Các Giải pháp hỗ trợ Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ - Pdf 10

Lời mở đầu
Quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang nh một guồng xoáy cuốn các nền
kinh tế của các quốc gia vào một trật tự kinh tế trong đó việc tìm ra các lợi thế và giải
bài toán so sánh để xác lập vị thế trên trờng quốc tế luôn là vấn đề đặt ra đối với từng
quốc gia. Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới, Việt Nam đang từng bớc thực hiện quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế hớng mạnh
vào xuất khẩu.
Nh nhiều quốc gia khác, vào những giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hoá, ngành dệt may Việt Nam từng bớc khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân. Bên cạnh việc cung cấp hàng hóa đáp ứng các nhu cầu cho thị trờng
trong nớc, ngành dệt may còn tạo điều kiện mở rộng thơng mại quốc tế. Đồng thời,
vừa là nguồn thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm, vừa tạo nguồn hàng xuất
khẩu có giá trị cao, ngành dệt may sẽ là nguồn thu hút ngoại tệ góp phần tạo đà cho
nền kinh tế cất cánh.
Với tiềm năng của một quốc gia có lợi thế về xuất khẩu hàng dệt may, vấn đề
thâm nhập và phát triển các thị trờng mới, có dung lợng tiêu thụ lớn hiện đang đặt ra
cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam những khó khăn và thách thức. Điểm lại
một số các thị trờng lớn nh Nhật Bản, EU, Đông Âu, có thể thấy hàng dệt may Việt
Nam đã có mặt và đang củng cố dần từng bớc vị trí của mình. Tuy nhiên, hàng dệt
may Việt Nam đang gặp những khó khăn không nhỏ trong việc đẩy mạnh lợng hàng
xuất khẩu và để tìm đợc lối ra cho bài toán thị trờng tiêu thụ thì hớng cần thiết nhất là
khai thác để thâm nhập các thị trờng mới, trong đó Mỹ là một thị trờng đầy hứa hẹn
và có tiềm năng nhất.
Tiềm năng hợp tác kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và Mỹ là to lớn. Cùng
với việc ký kết Hiệp định thơng mại Việt Mỹ, quan hệ thơng mại giữa hai nớc đã
bớc sang trang mới. Vì vậy, việc xem xét khả năng thâm nhập của hàng dệt may vào
thị trờng Mỹ một thị trờng có dung lợng tiêu thụ vào loại lớn nhất thế giới đã trở
nên rất cấp bách. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi sẽ có không ít khó khăn và
1
thách thức, đòi hỏi không chỉ sự nỗ lực của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mà
còn cần có sự hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nớc để có thể tiếp cận và đẩy mạnh xuất

đến đợc tay ngời tiêu dùng thờng cao hơn giá cả trong nớc.
- Khi tiến hành xuất khẩu hàng hoá, cần phải tiến hành thêm nhiều nghiệp vụ khác
với tiêu thụ trong nớc nh làm thủ tục hải quan, kiểm hoá...
- Thị trờng xuất khẩu thờng có những đặc điểm, quy định khác với thị trờng trong
nớc.
1.1.1.2-Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hoá
3
Lợi ích của thơng mại quốc tế là rất to lớn và ngày càng có ý nghĩa quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Là một mặt của hoạt động th-
ơng mại quốc tế, xuất khẩu cũng thể hiện vai trò quan trọng của mình.
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu để phát triển kinh tế
Bất kỳ một quốc gia nào, dù giàu hay nghèo, để phát triển kinh tế đều cần có
vốn. Cùng với việc triệt để khai thác nguồn vốn từ bên ngoài phải phát huy cao độ nội
lực, coi nguồn vốn có đợc là việc phát huy nội lực, là động lực để phát triển kinh tế.
Vì vậy, nguồn vốn thu đợc từ hoạt động xuất khẩu là rất quan trọng. Cùng với sự phát
triển kinh tế của sản xuất trong nớc và sự phát triển của các quan hệ kinh tế đối
ngoại, nguồn vốn thu đợc từ xuất khẩu cũng ngày càng tăng lên, chiếm tỉ lệ cao trong
tổng nguồn vốn phát triển. Mặc dù các nguồn vốn xuất phát từ bên ngoài có xu hớng
tăng song không thể dựa vào đó để phát triển kinh tế bởi lúc này hay lúc khác, bằng
cách này hay cách khác, các nguồn vốn này cũng phải hoàn trả.
Xuất khẩu góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát
triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ. Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại. Sự chuyển
dịch cơ cấu trong nền kinh tế nớc ta trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
cũng đang diễn ra nhanh chóng, phù hợp với xu hớng phát triển của kinh tế thế giới.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vợt quá
nhu cầu nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển nh nớc

việc làm hiện nay là 30% thì ngành dệt may cũng nh các ngành hàng xuất khẩu khác
5
có vị trí rất quan trọng trong việc tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới, tăng thêm thu
nhập và ổn định đời sống cho đông đảo ngời lao động hiện nay.
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn
nhau. Xuất khẩu tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển.
Chảng hạn, xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy các quan hệ
tín dụng, đầu t, mở rộng vận tải quốc tế... Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối
ngoại này lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
Tóm lại, việc đẩy mạnh xuất khẩu là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát triển
kinh tế và hội nhập kinh tế.
1.1.2-Sự cần thiết của hỗ trợ xuất khẩu
Nh đã phân tích ở phần trên, do những đặc điểm của hoạt động xuất khẩu nên
xuất khẩu là một lĩnh vực cực kỳ phức tạp. Nó không chỉ liên quan đến một quốc gia
nào đó mà liên quan đến cả quốc gia mà nớc này thiết lập mối quan hệ thơng mại
quốc tế với những đặc điểm về luật pháp, chính trị, kinh tế, văn hoá... khác với nớc
mình. Có những lĩnh vực mà không một doanh nghiệp nào tự mình có thể làm đợc
trong hoạt động buôn bán với nớc ngoài mà đòi hỏi phải có sự tham gia can thiệp của
Chính phủ. Các chính sách của Chính phủ nhằm tạo ra một môi trờng thuận lợi cho
hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nh đã khẳng định ở trên,
xuất khẩu là một lĩnh vực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của bất kỳ một
quốc gia nào, chính vì vậy, làm thế nào để đẩy mạnh xuất khẩu luôn là một vấn đề đ-
ợc đặt ra không chỉ cho các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu mà còn cho cả phía
Nhà nớc. Để tăng cờng hoạt động xuất khẩu nhằm thúc đẩy sự tăng trởng của nền
kinh tế, Chính phủ nớc nào cũng đa ra những chính sách phù hợp với nớc mình nhằm
khuyến khích, hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nớc.
Nh vậy, có thể khẳng định rằng, các chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Nhà nớc
là rất quan trọng, là yếu tố cần thiết không thể thiết đợc để thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu hàng hoá phát triển và tăng trởng mạnh. Kinh nghiệm của nhiều nớc thành công

hiện là để nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nớc đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu của mình, các biện pháp này gọi là các hoạt động hỗ trợ xuất
khẩu.
Nh vậy, thực chất của hỗ trợ xuất khẩu là một hệ thống các biện pháp mà Nhà
nớc thực hiện nhằm tạo ra một môi trờng vĩ mô thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu của mình. Những biện pháp hỗ trợ xuất khẩu không chỉ
liên quan tới một hay một số doanh nghiệp nhất định nào đó, mà nó liên quan tới tất
cả các doanh nghiệp trong phạm vi biệp pháp đó điều chỉnh. Nó giải quyết những vấn
đề mà không một doanh nghiệp nào có thể tự mình giải quyết đợc. Nếu thiếu đi
những biệp pháp hỗ trợ xuất khẩu đó của Nhà nớc, các doanh nghiệp sẽ gặp phải
nhiều khó khăn khi tham gia hoạt động thơng mại quốc tế với các nớc khác.
Đối với những quốc gia xây dựng chiến lợc hớng về xuất khẩu kết hợp với thay
thế nhập khẩu nh chúng ta hiện nay, những doanh nghiệp tiến hành xuất khẩu hàng
hoá sẽ đợc tạo điều kiện phát triển bằng nhiều chính sách hỗ trợ khác nhau nh: chính
sách xuất khẩu, chính sách khuyến khích đầu t, chính sách tài chính tín dụng,
chính sách thuế... Điều này sẽ tạo điều kiện giúp cho doanh nghiệp có thể tăng kim
ngạch xuất khẩu.
1.2.2-Những công cụ hỗ trợ xuất khẩu
1.2.2.1-Những công cụ hỗ trợ hoạt động sản xuất
a/ Chính sách đầu t và phát triển
Bất kỳ một ngành kinh tế nào, cho dù sản xuất hàng hoá để phục vụ thị trờng
nội địa hay để xuất khẩu thì cũng cần phải có một nguồn vốn nhất định, nghĩa là cần
đến đầu t. Có đầu t thì có đổi mới, không đầu t thì không bao giờ có đổi mới. Chính
vì vậy, chính sách đầu t phát triển luôn là một trong những chính sách quan trọng
nhất, thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng hoá tăng trởng mạnh mẽ,
Để tạo điều kiện đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, Chính phủ cần có các chính
sách để hỗ trợ, tạo môi trờng thuận lợi cho việc đầu t vào các doanh nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu. Chính sách đầu t tập trung hỗ trợ cho hai vấn đề chính:
8
Thu hút vốn đầu t: Để huy động đợc nguồn vốn có khả năng đáp ứng đợc nhu cầu

đợc cả về số lợng, thời gian, chất lợng cũng nh về giá cả trong việc cung cấp
nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thì cần phải tập
trung vào việc phát triển các vùng, các doanh nghiệp có khả năng cung cấp các
loại nguyên vật liệu phù hợp. Nhà nớc cần phải có kế hoạch phát triển các vùng
nguyên vật liệu phù hợp với đặc điểm của từng khu vực địa lý và chỉ đạo việc thực
hiện các kế hoạch phát triển này.
- Đối với những nguyên vật liệu phải nhập khẩu: Trong chính sách hỗ trợ nguyên
vật liệu, Nhà nớc sẽ đa ra những biện pháp để có thể hỗ trợ tốt nhất cho việc nhập
khẩu các loại nguyên vật liệu mà trong nớc không thể cung cấp đợc. Thờng thì
công cụ chủ yếu đợc sử dụng vẫn là công cụ thuế quan nhập khẩu.
c/ Chính sách về khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ luôn đóng một vai trò rất quan trọng đối với bất kỳ ngành
sản xuất hàng hoá nào. Việc đầu t đổi mới công nghệ cũng nh đổi mới trang thiết bị
sẽ giúp tạo ra đợc các sản phẩm phù hợp với thị trờng và đáp ứng đợc các đòi hỏi về
số lợng, chất lợng, mẫu mã, thời gian giao hàng... của khách hàng. Trong giai đoạn
hiện nay, khoa học công nghệ của nớc ta cha thực sự phát triển, điều này làm giảm
khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu của nớc ta. Do vậy, trong số các
biện pháp hỗ trợ của Nhà nớc thì luôn phải có chính sách về công nghệ.
Chính sách phát triển khoa học công nghệ chủ yếu tập trung vào những vấn đề
sau:
- Hỗ trợ xây dựng và phát triển các Viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trờng đào
tạo... để tìm ra những kỹ thuật, những thành tựu công nghệ mới, đa nền khoa học
công nghệ trong nớc phát triển.
- Xây dựng các chiến lợc nghiên cứu và triển khai các dự án công nghệ.
10
- Khuyến khích việc nghiên cứu và áp dụng các công nghệ mới trong việc sản xuất
hàng hoá xuất khẩu.
d/ Chính sách về lao động và phát triển
Trong bất kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng đều cần đến sự tham gia của con
ngời. Việc sản xuất ra hàng hoá, cho dù có những máy móc tinh xảo và những công

mô rất quan trọng của Nhà nớc đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Một chính sách
thuế quan tốt sẽ bảo hộ đợc sản xuất trong nớc và thúc đẩy xuất khẩu ra thị trờng thế
giới. Đồng thời, chính sách thuế quan đợc áp dụng thống nhất sẽ từng bớc bảo đảm sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, góp phần phục vụ có hiệu quả chủ
trơng giải phóng mọi tiềm năng để phát triển lực lợng sản xuất, xây dựng cơ cấu kinh
tế hợp lý giữa các ngành nghề, giữa các địa phơng, các vùng, giữa thị trờng trong và
ngoài nớc, từ đó thúc đẩy xuất khẩu.
Chính sách thuế quan hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu tập trung vào việc miễn
thuế, giảm thuế và hoàn lại thuế. Để có thể khuyến khích xuất khẩu, Nhà nớc cần
phải quy định thật chi tiết, dựa trên những căn cứ rõ ràng, mặt hàng nào đợc miễn,
giảm hoặc hoàn lại thuế. Chính sách thuế quan không chỉ quy định về thuế xuất nhập
khẩu đối với những mặt hàng xuất khẩu ra thị trờng thế giới, mà còn đa ra các quy
định về thuế quan đối với các hàng hoá liên quan đến việc sản xuất ra loại mặt hàng
xuất khẩu đó nh: máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu, hoá chất, thuốc nhuộm...
b/ Chính sách thị tr ờng
Hoạt động Marketing đặc biệt quan trọng đối với các sản phẩm xuất khẩu ra
thị trờng thế giới do đặc điểm của hàng hoá xuất khẩu là yêu cầu cao về sự phù hợp
với các tiêu chuẩn xã hội, văn hoá, xu hớng thời trang... của nớc nhập khẩu. Đã có
nhiều doanh nghiệp quan tâm tới vấn đề này nhng các hoạt động tìm hiểu thị trờng
thờng vợt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp. Vì vậy, chính sách thị trờng
của Nhà nớc để cung cấp thông tin thị trờng cho các doanh nghiệp hoạt động xuất
khẩu là hết sức cần thiết.
12
Chính sách thị trờng tập trung vào việc hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu
trong cả nớc tiếp cận đợc với thị trờng thế giới, có đợc những thông tin về thị trờng,
điều kiện pháp lý, văn hoá... khi xâm nhập vào các thị trờng này. Đồng thời, chính
sách thị trờng phải làm sao để có thể t vấn tốt nhất cho doanh nghiệp để thâm nhập
thành công thị trờng nớc ngoài.
c/ Chính sách tỷ giá hối đoái
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động thơng mại quốc tế là đồng tiền thanh toán

khẩu tăng thu nhập, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu và do đó
đẩy mạnh đợc xuất khẩu. Có hai loại trợ cấp xuất khẩu: gián tiếp và trực tiếp.
- Trợ cấp trực tiếp nh: áp dụng thuế suất u đãi đối với hàng xuất khẩu, miễn hoặc
giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu... Cho các nhà
xuất khẩu đợc hởng các giá u đãi các đầu vào sản xuất hàng xuất khẩu nh điện, n-
ớc, vận tải, thông tin liên lạc, trợ giá xuất khẩu.
- Trợ cấp gián tiếp nh: dùng ngân sách Nhà nớc để giới thiệu, triển lãm, quảng cáo,
tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch xuất khẩu. Hoặc Nhà nớc giúp đỡ kỹ
thuật và đào tạo chuyên gia.
Mức độ trợ cấp phụ thuộc vào:
- Chính sách của Nhà nớc đối với từng mặt hàng
- Mức độ cạnh tranh trên thị trờng
Xu hớng chung hiện nay trợ cấp xuất khẩu vẫn còn đợc sử dụng rộng rãi. Trợ
cấp xuất khẩu trực tiếp có xu hớng bị thu hẹp do sự đấu tranh giữa các Chính phủ có
quan hệ buôn bán với nhau. Ngợc lại, trợ cấp gián tiếp ngày càng tăng lên và thờng đ-
ợc che dấu.
Trong các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu của Nhà nớc, các doanh nghiệp Việt
Nam coi trọng các biện pháp sau:
14
Bảng 1: Các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu đợc các doanh nghiệp Việt Nam coi
trọng
(Đơn vị: doanh nghiệp)
1. Cung cấp thông tin về các thị trờng xuất khẩu và uy tín của các đối tác th-
ơng mại
384
2. Đơn giản hoá các thủ tục xuất khẩu 176
3. Cung cấp tín dụng xuất khẩu từ các tổ chức tài chính tín dụng của Nhà
nớc và thành lập một hệ thống bảo hiểm thơng mại
110
4. Tăng cờng tính minh bạch về thuế xuất khẩu 30

tổ chức tài chính tín dụng Nhà nớc và hệ thống bảo hiểm thơng mại. Điều này
khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng trong việc thúc đẩy, mở
rộng hoạt động xuất khẩu thông qua việc đáp ứng nhu cầu tín dụng cho các doanh
nghiệp, đặc biệt là tín dụng u đãi cho các doanh nghiệp mới thành lập và các
doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ để khuyến khích tham gia sản xuất, kinh
doanh mặt hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó, cần có một hệ thống bảo hiểm thơng mại
đủ mạnh để hạn chế những rủi ro cho các doanh nghiệp trong hoạt động xuất
khẩu.
1.3-Kinh nghiệm của các nớc trong hỗ trợ xuất khẩu
Rất nhiều nớc trên thế giới có một nền kinh tế phát triển vững mạnh là nhờ
Nhà nớc đã có những chính sách hỗ trợ một cách hiệu quả cho hoạt động xuất khẩu.
Do có nhiều điểm tơng đồng do cùng ở khu vực Châu á nên nớc ta có thể học tập
những kinh nghiệm trong hỗ trợ xuất khẩu của các nớc có nền kinh tế, đặc biệt là lĩnh
vực xuất khẩu phát triển, trong đó điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
1.3.1-Kinh nghiệm của Trung Quốc
a/ Phát huy tác dụng của đòn bẩy thuế
- Cải cách thuế quan
Để thúc đẩy hội nhập quốc tế, Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần hạ mức
thuế quan cho phù hợp với mức chung của các nớc đang phát triển. Tính đến tháng
9/1999, Trung Quốc đã 10 lần cắt giảm thuế quan với mức tổng cắt giảm trong 7 năm
16
đạt tới 60% từ mức trung bình 43,2% năm 1992 giảm xuống 23% năm 1996 và đến
1/10/1997 lại giảm xuống còn 17%. Tháng 1/1999, Chính phủ Trung Quốc quyết
định giảm thuế 1014 hạng mục hàng hoá nhập khẩu, làm mức thuế quan trung bình
tiếp tục giảm từ 17% xuống còn 16,7% năm 2000. Trung Quốc tiếp tục giảm thuế,
kéo mức thuế trung bình xuống còn 15%.
Việc giảm thuế của Trung Quốc sẽ giúp cho Trung Quốc có thể sử dụng nhiều
hơn các nguồn lực nớc ngoài và phân bổ hiệu quả hơn nguồn lực trong nớc, điều
chỉnh cơ cấu thuế hợp lý và thích ứng với sự phát triển của thơng mại thế giới. Bên
cạnh đó, giảm thuế giúp tối u hoá cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu và nâng cao sức

chủ yếu nhằm giúp đỡ cho các tài khoản đối với việc xuất khẩu đồng vốn, hàng hóa
và bảo hộ rủi ro theo thông lệ quốc tế bao gồm:
- Chuyển tài khoản và quản lý của tổ chức tiền tệ quốc tế và tài khoản của Chính
phủ các nớc.
- Cung ứng tài khoản dài hạn, cung ứng tài khoản lãi thấp, lãi trung và dài hạn, tài
khoản hỗn hợp cho xí nghiệp trong nớc.
- Cung ứng tài khoản xuất khẩu bao gồm tài khoản mậu dịch cho xí nghiệp, tài
khoản bên mua cấp cho đơn vị có hàng nhập khẩu cung ứng tài khoản nhập khẩu
theo quy định để mở rộng nhập khẩu với từng nớc khác nhau.
- Có trách nhiệm bảo đảm cho các xí nghiệp ngoại thơng mà ngân hàng đã mua
quyền xuất khẩu để giảm bớt rủi ro cho các xí nghiệp, thúc đẩy chuyển vốn
nhanh.
- Bảo đảm uy tín đồng vốn và bảo đảm tín dụng rủi ro cho các xí nghiệp sản xuất,
nhập khẩu trong nớc và xí nghiệp hợp tác kinh doanh kinh tế đối ngoại, tạo điều
kiện thuận lợi cho xí nghiệp muốn vay tiền bên ngoài dự trù vốn chính xác hoặc
thu vốn về an toàn.
c/ Phát huy tác dụng đòn bẩy tỷ giá
18
Trớc đây, Trung Quốc áp dụng chính sách tỷ giá cố định và đa tỷ giá nhng
không tuân theo hoàn toàn đúng nguyên tắc của chế độ tỷ giá cố định, những tỷ giá
đợc ấn định khác nhau tuỳ theo từng quan hệ kinh tế đối ngoại và thoả thuận trong
quan hệ hai bên hay nhiều bên. Cùng với quá trình cải tổ và chuyển đổi nền kinh tế,
chế độ và chính sách tỷ giá hối đoái cũng đợc chuyển đổi cho phù hợp với những yêu
cầu của nền kinh tế phát triển dựa trên cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc
định hớng XHCN.
Bớc đầu tiên trong quá trình chuyển đổi chế độ và chính sách tỷ giá hối đoái ở
Trung Quốc là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định trớc đây đợc thả nổi theo sát với những
diễn biến của tỷ giá trên thị trờng. Đây gần nh là bớc tất yếu để đa yếu tố thị trờng
vào cơ chế xác định tỷ giá đối với hầu hết các nớc tiến hành chuyển đổi cơ chế quản
lý nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng có sự điều tiết và định h-

Điều chỉnh và phá giá mạnh đồng nhân dân tệ thời gian này của Chính phủ
Trung Quốc không chỉ thu đợc những lợi ích trong ngắn hạn, nhanh chóng đẩy mạnh
xuất khẩu, chiếm lĩnh thị trờng quan trọng trên thị trờng quốc tế mà còn tạo cơ sở để
Trung Quốc có thể trở lại việc duy trì chính sách tỷ giá ổn định trong một thời gian
dài, giảm thiểu những rủi ro hối đoái và tạo môi trờng hấp dẫn thu hút mạnh các
nguồn đầu t nớc ngoài và Trung Quốc.
Sau một thời gian giảm bớt sức ép điều chỉnh và phá giá đồng nhân dân tệ,
Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện một sự phối hợp khá linh hoạt và mềm dẻo giữa
chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ, tài chính.
d/ Chế độ th ởng xuất khẩu
Trung Quốc quy định cứ thu đợc 1 USD lãi xuất khẩu thì doanh nghiệp có
hàng xuất khẩu đợc trích giữ lại 0,2NDT. Số tiền thởng bằng NDT đợc trích theo tỷ lệ
70% dùng vào phát triển sản xuất, khai thác nghiệp vụ. Còn 30% đợc chi dùng cho
phúc lợi và chi tiền thởng cho công nhân viên chức.
e/ Cơ chế bảo hiểm tín dụng xuất khẩu
20
Từ đầu những năm 90, Chính phủ Trung Quốc đã cấp phát 100 triệu NDT để
hỗ trợ cho công ty bảo hiểm nhân dân nhằm mở rộng nghiệp vụ bảo hiểm tín dụng
xuất khẩu trung và dài hạn. Năm 1994, ngân hàng xuất nhập khẩu đợc thành lập.
Cuối những năm 1990, để hỗ trợ cho sự phát triển nghiệp vụ bảo hiểm tín dụng
xuất khẩu, chống rủi ro, Trung Quốc đã miễn thuế doanh thu đối với phần thu nhập từ
phí bảo hiểm loại này. Ngoài ra, Trung Quốc còn cho phép ngân hàng xuất nhập khẩu
phát hành trái phiếu trong và ngoài nớc để hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Ngân hàng còn phát hành thơng phiếu và tín phiếu theo tỷ giá nổi của Châu Âu để hỗ
trợ các nhà xuất khẩu Trung Quốc. Lợi nhuận thu đợc của tín phiếu sẽ đợc sử dụng để
hỗ trợ xuất khẩu các mặt hàng nh điện tử, máy móc và sản phẩm công nghệ cao khác.
1.3.2-Kinh nghiệm của Nhật Bản
a/ Chính sách khoa học công nghệ
Với yêu cầu xây dựng Nhật Bản thành một xã hội thông tin trong tơng lai,
Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện phát triển khoa học công nghệ một cách rất hiệu

đồng nội tệ năm 1964 và bắt đầu áp dụng hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi. Trong giai
đoạn 1976 1985, tỷ giá hối đoái của Hàn quốc đợc coi là thấp nhất trong số các n-
ớc đang phát triển, điều này góp phần đa giá cả hàng hoá của Hàn Quốc sát với giá cả
hàng hóa của thế giới, duy trì sự cạnh tranh cho hàng xuất khẩu.
b/ Chính sách trợ cấp xuất khẩu
Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện hỗ trợ về tài chính bằng cách u tiên cho các
công ty và xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đợc vay vốn với lãi suất thấp và miễn
hoặc giảm thuế cho các khoản thu nhập từ xuất khẩu. Thực chất đây chính là hình
thức trợ cấp xuất khẩu một cách gián tiếp.
Hình thức trợ cấp xuất khẩu cũng rất phong phú nh việc thiết lập các tổ chức
các tổ chức tài chính tín dụng cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, miễn thuế công ty
cho các doanh nghiệp trong 4 năm đầu hoạt động từ 50 100%, 2 năm tiếp là 20
30%. Các hình thức tín dụng lãi suất với lãi suất thấp cũng đợc áp dụng. Trong giai
22
đoạn 1961 1965, trong khi lãi suất cho vay chung là 18,2%, lạm phát 8,9% thì lãi
suất cho vay xuất khẩu là 9,3%. Kể từ năm 1982, trợ cấp lãi suất đợc xoá bỏ, tuy
nhiên so với lãi suất cho vay chung, lãi suất cho vay xuất khẩu vẫn thấp hơn từ 1
2,5%.
c/ Chính sách thuế quan
Biện pháp tài chính đợc sử dụng lâu dài hơn cả là chính sách giảm hoặc miễn
thuế xuất khẩu. Theo biện pháp này, khi các xí nghiệp Hàn Quốc nhận đợc đơn đặt
hàng của nớc ngoài, họ sẽ đợc nhập khẩu nguyên liệu không bị đánh thuế nếu toàn bộ
số hàng sản xuất sau đó sẽ đợc xuất khẩu, hơn nữa họ còn đợc giảm hoặc miễn các
khoản thuế thu nhập từ xuất khẩu hoặc các khoản thu nhập gia tăng do xuất khẩu.
d/ Chính sách đầu t
Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành các đạo luật cho phép có thể vay vốn nớc
ngoài. Luật thúc đẩy nhập khẩu vốn nớc ngoài của Hàn Quốc đợc ban hành vào năm
1960 và sửa đổi vào các năm 1962 và 1966 với mục tiêu u tiên cho các xí nghiệp xuất
khẩu đợc quyền trực tiếp vay vốn nớc ngoài. Điều này tạo cho các công ty sự chủ
động hơn trong việc sản xuất kinh doanh và chính vì thế hoạt động xuất khẩu của họ

- 40 doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập trong đó:
+ 21 doanh nghiệp Dệt
+ 12 doanh nghiệp May
+ 04 doanh nghiệp cơ khí dệt may
+ 03 doanh nghiệp khác là: Bông, tài chính...
- 05 doanh nghiệp thành viên hạch toán phụ thuộc
- 06 đơn vị sự nghiệp, y tế, giáo dục, nghiên cứu
Là sự kết hợp của tất cả các hãng sản xuất dệt may do Nhà nớc quản lý, Tổng
công ty Dệt May Việt Nam đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự
phát triển của ngành dệt may nớc ta. Tổng công ty Dệt May vừa là nhà sản xuất, vừa
là nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, vừa là nhà phân phối các sản phẩm dệt may. Bên
cạnh đó, VINATEX thành phần then chốt của Hiệp hội Dệt May Việt Nam
giúp Chính phủ trong việc định hớng và phát triển khu vực dệt may địa phơng.
Để làm đợc điều đó, nhiệm vụ đặt ra đối với Tổng công ty Dệt May Việt Nam
là:
1. Thực hiện nhiệm vụ kinh doanh hàng dệt và hàng may mặc theo quy hoạch và kế
hoạch phát triển ngành dệt và ngành may của Nhà nớc và theo yêu cầu của thị tr-
ờng, bao gồm: xây dựng kế hoạch phát triển, đầu t, tạo nguồn vốn đầu t, sản xuất
tiêu thụ sản phẩm, cung ứng nguyên vật liệu, xuất nhập khẩu phụ liệu, thiết bị phụ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status