất khẩu cho một ngành mà
bản thân nó không có khả năng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Vì vậy, các chính
sách hỗ trợ xuất khẩu còn phụ thuộc vào tiềm năng phát triển của ngành.
Chúng ta đều biết rằng, dệt may là một trong 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
nước ta, điều này tác động mạnh đến các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Nghĩa là Nhà
nước sẽ quan tâm hỗ trợ nhiều hơn đến hoạt động xuất khẩu của ngành này.
c/ Mục tiêu, chiến lược xuất khẩu của ngành
Nếu ngành dệt may đề ra mục tiêu, chiến lược xuất khẩu cho giai đoạn sắp
tới càng cao thì trách nhiệm của Nhà nước nhìn chung sẽ lớn hơn để hỗ trợ cho
ngành đạt được những mục tiêu đó, đặc biệt là khi năng lực của ngành còn thấp.
1.3.2-Các yếu tố từ phía Nhà nước
a/ Chính sách của Nhà nước đối với ngành dệt may
Chính sách của Nhà nước đối với ngành dệt may thể hiện ở chỗ Nhà nước có
khuyến khích ngành dệt may phát triển hay không. Nếu ngành dệt may được Nhà nước
khuyến khích phát triển thì chắc chắn, Nhà nước sẽ có nhiều các chính sách để hỗ trợ
cho ngành này phát triển và ngược lại.
b/ Ngân sách của Nhà nước
Ngân sách của Nhà nước không phải là vô hạn, đặc biệt là ở một nước mà nền
năm sau luôn cao hơn năm trước từ 10 – 15%. Người Hoa Kỳ dành khá nhiều thời gian
cho việc mua sắm quần áo. Trung bình 1 năm, mỗi người dân Hoa Kỳ sẽ đi mua quần
áo khoảng 22 lần. So sánh với Đông Âu – 14 lần, Châu á - 13 lần, Mêhicô - 10 lần và
Châu Mỹ la tinh – 8 lần mới thấy hết nhu cầu về may mặc ở Hoa Kỳ đang dẫn đầu thế
giới. Tổng chi phí dành cho việc mua sắm quần áo của người Hoa Kỳ trong một năm
khoảng 1,044 tỷ USD, đứng thứ tư trên thế giới, sau Đức, Hồng Kông, Anh. Đây được
coi là tín hiệu tốt đối với các nước xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ. Hơn nữa, Hoa Kỳ
còn là một quốc gia đa chủng tộc với nhiều màu da khác nhau, nhiều phong tục và lối
sống đa dạng. Điều này càng khiến thị trường Hoa Kỳ trở thành một trung tâm tiêu thụ
lớn nhất trên thế giới.
Đặc điểm tiêu dùng hàng dệt may trên thị trường Mỹ
Mức chi tiêu, đặc điểm nhân khẩu học, sự thay đổi thói quen làm việc, gia tăng
nhập khẩu là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng hàng may
mặc trên thị trường Mỹ.
- Mức chi tiêu: Nền kinh tế Mỹ tăng trưởng ổn định trong thập kỷ 90 đã duy
trì tiêu dùng ở mức cao. Tuy trong thời gian gần đây, nền kinh tế Mỹ có những dấu hiệu
suy giảm, nhưng mức chi tiêu nói chung và mức chi tiêu cho hàng may mặc nói riêng
của người dân Mỹ vẫn ở mức cao. Đây chính là tín hiệu tốt đối với các nước xuất khẩu
hàng dệt may.
- Đặc điểm nhân khẩu học: Thanh thiếu niên Mỹ ngày nay – thế hệ con cái
của những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số 1946 – 1964 đang nhanh chóng
trở thành những người tiêu dùng. Trong 10 năm tới, dự đoán số lượng thanh thiếu niên
sẽ tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số. Lứa tuổi thanh thiếu niên ngày nay có thu nhập
cao hơn và chi tiêu nhiều hơn trước đây, tỷ lệ dành cho mua sắm quần áo cũng rất lớn.
Lứa tuổi này rất chú trọng đến những loại quần áo hợp thời trang và “đồ hiệu”. Đồng
thời, họ cũng nhanh chóng thích ứng với hoạt động xúc tiến thương mại trên Internet,
tạo ra những cơ hội cho các công ty bán hàng qua Internet.
Lứa tuổi từ 45 trở lên chiếm 34% tổng dân số, dự đoán sẽ tăng lên 38% vào năm
2005 và 41% vào năm 2010. Những người thuộc lứa tuổi này có xu hướng dành tỷ lệ
những vấn đề quan trọng đối với người tiêu dùng khi họ quyết định mua hàng.
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, sản phẩm chỉ có thể khẳng định
vị trí và năng lực cạnh tranh của mình bằng chính chất lượng. Người tiêu dùng sẽ bị
thuyết phục không chỉ bởi tên tuổi của các nhà sản xuất nổi tiếng, quan trọng hơn là giá
trị và hiệu quả kinh tế do sản phẩm đem lại. Những đặc tính cơ bản ảnh hưởng đến chất
lượng hàng dệt may bao gồm: sự vừa vặn về kích cỡ, độ bền, sự tiện lợi khi sử dụng,
kiểu dáng và nhãn mác.
Người dân Hoa Kỳ rất thực tế, họ luôn cân nhắc và tính toán sao cho công việc
mình làm đem lại hiệu quả cao nhất. Nói riêng về thị trường dệt may, cho dù người tiêu
dùng Hoa Kỳ coi trọng vấn đề nhãn mác, giới trẻ đặc biệt sính dùng “đồ hiệu”, song họ
vẫn không đi chệch khỏi quỹ đạo điều chỉnh của hai chữ “kinh tế”. Chúng ta hiểu rằng,
người tiêu dùng mong muốn được thoả mãn nhiều nhất với một khoản chi phí thấp nhất.
Đó là tâm lý chung của tất cả khách hàng. Song nếu làm một phép so sánh, ta sẽ thấy
mức độ coi trọng vấn đề giá cả của khách hàng Hoa Kỳ khá cao. ở Colombia - đất nước
Nam Mỹ có mức sống còn thua xa Hoa Kỳ, 84% người tiêu dùng sẵn sàng trả một
khoản tiền cao hơn để mua được một sản phẩm may mặc có chất lượng tuyệt hảo hơn. ở
Italia, tỷ lệ này là 76%, ở Pháp và Đức cũng khoảng 75%. Trong khi đó, tại thị trường
Hoa Kỳ, nơi có trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân đầu người cao
hơn hẳn, chỉ 60% người tiêu dùng sẵn sàng làm như vậy.
Song điều đó không đồng nghĩa với việc người tiêu dùng Hoa Kỳ thích dùng
hàng loại hai với giá rẻ hơn một chút và xem nhẹ vấn đề chất lượng. Theo thói quen
mua hàng truyền thống, người tiêu dùng thường đánh giá chất lượng sản phẩm thông
qua thương hiệu, nhãn mác sản phẩm. Đây là điểm khác biệt cơ bản về thói quen tiêu
dùng của các nước phát triển và các nước các nước đang phát triển. Thương hiệu nổi
tiếng cũng mang ý nghĩa quan trọng để tạo nên sức hấp dẫn của sản phẩm, song ngày
nay, người tiêu dùng Hoa Kỳ không quá coi trọng vấn đề này nữa. Chỉ 32% khách hàng
luôn chú ý vào nhãn mác sản phẩm trước khi họ quyết định mua hàng. Trong khi đó, ở
các thị trường khó tính như EU và Nhật Bản, vấn đề thương hiệu hàng hoá luôn được
đặt lên hàng đầu, 69% người tiêu dùng Italia sẽ chú ý ngay tới nhãn mác, ở Nhật Bản –
67% và ở Đức – 62%.
trung tâm thời trang lớn như Anh và Italia (tỷ lệ này là 19%), Pháp (17%). Quần áo
mang phong cách cổ điển chiếm giữ thị phần đáng kể tại thị trường Hoa Kỳ – khoảng
79%, chứng tỏ thị trường tiềm năng này có nhu cầu rất phong phú, đối tượng phục vụ
khá rộng: giới sành điệu và cả những người bình dân. Hoa Kỳ quả là một thị trường vừa
dễ tiếp cận nhưng cũng đầy thử thách, khó khăn.
Một thói quen đáng ghi nhớ của người tiêu dùng Hoa Kỳ là họ quyết định mua
hàng theo mùa vụ. Bắt đầu mỗi mùa tiêu thụ, họ sẽ đi mua hàng ngay chứ không chờ
đến cuối mùa để mua được với mức giá rẻ hơn. Tỷ lệ khách hàng mua đồ vào đầu mùa
tiêu thụ ở Hoa Kỳ chiếm khoảng 64%, đứng thứ ba trên thế giới sau Nhật Bản (73%) và
Hồng Kông (67%). Vì vậy yếu tố giao hàng đúng thời hạn, bắt kịp thời vụ cũng rất quan
trọng trong việc xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Hoa Kỳ.
- Sản phẩm cho tương lai: Cơ cấu nhập khẩu hàng may mặc vào thị trường
Hoa Kỳ những năm gần đây cho thấy xu hướng và tập quán tiêu dùng của người Hoa
Kỳ đang thay đổi từ hàng dệt thoi sang hàng dệt kim vì những ưu điểm mới của sản
phẩm dệt kim – thể hiện qua mức tăng nhập khẩu quần áo dệt thoi chỉ 3,8% trong khi
hàng dệt kim là 8,7%.
Trước kia, người dân Hoa Kỳ thích dùng những sản phẩm may mặc được sản
xuất từ sợi tổng hợp. Nhưng trong những năm gần đây, sử dụng sản phẩm 100% sợi
bông đang trở thành một xu hướng. Tỷ lệ bông trong sản phẩm may mặc và đồ gia dụng
sản xuất từ sợi bông ngày càng cao và có chiều hướng tăng lên. Năm 2000, tỷ lệ này đạt
59,6%, đến năm 2001 tăng lên 60,1%. Trong đó tỷ lệ bông trong sản phẩm may mặc của
nam giới cao nhất, chiếm 75,8% năm 2000 và còn tăng thêm 0,2% vào năm 2001. Đặc
biệt, trẻ em Hoa Kỳ đang dần trở thành đối tượng sử dụng quần áo sợi bông ngày càng
nhiều với tốc độ gia tăng trung bình đạt 1,3%. Những sản phẩm được sản xuất từ sợi
bông có khả năng tiêu thụ mạnh hơn những sản phẩm khác. Doanh số của các sản phẩm
100% sợi bông và sản phẩm có hàm lượng bông từ 60% đến dưới 100% liên tục tăng,
trong khi đó doanh thu của các sản phẩm có tỷ lệ bông dưới 60% giảm. Những con số
này càng khẳng định vai trò của sợi bông đối với thị trường dệt may Hoa Kỳ, như một
kim chỉ nam giúp các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu Việt Nam định hướng sản phẩm.
Tìm hiểu cơ cấu sản phẩm tiêu thụ tại thị trường dệt may Hoa Kỳ, có thể thấy thị
khổ đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO như họ đã làm với Trung
Quốc. Liên quan đến quá trình đàm phán này cần lưu ý hai nội dung:
+ Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ
+ Các quy định về lao động
Chính sách thuế quan
Mỹ áp dụng thuế quan tính theo % trên cơ sở giá FOB trong khi phần lớn các
nước khác tính thuế theo giá CIF. Vì giá FOB thấp hơn giá CIF nên mức độ bảo hộ
bằng thuế quan của Mỹ do vậy cũng thấp hơn các nước khác.
Trước đây, khó khăn lớn nhất của Việt Nam trong xuất khẩu sang thị trường Mỹ
là phải chịu thuế suất cao do Việt Nam chưa được hưởng quy chế MFN và giữa hai
nước chưa có Hiệp định thương mại song phương. Tuy nhiên, hiện nay hàng hoá xuất
khẩu của Việt Nam nói chung và hàng dệt may nói riêng đã được hưởng thuế suất MFN,
tạo điều kiện thuận lợi để thâm nhập, cạnh tranh và tăng trưởng mạnh trên thị trường
Mỹ.
Hệ thống hạn ngạch
Công cụ bảo hộ chính của ngành dệt may Mỹ là hệ thống hạn ngạch áp dụng theo
Hiệp định dệt may của WTO (ATC), mặc dù các hạn chế này đang phải xoá bỏ dần.
Hiện nay, Mỹ chưa áp dụng hạn ngạch đối với hàng dệt may của Việt Nam,
nhưng sắp tới, Mỹ sẽ quy định cụ thể hạn ngạch cho hàng dệt may của Việt Nam. Trong
giai đoạn này, Mỹ và Việt Nam đang trong quá trình đàm phán đầu tiên, tuy nhiên, các
doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã viết thư kêu gọi Chính phủ Mỹ kéo dài thời gian
không áp đặt hạn ngạch dệt may. Đây có lẽ là mong muốn của hầu hết các doanh nghiệp
vì thị trường Mỹ đang là thị trường đứng đầu về xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.