Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang nh một guồng xoáy cuốn các nền
kinh tế của các quốc gia vào một trật tự kinh tế trong đó việc tìm ra các lợi thế và giải
bài toán so sánh để xác lập vị thế trên trờng quốc tế luôn là vấn đề đặt ra đối với từng
quốc gia. Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới, Việt Nam đang từng bớc thực hiện quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế hớng mạnh
vào xuất khẩu.
Nh nhiều quốc gia khác, vào những giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp
hoá, ngành dệt may Việt Nam từng bớc khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân. Bên cạnh việc cung cấp hàng hóa đáp ứng các nhu cầu cho thị trờng
trong nớc, ngành dệt may còn tạo điều kiện mở rộng thơng mại quốc tế. Đồng thời,
vừa là nguồn thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm, vừa tạo nguồn hàng xuất
khẩu có giá trị cao, ngành dệt may sẽ là nguồn thu hút ngoại tệ góp phần tạo đà cho
nền kinh tế cất cánh.
Với tiềm năng của một quốc gia có lợi thế về xuất khẩu hàng dệt may, vấn đề
thâm nhập và phát triển các thị trờng mới, có dung lợng tiêu thụ lớn hiện đang đặt ra
cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam những khó khăn và thách thức. Điểm lại
một số các thị trờng lớn nh Nhật Bản, EU, Đông Âu, có thể thấy hàng dệt may Việt
Nam đã có mặt và đang củng cố dần từng bớc vị trí của mình. Tuy nhiên, hàng dệt
may Việt Nam đang gặp những khó khăn không nhỏ trong việc đẩy mạnh lợng hàng
xuất khẩu và để tìm đợc lối ra cho bài toán thị trờng tiêu thụ thì hớng cần thiết nhất là
khai thác để thâm nhập các thị trờng mới, trong đó Mỹ là một thị trờng đầy hứa hẹn
và có tiềm năng nhất.
Tiềm năng hợp tác kinh tế thơng mại giữa Việt Nam và Mỹ là to lớn. Cùng
với việc ký kết Hiệp định thơng mại Việt Mỹ, quan hệ thơng mại giữa hai nớc đã
bớc sang trang mới. Vì vậy, việc xem xét khả năng thâm nhập của hàng dệt may vào
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
1
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đợc kết cấu
làm 3 chơng:
Chơng I: Những vấn đề chung về hỗ trợ nhập khẩu hàng dệt may
Chơng II: Thực trạng của các chính sách hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ
hiện nay
Chơng III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ
những năm tới
Qua đề tài này, em xin đợc gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo PGS.TS
Nguyễn Duy Bột ngời đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa
học này.
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
3
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
Chơng I. Những vấn đề chung về hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may
1.1-Vị trí của hàng dệt may trong nền kinh tế quốc dân của nớc ta
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, thực tế ghi nhận là dệt
may thờng đóng một vai rất quan trọng tại hầu hết các nớc đang phát triển với nguồn
lực có hạn và trình độ kỹ thuật còn hạn chế. Công nghiệp dệt may cũng là bớc khởi
đầu cho các nớc này để tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá toàn bộ nền kinh tế.
Công nghệ của ngành dệt may thờng đợc chuyển giao và áp dụng lại từ các nớc phát
triển đi sau. Chính vì vậy, công nghệ này có thể tiếp cận rộng rãi và thu hút nhiều lao
động. Việt Nam cũng nằm trong xu thế dịch chuyển của công nghệ dệt may đã và
đang diễn ra.
Dệt may đợc coi là một trong những ngành có lợi thế nhất của Việt Nam,
ngành công nghiệp dệt may ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân, vì nó không chỉ phục vụ nhu cầu thiết yếu của con ngời mà còn là ngành
giải quyết nhiều việc làm cho lao động xã hội, có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều
kiện thúc đẩy kinh tế phát triển và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nớc.
Thật vậy, trong 10 năm trở lại đây, ngành dệt may đã chứng tỏ là một ngành
công nghiệp khác: Sự phát triển của ngành dệt may sẽ tạo điều kiện cho rất nhiều
ngành khác phát triển, trong đó có các ngành cung cấp nguyên vật liệu và ngành
sử dụng sản phẩm của ngành dệt may. Hiện nay, công nghiệp dệt may đang góp
phần phát triển nông nghiệp và nông thôn qua phát triển sản xuất bông, đay, tơ,
tằm, từng bớc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp.
Đóng góp vào việc cải thiện cán cân thơng mại: Với nỗ lực khắc phục điểm yếu
kém để vơn lên, ngành công nghiệp dệt may không chỉ giữ vai trò trọng yếu trong
xuất khẩu mà còn đóng góp đáng kể vào việc cải thiện cán cân thơng mại của nớc
ta và tăng nhanh đầu t nớc ngoài. Tầm quan trọng này còn đợc thể hiện càng rõ
nét ở tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm của hàng dệt may Việt Nam.
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
5
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
Bảng 1: Giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
(Đơn vị: Triệu USD)
Năm Kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may
Tổng kim ngạch xuất
khẩu
Tỉ trọng/tổng số
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
14.6%
13.08%
13.25%
16.3%
(Nguồn: Bộ Thơng mại và Tổng công ty Dệt May Việt Nam)
Tóm lại, với đờng lối mở cửa và hội nhập quốc tế cùng với s chuyển dịch dòng
vốn trên đầu t và chuyển giao công nghệ đang diễn ra khá sôi động, ngành dệt may
nói chung và xuất khẩu hàng dệt may nói riêng đã, đang và sẽ có nhiều đóng góp hiệu
quả cho sự tăng trởng và phát triển kinh tế của đất nớc, xứng đáng là một trong những
ngành mũi nhọn trong chiến lợc phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam.
1.2-Nội dung hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may
1.2.1-Thực chất của hỗ trợ xuất khẩu
Xuất khẩu là một cơ sở của nhập khẩu và là hoạt động kinh doanh đem lại lợi
nhuận lớn, là phơng tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Mở rộng xuất khẩu để tăng thu
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
6
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
ngoại tệ, tạo điều kiện cho nhập khẩu và phát triển cơ sở hạ tầng. Chính vì vai trò
quan trọng nh vậy nên làm thế nào để thúc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu luôn đợc
đặt ra đối với cả phía Nhà nớc và doanh nghiệp.
Để đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi sự nỗ lực, phối hợp của cả hai phía: Nhà nớc
và doanh nghiệp. Về phía các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, các biện pháp họ đề
ra mang tầm vi mô. Các biện pháp này là để nhằm phục vụ cho chính doanh nghiệp
của họ, có thể là tập trung vào quá trình sản xuất, cũng có thể là tập trung vào hoạt
động tiêu thụ sản phẩm... Nói một cách ngắn gọn, chính họ đang tự giúp họ để có thể
đứng vững trên thơng trờng quốc tế. Còn về phía Nhà nớc, các biện pháp đợc thực
hiện là để nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nớc đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu của mình, các biện pháp này gọi là các hoạt động hỗ trợ xuất
khẩu.
Nh vậy, thực chất của hỗ trợ xuất khẩu là một hệ thống các biện pháp mà Nhà
mục tiêu sau đây:
- Đổi mới công nghệ, trớc hết là công nghệ dệt và đồng bộ hoá dây chuyền sản xuất
toàn ngành, khắc phục các khâu yếu nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các trang
thiết bị.
- Mở rộng quy mô sản xuất trên cơ sở các doanh nghiệp hiện có và xây dựng thêm
doanh nghiệp mới.
- Phát triển các loại sản xuất phục vụ và phụ trợ cho doanh nghiệp dệt may: tạo
vùng nguyên liệu, sản xuất các vật liệu phụ cho công nghiệp dệt (hoá chất, thuốc
nhuộm, sản xuất các loại phụ liệu cho công nghiệp may mặc).
Bên cạnh những khoản đầu t trực tiếp thì còn cần những khoản đầu t vào các
mục tiêu có tính chất gián tiếp khác nh phát triển cơ khí dệt may, phát triển và hiện
đại hoá hạ tầng kỹ thuật cho công nghiệp dệt may...
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
8
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
Để huy động đợc nguồn vốn có khả năng đáp ứng đợc nhu cầu của ngành dệt
may, chính sách đầu t phát triển của Nhà nớc tập trung vào 3 nguồn vốn chủ yếu sau:
- Nguồn vốn trong nớc: đây là nguồn vốn rất quan trọng, giúp chúng ta luôn chủ
động đợc trong các kế hoạch phát triển của mình. Bên cạnh đó, nó làm giảm bớt
sự bất ổn định và phụ thuộc vào các nguồn vốn từ các khoản đầu t của nớc ngoài.
- Nguồn vốn đầu t nớc ngoài: Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mối quan hệ đối
ngoại của nớc ta với các nuớc khác trên thế giới, các doanh nghiệp và tổ chức nớc
ngoài đang đầu t ngày càng nhiều vào các ngành kinh tế của Việt Nam. Nguồn
vốn trong nớc là quan trọng nhng không thể là đủ đợc đối với những chơng trình
phát triển lớn, do vậy thu hút vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài là một chính sách đặc
biệt quan trọng trong việc phát triển ngành công nghiệp dệt may.
- Nguồn vốn của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế: Hiện nay nguồn
vốn này không còn nhiều nh trớc kia, nhng nếu có các biệp pháp thu hút tốt,
chúng ta có thể nhận đợc sự giúp đỡ từ các tổ chức này.
b/ Chính sách nguyên phụ liệu
- Khuyến khích việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới trong dệt may.
d/ Chính sách về lao động và phát triển
Dệt may là ngành công nghiệp sản xuất cần nhiều nhân công, đặc biệt là trong
kỹ nghệ may. Để tăng giá trị đóng góp cho sản phẩm, các chủ doanh nghiệp cần gia
tăng giá trị công nghiệp bằng cách phát triển các khâu ban đầu nh tạo mẫu hay cắt vải
và khâu chót nh Marketing hay có những liên kết mật thiết với kỹ nghệ dệt để cung
cấp nguyên phụ liệu cho kỹ nghệ may. Cả hai khâu quan trọng (đầu và cuối) tạo ra
phần lớn giá trị gia tăng cho sản phẩm, phụ thuộc vào yếu tố con ngời nhiều hơn yếu
tố vật chất. Chính vì vậy, làm thế nào để nâng cao chất lợng nguồn nhân lực trong
ngành dệt may luôn là vấn đề đợc Nhà nớc đặc biệt quan tâm.
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
10
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
Chính sách về lao động và phát triển của Nhà nớc đối với ngành dệt may tập
trung vào những vấn đề sau:
- Các chính sách thu hút, khuyến khích học sinh theo học ngành công nghiệp dệt
may
- Đầu t cơ sở hạ tầng cho các cơ sở đào tạo dệt may
- Định hớng cho các chơng trình đào tạo công nhân, kỹ s... về dệt may
- Chính sách hỗ trợ ngời lao động để đảm bảo cuộc sống và công việc của họ, thúc
đẩy họ cống hiến cho sự phát triển của ngành
e/ Chính sách về tổ chức quản lý
Bất kỳ một hoạt động kinh tế nào cũng đều cần có sự quản lý của Nhà nớc, đặc
biệt là hoạt động xuất nhập khẩu bởi vì xuất nhập khẩu là lĩnh vực rất phức tạp, nó
không chỉ liên quan đến một nớc mà liên quan đến những nớc khác có quan hệ thơng
mại với nhau. Vì vậy, tổ chức quản lý xuất nhập khẩu nói chung và xuất khẩu dệt
may nói riêng rất đợc Nhà nớc ta coi trọng.
Trong chính sách về tổ chức quản lý hoạt động xuất khẩu dệt may, Nhà nớc ta
tập trung vào việc tạo ra một môi trờng thuận lợi để các doanh nghiệp dệt may cũng
nh các nhà đầu t trong và ngoài nớc tham gia hoạt động kinh doanh. Đồng thời, Nhà
hoạt động tìm hiểu thị trờng thờng vợt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp.
Vì vậy, chính sách thị trờng của Nhà nớc để cung cấp thông tin thị trờng cho các
doanh nghiệp dệt may là hết sức cần thiết.
Chính sách thị trờng tập trung vào việc hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may trong
cả nớc tiếp cận đợc với thị trờng thế giới, có đợc những thông tin về thị trờng, điều
kiện pháp lý, văn hoá... khi xâm nhập vào các thị trờng này. Đồng thời, chính sách thị
trờng phải làm sao để có thể t vấn tốt nhất cho doanh nghiệp để thâm nhập thành
công thị trờng nớc ngoài.
c/ Chính sách tỷ giá hối đoái
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
12
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động thơng mại quốc tế là đồng tiền thanh toán
là ngoại tệ đối với ít nhất một trong hai bên nên bất kỳ sự thay đổi tỷ giá trao đổi
ngoại tệ nào cũng làm ảnh hởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia. Sự
thay đổi tỷ giá hối đoái làm cho hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu đắt hơn hay rẻ hơn
đối với nớc kia làm ảnh hởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hoá. Ngoài ra, với
mức tỷ giá hối đoái u đãi còn có khả năng thu hút vốn đầu t đổ vào trong nớc. Vì vậy,
một quốc gia có thể dùng chính sách tỷ giá hối đoái để quản lý hoạt động xuất nhập
khẩu và thu hút vốn đầu t.
Tùy vào tình hình kinh tế của mỗi quốc gia mà các nớc thực hiện các chế độ tỷ
giá khác nhau để đạt đợc mục tiêu kinh tế, chính trị. Cụ thể có các chế độ tỷ giá sau:
- Tỷ giá hối đoái cố định: Là mức tỷ giá đợc Chính phủ thông qua Ngân hàng Trung
ơng đồng ý mua vào hay bán ra lợng đồng tiền nào đó theo yêu cầu của các đối t-
ợng khác nhau để trao đổi lại một mức tỷ giá hối đoái không đổi.
- Tỷ giá hối đoái thả nổi: Là tỷ giá hối đoái đợc thả nổi tự do không có sự can thiệp
nào của Chính phủ của thị trờng ngoại hối. Chính phủ không tăng thêm hay giảm
bớt lợng dự trữ ngoại hối. Và mối quan hệ giữa cung và cầu ngoại hối hoàn toàn
quyết định mức cân bằng tỷ giá hối đoái.
- Chế độ đa tỷ giá: Với việc áp dụng chế độ này thì có nhiều tỷ giá hối đoái cùng
ợc che dấu.
1.3-Các nhân tố ảnh hởng đến chính sách hỗ trợ xuất khẩu hàng dệt may
Nhìn chung thì có hai nhóm nhân tố ảnh hởng đến các chính sách hỗ trợ xuất
khẩu hàng dệt may, đó là nhóm nhân tố thuộc bản thân ngành dệt may và nhóm nhân
tố từ phía Nhà nớc.
1.3.1-Các yếu tố thuộc ngành dệt may
a/ Năng lực của ngành dệt may
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
14
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
Nói đến các chính sách hỗ trợ là nói đến những việc mà tự bản thân mình,
không một doanh nghiệp nào có thể làm nổi hoặc những việc mà chỉ có cơ quan của
Nhà nớc mới có thể giải quyết đợc. Chính vì vậy, nếu ngành có đủ năng lực thì Nhà
nớc không cần phải hỗ trợ nhiều và ngợc lại.
Nh vậy, năng lực của ngành dệt may quyết định rất lớn đến các chính sách hỗ
trợ xuất khẩu hàng dệt may. Nếu năng lực của ngành quá yếu thì Nhà nớc cần phải
làm rất nhiều việc để có thể thúc đẩy ngành này phát triển. Ngợc lại, nếu năng lực đủ
mạnh thì công việc của Nhà nớc sẽ giảm đi rất nhiều.
b/ Tiềm năng phát triển của ngành
Nhà nớc không thể đa ra các chính sách để hỗ trợ xuất khẩu cho một ngành mà
bản thân nó không có khả năng xuất khẩu ra thị trờng nớc ngoài. Vì vậy, các chính
sách hỗ trợ xuất khẩu còn phụ thuộc vào tiềm năng phát triển của ngành.
Chúng ta đều biết rằng, dệt may là một trong 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của
nớc ta, điều này tác động mạnh đến các chính sách hỗ trợ của Nhà nớc. Nghĩa là Nhà
nớc sẽ quan tâm hỗ trợ nhiều hơn đến hoạt động xuất khẩu của ngành này.
c/ Mục tiêu, chiến l ợc xuất khẩu của ngành
Nếu ngành dệt may đề ra mục tiêu, chiến lợc xuất khẩu cho giai đoạn sắp
tới càng cao thì trách nhiệm của Nhà nớc nhìn chung sẽ lớn hơn để hỗ trợ cho
ngành đạt đợc những mục tiêu đó, đặc biệt là khi năng lực của ngành còn thấp.
1.3.2-Các yếu tố từ phía Nhà nớc
tăng niềm tin của ngời tiêu dùng, đồng thời duy trì tiêu dùng ở mức độ cao.
Mức tiêu thụ hàng dệt may ở Hoa Kỳ trong giai đoạn vừa qua luôn luôn tăng,
năm sau luôn cao hơn năm trớc từ 10 15%. Ngời Hoa Kỳ dành khá nhiều thời gian
cho việc mua sắm quần áo. Trung bình 1 năm, mỗi ngời dân Hoa Kỳ sẽ đi mua quần
áo khoảng 22 lần. So sánh với Đông Âu 14 lần, Châu á - 13 lần, Mêhicô - 10 lần
và Châu Mỹ la tinh 8 lần mới thấy hết nhu cầu về may mặc ở Hoa Kỳ đang dẫn
đầu thế giới. Tổng chi phí dành cho việc mua sắm quần áo của ngời Hoa Kỳ trong
một năm khoảng 1,044 tỷ USD, đứng thứ t trên thế giới, sau Đức, Hồng Kông, Anh.
Đây đợc coi là tín hiệu tốt đối với các nớc xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ. Hơn nữa,
Hoa Kỳ còn là một quốc gia đa chủng tộc với nhiều màu da khác nhau, nhiều phong
tục và lối sống đa dạng. Điều này càng khiến thị trờng Hoa Kỳ trở thành một trung
tâm tiêu thụ lớn nhất trên thế giới.
Đặc điểm tiêu dùng hàng dệt may trên thị trờng Mỹ
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
17
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
Mức chi tiêu, đặc điểm nhân khẩu học, sự thay đổi thói quen làm việc, gia tăng
nhập khẩu là những yếu tố quan trọng ảnh hởng đến xu hớng tiêu dùng hàng may
mặc trên thị trờng Mỹ.
- Mức chi tiêu: Nền kinh tế Mỹ tăng trởng ổn định trong thập kỷ 90 đã duy
trì tiêu dùng ở mức cao. Tuy trong thời gian gần đây, nền kinh tế Mỹ có
những dấu hiệu suy giảm, nhng mức chi tiêu nói chung và mức chi tiêu cho
hàng may mặc nói riêng của ngời dân Mỹ vẫn ở mức cao. Đây chính là tín
hiệu tốt đối với các nớc xuất khẩu hàng dệt may.
- Đặc điểm nhân khẩu học: Thanh thiếu niên Mỹ ngày nay thế hệ con cái
của những ngời sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số 1946 1964 đang
nhanh chóng trở thành những ngời tiêu dùng. Trong 10 năm tới, dự đoán số
lợng thanh thiếu niên sẽ tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân số. Lứa tuổi thanh
thiếu niên ngày nay có thu nhập cao hơn và chi tiêu nhiều hơn trớc đây, tỷ
lệ dành cho mua sắm quần áo cũng rất lớn. Lứa tuổi này rất chú trọng đến
định khi mua quần áo và điều này dẫn đến sức ép về giá đối với ngành dệt
may của Mỹ. Giá bán buôn quần áo chỉ tăng 20% trong suốt giai đoạn 1996
2001, trong khi đó, giá bán lẻ hạ 3%. Đặc biệt là giá bán lẻ quần áo
dành cho nữ giảm rất mạnh. Kết quả làm hàng dệt may nhập khẩu từ các n-
ớc có chi phí nhân công thấp tăng lên và làm dịch chuyển sản xuất của các
công ty Mỹ ra nớc ngoài. Ngời tiêu dùng có xu hớng mua sắm hàng dệt
may nhập khẩu có giá thấp và độ tiện dụng cao.
Dự báo tiêu dùng hàng dệt may trên thị trờng Mỹ
- Thói quen tiêu dùng: Cũng nh các sản phẩm khác, mặt hàng dệt may bao
gồm hai thuộc tính: giá trị sử dụng vào giá trị. Vì vậy, chất lợng và giá cả
trở thành những vấn đề quan trọng đối với ngời tiêu dùng khi họ quyết định
mua hàng.
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, sản phẩm chỉ có thể khẳng
định vị trí và năng lực cạnh tranh của mình bằng chính chất lợng. Ngời tiêu dùng sẽ
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
19
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
bị thuyết phục không chỉ bởi tên tuổi của các nhà sản xuất nổi tiếng, quan trọng hơn
là giá trị và hiệu quả kinh tế do sản phẩm đem lại. Những đặc tính cơ bản ảnh hởng
đến chất lợng hàng dệt may bao gồm: sự vừa vặn về kích cỡ, độ bền, sự tiện lợi khi sử
dụng, kiểu dáng và nhãn mác.
Ngời dân Hoa Kỳ rất thực tế, họ luôn cân nhắc và tính toán sao cho công việc
mình làm đem lại hiệu quả cao nhất. Nói riêng về thị trờng dệt may, cho dù ngời tiêu
dùng Hoa Kỳ coi trọng vấn đề nhãn mác, giới trẻ đặc biệt sính dùng đồ hiệu, song
họ vẫn không đi chệch khỏi quỹ đạo điều chỉnh của hai chữ kinh tế. Chúng ta hiểu
rằng, ngời tiêu dùng mong muốn đợc thoả mãn nhiều nhất với một khoản chi phí thấp
nhất. Đó là tâm lý chung của tất cả khách hàng. Song nếu làm một phép so sánh, ta sẽ
thấy mức độ coi trọng vấn đề giá cả của khách hàng Hoa Kỳ khá cao. ở Colombia -
đất nớc Nam Mỹ có mức sống còn thua xa Hoa Kỳ, 84% ngời tiêu dùng sẵn sàng trả
một khoản tiền cao hơn để mua đợc một sản phẩm may mặc có chất lợng tuyệt hảo
sự lựa chọn sản phẩm của họ. Họ mua hàng nhiều khi theo cảm hứng, vì vậy nếu
không tìm thấy loại sản phẩm mình a chuộng, họ có thể mua một chủng loại khác để
thay thế. Tuy nhiên, khả năng thích ứng với các loại sản phẩm khác nhau cũng tuỳ
thuộc vào từng lứa tuổi. Giới trẻ có khả năng thích ứng cao nhất với sự đa dạng của
các loại hàng hoá khác nhau. Nếu ở lứa tuổi 15 19, 34% ngời tiêu dùng quyết định
mua chủng loại sản phẩm khác khi không tìm thấy kiểu sản phẩm mình định mua ban
đầu thì với độ tuổi 20 24, tỷ lệ này giảm xuống 26% và càng có xu hớng giảm khi
tháp tuổi càng cao. Đến lứa tuổi 55 60, chỉ 17% khách hàng có thể chấp nhận đổi
loại sản phẩm truyền thống mình vẫn dùng bằng một loại khác. Đây là một điểm cần
chú ý vì trong tơng lai, Hoa Kỳ sẽ trở thành nớc dân số già, tỷ lệ nhóm tuổi 45 và 65
đang có xu hớng tăng lên. Việc tìm hiểu phong cách mua hàng của ngời tiêu dùng
Hoa Kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà sản xuất và xuất khẩu trong việc đa
ra thị trờng loại sản phẩm thích hợp.
Điểm đặc trng trong xu hớng tiêu dùng Hoa Kỳ là sở thích mua những sản
phẩm mang phong cách cổ điển hơn những sản phẩm mốt thời thợng, mặc dù tỷ lệ
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
21
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
khách hàng thích dùng sản phẩm mốt thời thợng khá cao, chiếm 20% tổng số ngời
tiêu dùng hàng dệt may, đứng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Đức (30%), hơn hẳn các
trung tâm thời trang lớn nh Anh và Italia (tỷ lệ này là 19%), Pháp (17%). Quần áo
mang phong cách cổ điển chiếm giữ thị phần đáng kể tại thị trờng Hoa Kỳ khoảng
79%, chứng tỏ thị trờng tiềm năng này có nhu cầu rất phong phú, đối tợng phục vụ
khá rộng: giới sành điệu và cả những ngời bình dân. Hoa Kỳ quả là một thị trờng vừa
dễ tiếp cận nhng cũng đầy thử thách, khó khăn.
Một thói quen đáng ghi nhớ của ngời tiêu dùng Hoa Kỳ là họ quyết định mua
hàng theo mùa vụ. Bắt đầu mỗi mùa tiêu thụ, họ sẽ đi mua hàng ngay chứ không chờ
đến cuối mùa để mua đợc với mức giá rẻ hơn. Tỷ lệ khách hàng mua đồ vào đầu mùa
tiêu thụ ở Hoa Kỳ chiếm khoảng 64%, đứng thứ ba trên thế giới sau Nhật Bản (73%)
và Hồng Kông (67%). Vì vậy yếu tố giao hàng đúng thời hạn, bắt kịp thời vụ cũng rất
tỏ thị trờng dệt may dành cho nam giới ở Hoa Kỳ đang nóng dần lên, một tín hiệu
đáng mừng cho các nhà xuất khẩu Việt Nam vì chúng ta đã từng có kinh nghiệm
trong việc thực hiện các hợp đồng gia công áo sơ mi nam cho các thị trờng EU và
Nhật Bản.
Ngời tiêu dùng Hoa Kỳ thích những bộ trang phục đẹp, chất lợng tốt, nhng đặc
biệt chú ý tới tính tiện lợi. Gần đây, việc thay đổi thói quen làm việc và phong cách
ăn mặc nơi công sở đã khiến xu hớng tiêu dùng cuả thị trờng Hoa Kỳ có nhiều thay
đổi. Tỷ lệ tiêu thụ Vest và Complet giảm mạnh, chiếm khoảng 6% thị phần, thấp hơn
Pháp và Đức gần một nửa. ở Italia và Anh, thị phần áo Vest cũng cao gấp 3 lần so với
Hoa Kỳ. Quần áo bảo hộ và đồng phục đi làm vẫn duy trì thị phần ở mức 20%. Nhng
chiếm u thế nhất phải nói đến hàng casual một loại sản phẩm may mặc đợc dệt
từ loại sợi không cần ủi bao gồm casual phổ thông và casual công sở. Sản
phẩm casual ở thị trờng dệt may Hoa Kỳ không bị coi nh một sản phẩm không
mang tính lịch sự, trái lại, ngời ta có thể tạo ra những mẫu trang phục công sở từ chất
liệu này nhng không làm mất đi vẻ sang trọng của nó. Nếu so sánh với các nớc EU
nơi sản phẩm casual rất ít khi đợc mặc đến công sở: ở Anh, tỷ lệ này thấp nhất chỉ
44%; Pháp: 60%; Italia: 67%, thì ở Hoa Kỳ 71% công chức có thể mặc đồ casual
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
23
Phạm Thị Phơng Nga TMQT 41C
đến nơi làm việc ít nhất một lần trong tuần. Doanh số của hàng casual ngày càng
tăng nhanh.
2.1.1.2-Chính sách của Mỹ đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ
Có thể thấy chỉ sau khi lệnh cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam đợc bãi bỏ thì
hàng hoá xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam nói riêng
mới có cơ hội và điều kiện thuận lợi hơn để thâm nhập vào thị trờng Mỹ. Tuy nhiên,
hàng dệt may Việt Nam phải chịu sự chi phối bởi các quy định trong chính sách th-
ơng mại của Mỹ đối với hàng dệt may nhập khẩu vào thị trờng Mỹ.
Theo các nhà chuyên môn, vấn đề dệt may sẽ đợc phía Mỹ đề cập trong khuôn
khổ đàm phán song phơng về việc Việt Nam gia nhập WTO nh họ đã làm với Trung
Từ 1/7/1996, quy định mới về xuất xứ đối với sản phẩm dệt may của Mỹ bắt
đầu có hiệu lực. Đối với những sản phẩm may mặc cần gia công qua nhiều công
đoạn, theo quy định cũ, thì nớc xuất xứ là nơi diễn ra công đoạn cắt vải. Theo quy
định mới, nớc xuất xứ về cơ bản là nơi diễn ra công đoạn may. Đối với sản phẩm dệt,
trớc tháng 7/1996, xuất xứ đợc xác định chủ yếu là nơi dệt vải. Tuy nhiên, quy định
mới của Mỹ xác định xuất xứ của sản phẩm dệt là nơi tiến hành in, nhuộm vải.
Đối với sản phẩm len, theo luật nhãn hiệu sản phẩm len năm 1939, tất cả các
sản phẩm có chứa sợi len nhập khẩu vào Mỹ phải ghi nhãn, trừ thảm, chiếu, nệm ghế.
Theo Luật nhãn hiệu sản phẩm da lông thú, tất cả các sản phẩm nhập khẩu có giá
thành hay giá bán từ 7 USD trở lên phải ghi nhãn và nớc xuất xứ.
Chế độ Visa xuất khẩu
Mỹ buộc một số nớc phải ký kết thoả thuận về việc áp dụng chế độ Visa xuất
khẩu đối với hàng dệt may. Nớc đối tác phải xác nhận (dới dạng đóng dấu vào hóa
đơn hay giấy phép) trớc mỗi chuyến hàng. Biện pháp này hiện đợc sử dụng để quản lý
hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ. Quy định về Visa này áp dụng cho cả sản phẩm
Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
25