Các giải pháp hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ - Pdf 11

Lời mở đầu
Quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang nh một guồng xoáy cuốn các nền
kinh tế của các quốc gia vào một trật tự kinh tế trong đó việc tìm ra các lợi thế và giải
bài toán so sánh để xác lập vị thế trên trờng quốc tế luôn là vấn đề đặt ra đối với từng
quốc gia. Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới, Việt Nam đang từng bớc thực hiện quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế hớng mạnh
vào xuất khẩu.
Nh nhiều quốc gia khác, vào những giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hoá, ngành dệt may Việt Nam từng bớc khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân. Bên cạnh việc cung cấp hàng hóa đáp ứng các nhu cầu cho thị trờng
trong nớc, ngành dệt may còn tạo điều kiện mở rộng thơng mại quốc tế. Đồng thời,
vừa là nguồn thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm, vừa tạo nguồn hàng xuất
khẩu có giá trị cao, ngành dệt may sẽ là nguồn thu hút ngoại tệ góp phần tạo đà cho
nền kinh tế cất cánh.
Với tiềm năng của một quốc gia có lợi thế về xuất khẩu hàng dệt may, vấn đề
thâm nhập và phát triển các thị trờng mới, có dung lợng tiêu thụ lớn hiện đang đặt ra
cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam những khó khăn và thách thức. Điểm lại
một số các thị trờng lớn nh Nhật Bản, EU, Đông Âu, có thể thấy hàng dệt may Việt
Nam đã có mặt và đang củng cố dần từng bớc vị trí của mình. Tuy nhiên, hàng dệt
may Việt Nam đang gặp những khó khăn không nhỏ trong việc đẩy mạnh lợng hàng
xuất khẩu và để tìm đợc lối ra cho bài toán thị trờng tiêu thụ thì hớng cần thiết nhất là
khai thác để thâm nhập các thị trờng mới, trong đó Mỹ là một thị trờng đầy hứa hẹn
và có tiềm năng nhất.
Tiềm năng hợp tác kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và Mỹ là to lớn. Cùng
với việc ký kết Hiệp định thơng mại Việt Mỹ, quan hệ thơng mại giữa hai nớc đã
bớc sang trang mới. Vì vậy, việc xem xét khả năng thâm nhập của hàng dệt may vào
thị trờng Mỹ một thị trờng có dung lợng tiêu thụ vào loại lớn nhất thế giới đã trở
1
nên rất cấp bách. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi sẽ có không ít khó khăn và
thách thức, đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mà
còn cần có sự hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nớc để có thể tiếp cận và đẩy mạnh xuất

thiết bị hiện đại, góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hoá trong sản xuất, làm cơ sở
cho nền kinh tế cất cánh.
Là ngành xuất khẩu mũi nhọn tại hơn 50 nớc trên thế giới, ngành dệt may
không chỉ giữ vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá đất nớc
3
mà với chiến lợc kinh tế mở cửa, hội nhập khu vực và quốc tế, ngành dệt may cũng đi
đầu, mở đờng cho mối liên kết ngày càng sâu sắc giữa kinh tế nớc ta và các nớc khác
trên thế giới. Hiện nay, các tổ chức thơng mại quốc tế đều có u đãi cho ngành dệt
may, đặc biệt là ngành dệt may ở các nớc đang phát triển, hàng rào mậu dịch đối với
sản phẩm thuộc ngành này đợc dỡ bỏ hay nới lỏng rất nhiều.
Dệt may là ngành thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm, góp phần giải
quyết vấn đề thất nghiệp của nền kinh tế. ở Việt Nam, toàn ngành công nghiệp dệt
may đã thu hút trên 1 triệu lao động xã hội, đặc biệt là lao động nữ. Ngành dệt may
không chỉ phát triển thêm công ăn việc làm trong ngành mà cả trong các ngành liên
quan và phụ trợ khác nh bao bì, bảo quản, cơ khí, vận tải, kho, cảng..., nhờ đó thu
nhập ngời lao động đã đợc cải thiện, tăng sức mua, mở rộng thị trờng trong nớc. Cụ
thể, năm 2000, ngành dệt may đã thu hút 1.374.000 lao động, con số này năm 2001 là
2.950.000 ngời, năm 2002 là 35.000.000 ngời.
Công nghiệp dệt may phát triển kéo theo và thúc đẩy sự phát triển của ngành
công nghiệp khác, trong đó có các ngành cung cấp nguyên vật liệu và ngành sử dụng
sản phẩm của ngành dệt may. Hiện nay, công nghiệp dệt may đang góp phần phát
triển nông nghiệp và nông thôn qua phát triển sản xuất bông, đay, tơ, tằm, từng bớc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp.
Với nỗ lực khắc phục điểm yếu kém để vơn lên, ngành công nghiệp dệt may
không chỉ giữ vai trò trọng yếu trong xuất khẩu mà còn đóng góp đáng kể vào việc
cải thiện cán cân thơng mại của nớc ta và tăng nhanh đầu t nớc ngoài. Tầm quan
trọng này còn đợc thể hiện càng rõ nét ở tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của
hàng dệt may Việt Nam.
Bảng 1: Giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
4

4.054
5.200
7.255
8.759
9.361
11.532
14.455
15.100
16.926
8.1%
11.7%
13.6%
14.4%
15.2%
15.4%
14.4%
14.6%
13.08%
13.25%
16.3%
(Nguồn: Bộ Thơng mại và Tổng công ty Dệt May Việt Nam)
Tóm lại, với đờng lối mở cửa và hội nhập quốc tế cùng với s chuyển dịch dòng
vốn trên đầu t và chuyển giao công nghệ đang diễn ra khá sôi động, ngành dệt may
nói chung và xuất khẩu hàng dệt may nói riêng đã, đang và sẽ có nhiều đóng góp hiệu
quả cho sự tăng trởng và phát triển kinh tế của đất nớc, xứng đáng là một trong những
ngành mũi nhọn trong chiến lợc phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam.
1.2-Nội dung hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may
1.2.1-Thực chất của hỗ trợ xuất khẩu
Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh đem lại lợi
nhuận lớn, là phơng tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất khẩu để tăng thu

6
thể giải quyết nổi, đó là vấn đề vốn đầu t, thông tin xuất nhập khẩu và thị trờng, các
mối quan hệ thơng mại quốc tế. Do vậy, ngành dệt may rất cần các biện pháp hỗ trợ
của Chính phủ.
1.2.2.1-Nhóm công cụ hỗ trợ sản xuất
a/ Chính sách đầu t phát triển
Không chỉ trong ngành dệt may mà trong hoạt động của tất cả các ngành khác
luôn luôn cần đến đầu t. Có đầu t thì có đổi mới, không đầu t thì không bao giờ có đổi
mới. Chính vì vậy, chính sách đầu t phát triển luôn là một trong những chính sách
quan trọng nhất, thúc đẩy sự tăng trởng mạnh của nền kinh tế nói chung và của ngành
dệt may nói riêng.
Để phát triển nhanh và có hiệu quả, ngành dệt may cần lợng vốn đầu t vào các
mục tiêu sau đây:
- Đổi mới công nghệ, trớc hết là công nghệ dệt và đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất
toàn ngành, khắc phục các khâu yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các trang
thiết bị.
- Mở rộng quy mô sản xuất trên cơ sở các doanh nghiệp hiện có và xây dựng thêm
doanh nghiệp mới.
- Phát triển các loại sản xuất phục vụ và phụ trợ cho doanh nghiệp dệt may: tạo
vùng nguyên liệu, sản xuất các vật liệu phụ cho công nghiệp dệt (hoá chất, thuốc
nhuộm, sản xuất các loại phụ liệu cho công nghiệp may mặc).
Bên cạnh những khoản đầu t trực tiếp thì còn cần những khoản đầu t vào các
mục tiêu có tính chất gián tiếp khác nh phát triển cơ khí dệt may, phát triển và hiện
đại hoá hạ tầng kỹ thuật cho công nghiệp dệt may...
Để huy động đợc nguồn vốn có khả năng đáp ứng đợc nhu cầu của ngành dệt
may, chính sách đầu t phát triển của Nhà nớc tập trung vào 3 nguồn vốn chủ yếu sau:
- Nguồn vốn trong nớc: đây là nguồn vốn rất quan trọng, giúp chúng ta luôn chủ
động đợc trong các kế hoạch phát triển của mình. Bên cạnh đó, nó làm giảm bớt
sự bất ổn định và phụ thuộc vào các nguồn vốn từ các khoản đầu t của nớc ngoài.
7

sự phát triển, điều này làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm dệt may của
nớc ta. Do vậy, trong số các biện pháp hỗ trợ của Nhà nớc đối với ngành công nghiệp
dệt may thì luôn phải có chính sách về công nghệ.
Chính sách phát triển khoa học công nghệ trong ngành dệt may chủ yếu tập
trung vào những vấn đề sau:
- Hỗ trợ xây dựng và phát triển các Viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trờng đào
tạo... về dệt may.
- Xây dựng các chiến lợc nghiên cứu và triển khai các dự án công nghệ dệt may.
- Khuyến khích việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới trong dệt may.
d/ Chính sách về lao động và phát triển
Dệt may là ngành công nghiệp sản xuất cần nhiều nhân công, đặc biệt là trong
kỹ nghệ may. Để tăng giá trị đóng góp cho sản phẩm, các chủ doanh nghiệp cần gia
tăng giá trị công nghiệp bằng cách phát triển các khâu ban đầu nh tạo mẫu hay cắt vải
và khâu chót nh Marketing hay có những liên kết mật thiết với kỹ nghệ dệt để cung
cấp nguyên phụ liệu cho kỹ nghệ may. Cả hai khâu quan trọng (đầu và cuối) tạo ra
phần lớn giá trị gia tăng cho sản phẩm, phụ thuộc vào yếu tố con ngời nhiều hơn yếu
tố vật chất. Chính vì vậy, làm thế nào để nâng cao chất lợng nguồn nhân lực trong
ngành dệt may luôn là vấn đề đợc Nhà nớc đặc biệt quan tâm.
Chính sách về lao động và phát triển của Nhà nớc đối với ngành dệt may tập
trung vào những vấn đề sau:
- Các chính sách thu hút, khuyến khích học sinh theo học ngành công nghiệp dệt
may
- Đầu t cơ sở hạ tầng cho các cơ sở đào tạo dệt may
- Định hớng cho các chơng trình đào tạo công nhân, kỹ s... về dệt may
- Chính sách hỗ trợ ngời lao động để đảm bảo cuộc sống và công việc của họ, thúc
đẩy họ cống hiến cho sự phát triển của ngành
9
e/ Chính sách về tổ chức quản lý
Bất kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng đều cần có sự quản lý của Nhà nớc, đặc
biệt là hoạt động xuất nhập khẩu bởi vì xuất nhập khẩu là lĩnh vực rất phức tạp, nó

b/ Chính sách thị tr ờng
Hoạt động Marketing đặc biệt quan trọng đối với sản phẩm dệt may do đặc
điểm của nhóm hàng này là yêu cầu cao về sự phù hợp với các tiêu chuẩn xã hội, văn
hoá, xu hớng thời trang. Đã có nhiều doanh nghiệp quan tâm tới vấn đề này nhng các
hoạt động tìm hiểu thị trờng thờng vợt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp.
Vì vậy, chính sách thị trờng của Nhà nớc để cung cấp thông tin thị trờng cho các
doanh nghiệp dệt may là hết sức cần thiết.
Chính sách thị trờng tập trung vào việc hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may trong
cả nớc tiếp cận đợc với thị trờng thế giới, có đợc những thông tin về thị trờng, điều
kiện pháp lý, văn hoá... khi xâm nhập vào các thị trờng này. Đồng thời, chính sách thị
trờng phải làm sao để có thể t vấn tốt nhất cho doanh nghiệp để thâm nhập thành
công thị trờng nớc ngoài.
c/ Chính sách tỷ giá hối đoái
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động thơng mại quốc tế là đồng tiền thanh toán
là ngoại tệ đối với ít nhất một trong hai bên nên bất kỳ sự thay đổi tỷ giá trao đổi
ngoại tệ nào cũng làm ảnh hởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia. Sự
thay đổi tỷ giá hối đoái làm cho hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu đắt hơn hay rẻ hơn
đối với nớc kia làm ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Ngoài ra, với
mức tỷ giá hối đoái u đãi còn có khả năng thu hút vốn đầu t đổ vào trong nớc. Vì vậy,
một quốc gia có thể dùng chính sách tỷ giá hối đoái để quản lý hoạt động xuất nhập
khẩu và thu hút vốn đầu t.
Tùy vào tình hình kinh tế của mỗi quốc gia mà các nớc thực hiện các chế độ tỷ
giá khác nhau để đạt đợc mục tiêu kinh tế, chính trị. Cụ thể có các chế độ tỷ giá sau:
11
- Tỷ giá hối đoái cố định: Là mức tỷ giá đợc Chính phủ thông qua Ngân hàng Trung
ơng đồng ý mua vào hay bán ra lợng đồng tiền nào đó theo yêu cầu của các đối t-
ợng khác nhau để trao đổi lại một mức tỷ giá hối đoái không đổi.
- Tỷ giá hối đoái thả nổi: Là tỷ giá hối đoái đợc thả nổi tự do không có sự can thiệp
nào của Chính phủ của thị trờng ngoại hối. Chính phủ không tăng thêm hay giảm
bớt lợng dự trữ ngoại hối. Và mối quan hệ giữa cung và cầu ngoại hối hoàn toàn

ợc che dấu.
Chơng II. Thực trạng của các chính sách hỗ trợ xuất khẩu hàng
dệt may sang Mỹ hiện nay
2.1-Tình hình xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ trong thời gian qua
2.1.1-Đặc điểm của thị trờng Mỹ có ảnh hởng tới xuất khẩu hàng dệt may của
Việt Nam
13
2.1.1.1-Đặc điểm của thị trờng hàng dệt may Mỹ
a/ Đặc tr ng của thị tr ờng hàng dệt may Mỹ
- Khả năng sản xuất
Dệt may là ngành công nghiệp đứng thứ mời trong các ngành công nghiệp tại
Hoa Kỳ. Tuy nhiên, hơn hai thập kỷ qua, do những thành tựu của khoa học công nghệ
đã góp phần giải phóng sức lao động nên số lợng lao động trong ngành này giảm
nhanh chóng. Hoạt động trong ngành dệt Hoa Kỳ tiếp tục giảm trong những năm gần
đây và việc giao hàng của các nhà máy dệt giảm sút liên tục bởi sự cạnh tranh ồ ạt
bằng giá của hàng nhập khẩu từ Châu á. Ngành công nghiệp dệt may Hoa Kỳ không
còn phát huy đợc lợi thế so sánh nh trớc kia bởi chi phí sản xuất cao, chi phí nhân
công tốn kém. Do đó, năng lực sản xuất của ngành dệt may Hoa Kỳ đang thu hẹp dần
trong những năm gần đây.
- Khả năng xuất khẩu
Mặc dù luôn đứng đầu thế giới về nhập khẩu hàng dệt may nhng Hoa Kỳ chỉ
xuất khẩu hàng dệt may với số lợng khiêm tốn. Trong vòng một thập kỷ gần đây, Mỹ
luôn ở trong tình trạng thâm hụt cán cân buôn bán hàng dệt may với hầu hết các bạn
hàng, trừ với Nhật và Canada. Những thị trờng xuất khẩu chính của Mỹ là các nớc
vùng Caribê, Mêhicô, Canada, Nhật Bản... 50% hàng dệt may xuất khẩu sang
Canada, EU, Nhật Bản, xuất khẩu bán thành phẩm sang các nớc vùng Caribê cũng
tăng nhanh. Các nớc này nhập khẩu bán thành phẩm, sản xuất thành phẩm và xuất
khẩu trở lại Mỹ.
Năng lực xuất khẩu hàng dệt may của Hoa Kỳ đang ngày càng có xu hớng suy
giảm. Có thể nói, do Hoa Kỳ không còn khả năng phát huy một cách hiệu quả nhất

nhập khẩu, đặc biệt là hàng của các nhà cung cấp nớc ngoài mới tham gia vào thị tr-
ờng này. Các nhà cung cấp này muốn tiêu thụ đợc hàng của mình thì phải bỏ ra một
chi phí rất lớn để trực tiếp hoặc thông qua các công ty tiếp thị tạo dựng một thơng
15
hiệu riêng đợc ngời tiêu dùng chấp thuận, nếu không họ phải chấp nhận để sản phẩm
của mình gắn những thơng hiệu đã có uy tín trên thị trờng và tất nhiên nhà sản xuất
cũng phải trả phí thuê thơng hiệu cũng nh đáp ứng một số điều kiện về chất lợng và
giá của ngời cho thuê nhằm bảo đảm uy tín của họ.
Sự thay đổi công nghệ đã giúp cho các nhà sản xuất quần áo nâng cao các ch-
ơng trình phản ứng nhanh. Khả năng phản ứng nhanh là yếu tố vô cùng quan trọng để
cạnh tranh trong điều kiện thị trờng thay đổi nhanh chóng hiện nay. Điểm quan trọng
của các chơng trình này là phát triển sản phẩm kịp thời và đáp ứng nhanh nhu cầu thị
trờng. Chơng trình này gắn chặt việc thiết kế, dự trữ, các nhà cung ứng, bộ phận cắt,
may, và hệ thống phân phối với nhau để giảm thiểu sự không hiệu quả, giảm dự trữ và
sự trì trệ trong quá trình phản ứng với nhu cầu thị trờng. Chơng trình này đợc bắt đầu
bằng các dữ liệu bán hàng từ máy tính tiền, sau đó tự động chuyển thành những thông
tin cần thiết để cung cấp hàng hoá một cách hợp lý và nhanh chóng.
Tuy nhiên, sự hợp nhất các nhà bán lẻ đã ảnh hởng lớn đến các nhà sản xuất
quần áo, làm chuyển dịch vai trò khống chế ngành. Vai trò này đã chuyển từ những
nhà sản xuất lớn sang các nhà bán lẻ lớn hơn và có khả năng chi phối mạnh hơn.
Khoảng hai phần ba lợng hàng quần áo hiện nay đợc bán qua 12 tập đoàn bán lẻ
chính dới các hình thức: cửa hàng bách hoá, cửa hàng liên chuỗi, cửa hàng đặc biệt và
các cửa hàng bán hạ giá.
Trong khi đó, số lợng các mạng lới bán lẻ mạnh của các nhà sản xuất và cung
cấp nớc ngoài còn hạn chế, vì vậy họ buộc phải chấp nhận áp lực của các tập đoàn
bán lẻ trên thị trờng dệt may Hoa Kỳ là phải giảm giá. Nhiều công ty bán lẻ đã giảm
số lợng mặt hàng và số lợng các nhà cung cấp để giảm chi phí. Việc này dẫn đến sự
cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các nhà sản xuất trong nớc và các nhà cung cấp n-
ớc ngoài.
Những thay đổi trong ngành sản xuất dệt may của Mỹ vừa tạo ra những thuận

17
Đây là loại hình công ty chuyên tổ chức giới thiệu sản phẩm qua catalog,
quảng cáo tờ rơi, TV... nhận đơn đặt hàng và giao nhận hàng hoá tận nhà qua bu điện,
điện thoại... Hệ thống hoạt động bán hàng của các công ty này có xu hớng ngày càng
phát triển lớn mạnh.
Cửa hàng bán lẻ (Retail Shop)
Cửa hàng bán lẻ bao gồm các loại hình tổ chức khác nhau nh: cửa hàng dịch vụ
thể thao, thực phẩm, dợc phẩm, tặng phẩm, du lịch... Một điểm đặc biệt lu ý là hệ
thống các cửa hàng và sạp bán lẻ của ngời Trung Quốc, ấn Độ, Mêhicô và cả ngời
Mỹ thờng bán với mức giá rất rẻ (thờng chỉ bằng 15-20% so với giá cả ở các siêu thị)
với các đặc điểm là hàng không có nhãn hiệu nổi tiếng và đợc nhập thẳng từ các
nguồn giá rẻ từ các nớc Châu á, Nam Mỹ ở dạng không có bao bì.
Để tiếp cận đợc với thị trờng Mỹ, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không
thể bỏ qua khâu tìm hiểu các đối tác kinh doanh Mỹ. Việc tìm hiểu các công ty siêu
thị kinh doanh sản phẩm may mặc hàng đầu ở Mỹ sẽ rất hữu ích cho các doanh
nghiệp xuất khẩu hàng dệt may.
Có thể nói rằng, hệ thống tiêu thụ sản phẩm may mặc trên thị trờng Mỹ rất đa
dạng và phong phú. Hiện nay có một phơng thức bán hàng mới đang chiếm u thế - đó
là bán hàng trên Internet. Phơng thức này không đòi hỏi công ty phải có cửa hàng,
siêu thị mà chỉ cần có một kho chứa hàng và một Website. Khách hàng muốn mua
sản phẩm, chỉ việc vào Website rồi gọi đến công ty, sẽ có nhân viên đem hàng đến
giao tận nhà. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải có thời gian dài mới có thể
tham gia vào cách bán hàng kiểu mới này, nhng ngay bây giờ, các doanh nghiệp dệt
may Việt Nam phải nhận thức đợc u thế của phơng thức kinh doanh hiện đại để chuẩn
bị đầy đủ, sẵn sàng hoà nhập với cách bán hàng hiện đại này.
c/ Khả năng tiêu thụ của thị tr ờng dệt may Mỹ
Dung lợng thị trờng
18
Đối với ngành dệt may, những tiêu chuẩn của một thị trờng lý tởng là dân số
đông, thu nhập quốc dân cao, xu hớng thời trang phát triển mạnh. Có thể nói, thị tr-

thiếu niên ngày nay có thu nhập cao hơn và chi tiêu nhiều hơn trớc đây, tỷ
lệ dành cho mua sắm quần áo cũng rất lớn. Lứa tuổi này rất chú trọng đến
những loại quần áo hợp thời trang và đồ hiệu. Đồng thời, họ cũng nhanh
chóng thích ứng với hoạt động xúc tiến thơng mại trên Internet, tạo ra
những cơ hội cho các công ty bán hàng qua Internet.
Lứa tuổi từ 45 trở lên chiếm 34% tổng dân số, dự đoán sẽ tăng lên 38% vào
năm 2005 và 41% vào năm 2010. Những ngời thuộc lứa tuổi này có xu hớng dành tỷ
lệ chi tiêu lớn hơn cho mua nhà, chi phí học đại học của con cái và các khoản tiết
kiệm. Sự cắt giảm chi tiêu cho quần áo buộc họ phải tìm kiếm những sản phẩm vừa
đáp ứng đợc những giá trị mà họ mong muốn vừa phù hợp với khoản tiền dự định chi
tiêu. Mặc dù vậy, họ vẫn là nhóm ngời chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng mức tiêu
thụ quần áo. Sự gia tăng số lợng ngời ở lứa tuổi 65 trở lên cũng là một dấu hiệu tốt
cho nhà sản xuất hàng may mặc. Nhóm ngời này ít quan tâm đến thời trang và chú ý
nhiều hơn đến sự thoải mái và tiện dụng, phù hợp với lối sống và hoạt động của họ.
- Thay đổi thói quen làm việc: Một xu hớng đang làm thay đổi nhu cầu về
hàng dệt may là ngời tiêu dùng ít đến cửa hàng hơn trớc vì công việc bận
rộn và họ thích dành thời gian nghỉ ngơi, ở nhà với gia đình hoặc bạn bè.
Xu hớng này sẽ tạo cơ hội cho các nhà sản xuất mặt hàng trang trí nội thất
nh rèm, thảm... song đó lại là điều bất lợi cho các nhà sản xuất quần áo.
Đồng thời, nó cũng khiến cho việc mua quần áo mới không còn quan trọng
đối với một số ngời và làm tăng thị phần của các loại quần áo và hàng trang
trí bán qua th và Internet.
Một yếu tố nữa phải kể đến là sự thay đổi các quy định trong công sở và thói
quen làm việc. Ngày càng có nhiều công ty chấp nhận cho nhân viên mặc quần áo tự
20
do thay vì đồng phục. Cùng với sự gia tăng số lợng ngời làm việc tại nhà cũng tạo ra
sự thay đổi trong ngành sản xuất quần áo. Xu hớng mặc quần áo theo phong cách tự
do đã làm tăng nhu cầu đối với quần áo thờng, sơ mi ngắn tay mặc thờng, áo thun. Xu
hớng này dự báo là sẽ còn tiếp tục phát triển trong những năm tới.
- Gia tăng sản phẩm nhập khẩu: Giá cả và chất lợng là những yếu tố quyết

cao hơn hẳn, chỉ 60% ngời tiêu dùng sẵn sàng làm nh vậy.
Song điều đó không đồng nghĩa với việc ngời tiêu dùng Hoa Kỳ thích dùng
hàng loại hai với giá rẻ hơn một chút và xem nhẹ vấn đề chất lợng. Theo thói quen
mua hàng truyền thống, ngời tiêu dùng thờng đánh giá chất lợng sản phẩm thông qua
thơng hiệu, nhãn mác sản phẩm. Đây là điểm khác biệt cơ bản về thói quen tiêu dùng
của các nớc phát triển và các nớc các nớc đang phát triển. Thơng hiệu nổi tiếng cũng
mang ý nghĩa quan trọng để tạo nên sức hấp dẫn của sản phẩm, song ngày nay, ngời
tiêu dùng Hoa Kỳ không quá coi trọng vấn đề này nữa. Chỉ 32% khách hàng luôn chú
ý vào nhãn mác sản phẩm trớc khi họ quyết định mua hàng. Trong khi đó, ở các thị
trờng khó tính nh EU và Nhật Bản, vấn đề thơng hiệu hàng hoá luôn đợc đặt lên hàng
đầu, 69% ngời tiêu dùng Italia sẽ chú ý ngay tới nhãn mác, ở Nhật Bản 67% và ở
Đức 62%.
Ngời tiêu dùng Hoa Kỳ quan tâm tới chất lợng nhiều hơn, 60% ngời tiêu dùng
tìm hiểu kỹ chất lợng sợi trớc khi quyết định mua hàng. Chỉ 17% khách hàng thừa
nhận họ tôn sùng và sử dụng những sản phẩm may mặc của một hãng sản xuất duy
nhất mà họ cho là nổi tiếng thế giới, tất nhiên tỷ lệ này rơi vào các ngôi sao điện ảnh,
giới ngời mẫu hoặc những ngời nổi tiếng khác. Tuy vậy, xu hớng lựa chọn này cũng
khá phức tạp tuỳ theo cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính của khách hàng. Từ độ tuổi 15
24, giới trẻ sùng bái nhãn hiệu nổi tiếng hơn và họ sẽ quyết định mua sản phẩm
của các hãng có tên tuổi trên thị trờng. Sự coi trọng chất lợng sợi và nhãn hiệu nổi
tiếng đợc thể hiện qua tỷ lệ phần trăm nh sau: 44%/56%. Nhng từ 25 34 tuổi, tỷ lệ
này là 37%/63%; ở nhóm tuổi 35 55, tỷ lệ những ngời sính dùng đồ hiệu có xu
22
hớng giảm, chỉ còn 22%. Và cuối cùng, theo điều tra độ tuổi 56 70, vấn đề chất l-
ợng đợc quan tâm nhiều nhất, thị hiếu về sự nổi trội giảm đi theo tỷ lệ 19%/81%.
Tính cách ngời dân Hoa Kỳ phóng khoáng, điều này cũng ảnh hởng rất lớn tới
sự lựa chọn sản phẩm của họ. Họ mua hàng nhiều khi theo cảm hứng, vì vậy nếu
không tìm thấy loại sản phẩm mình a chuộng, họ có thể mua một chủng loại khác để
thay thế. Tuy nhiên, khả năng thích ứng với các loại sản phẩm khác nhau cũng tuỳ
thuộc vào từng lứa tuổi. Giới trẻ có khả năng thích ứng cao nhất với sự đa dạng của

Trớc kia, ngời dân Hoa Kỳ thích dùng những sản phẩm may mặc đợc sản xuất
từ sợi tổng hợp. Nhng trong những năm gần đây, sử dụng sản phẩm 100% sợi bông
đang trở thành một xu hớng. Tỷ lệ bông trong sản phẩm may mặc và đồ gia dụng sản
xuất từ sợi bông ngày càng cao và có chiều hớng tăng lên. Năm 2000, tỷ lệ này đạt
59,6%, đến năm 2001 tăng lên 60,1%. Trong đó tỷ lệ bông trong sản phẩm may mặc
của nam giới cao nhất, chiếm 75,8% năm 2000 và còn tăng thêm 0,2% vào năm
2001. Đặc biệt, trẻ em Hoa Kỳ đang dần trở thành đối tợng sử dụng quần áo sợi bông
ngày càng nhiều với tốc độ gia tăng trung bình đạt 1,3%. Những sản phẩm đợc sản
xuất từ sợi bông có khả năng tiêu thụ mạnh hơn những sản phẩm khác. Doanh số của
các sản phẩm 100% sợi bông và sản phẩm có hàm lợng bông từ 60% đến dới 100%
liên tục tăng, trong khi đó doanh thu của các sản phẩm có tỷ lệ bông dới 60% giảm.
Những con số này càng khẳng định vai trò của sợi bông đối với thị trờng dệt may Hoa
Kỳ, nh một kim chỉ nam giúp các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu Việt Nam định h-
ớng sản phẩm.
Tìm hiểu cơ cấu sản phẩm tiêu thụ tại thị trờng dệt may Hoa Kỳ, có thể thấy thị
trờng này phân đoạn khá rõ ràng, trong đó thị phần các sản phẩm may mặc dành cho
phụ nữ lớn nhất 48,3%; tiếp đó là thị phần hàng may mặc dành cho nam giới
27,9%; thị phần cho trẻ em chiếm 15,7% và cuối cùng các sản phẩm gia dụng có
nguồn gốc từ sợi dệt (thảm trải sàn, rèm cửa...) chiếm 8,1%. Mặc dù nữ giới là đối t-
ợng phục vụ chính cho ngành dệt may Hoa Kỳ, nhng tốc độ tăng trởng doanh thu của
24
các sản phẩm dệt may nam giới khá cao và có phần vợt trội hơn cả. Điều này chứng
tỏ thị trờng dệt may dành cho nam giới ở Hoa Kỳ đang nóng dần lên, một tín hiệu
đáng mừng cho các nhà xuất khẩu Việt Nam vì chúng ta đã từng có kinh nghiệm
trong việc thực hiện các hợp đồng gia công áo sơ mi nam cho các thị trờng EU và
Nhật Bản.
Ngời tiêu dùng Hoa Kỳ thích những bộ trang phục đẹp, chất lợng tốt, nhng đặc
biệt chú ý tới tính tiện lợi. Gần đây, việc thay đổi thói quen làm việc và phong cách
ăn mặc nơi công sở đã khiến xu hớng tiêu dùng cuả thị trờng Hoa Kỳ có nhiều thay
đổi. Tỷ lệ tiêu thụ Vest và Complet giảm mạnh, chiếm khoảng 6% thị phần, thấp hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status