MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan
tất yếu đối với các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại, với mục tiêu là
xác lập dân chủ, tức là thừa nhận và đảm bảo thực hiện quyền lực của nhân
dân. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước coi việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp đổi mới của đất nước và
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đang ngày càng phát triển cả bề rộng
lẫn bề sâu, từ đó khẳng định vị thế của Việt Nam trên thế giới.
Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì vấn
đề cấp bách đặt ra là đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức. Chính vì
lẽ đó, nhận rõ vai trò của giáo dục, đào tạo, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất
quán với quan điểm “ con người là nguồn lực quý báu nhất, là trung tâm của
sự phát triển. Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách
hàng đầu. Cũng như nhiều nước, chúng ta đã tạo lập khung pháp lý và những
chính sách làm cơ sở cho việc đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng mục tiêu đào tạo, xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đang gặp nhiều khó khăn, những
kết quả đạt được chưa tương xứng với những yêu cầu đặt ra. Đảng ta nhận
định: “Công tác tổ chức, cán bộ chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước
trong thời kỳ mới” [13]. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức còn dựa
vào những định kiến chủ quan, chưa thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc,
tệ quan liêu, tham nhũng đang thực sự là vấn đề đáng lo ngại. Do vậy chúng
ta chứ tích cực phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng những cán bộ, công chức có
đức, có tài. Để khắc phục những tồn tại hiện nay và đáp ứng những yêu cầu
của công cuộc đổi mới, vấn đề cấp bách là phải có chiến lược về con người,
trong đó đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, công chức
thực sự trở thành động lực cho sự phát triển của xã hội.
Cùng với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức nói chung thì việc
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức thanh tra ngành Tư pháp là một vấn đề
bộ là cái gốc của mọi công việc”, “cán bộ tốt thì mọi công việc mới tốt” và
còn nhiều những bài viết, nói chuyện của Bác về lĩnh vực cán bộ... Đây là
những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán bộ thanh tra ngành Tư
pháp nói riêng.
Tại nước ta trong những năm gần đây, chủ đề nghiên cứu về đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ công chức đã có nhiều sự quan tâm của nhiều nhà luật học. Ở
mức độ và phạm vi khác nhau, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công
bố như: Đào tạo bồi dưỡng công chức hành chính Nhà nước tại thành phố Hồ
Chí Minh theo yêu cầu cải cách nền hành chính ở nước ta hiện nay của
Nguyễn Mạnh Bình, 2001; Cơ sở khoa học của việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ
chính quyền cơ sở cấp xã của TS. Trần Quang Minh; Cơ sở lý luận và thực
tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của TS. Thang Văn Phúc, TS.
Nguyễn Minh Phương. Nxb CTQG, 2005; Xây dựng nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân của TS Nguyễn Trọng Thóc Nxb CTQG, 2005; Tư
tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện
nay của TS Hoàng Trang, TS. Phạm Ngọc Anh, Nxb CTQG, 2004; Đổi mới
nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức, Nghiên cứu
lý luận, số 9 của TS. Nguyễn Hữu Thanh, 2000; Cơ sở lý luận và thực tiễn xây
dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của
TS Trần Hậu Thành, Nxb CTQG, 2005; Những vấn đề pháp lý cơ bản của
việc đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước ở Việt Nam của Luận
văn tiến sĩ luật học của Phạm Tuấn Khải; Thực trạng tổ chức và hoạt động
thanh tra bộ, ngành, chuyên ngành ở nước ta của Luận văn tiến sĩ Phạm Văn
Khanh, 1997
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập trực tiếp
hoặc gián tiếp đến nhiều nội dung về đào tạo bồi dưỡng công chức theo yêu
cầu Nhà nước Pháp quyền ở những mức độ và phạm vi khác nhau, tương ứng
với những khoảng thời gian nhất định, giải quyết nhiều vấn đề bức xúc. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu có hệ thống và tương đối đầy đủ về cơ sở lý luận và
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện
chứng và triết học duy vật lịch sử. Bên cạnh việc sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khác như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn...
5. Những đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận văn.
- Làm rõ một số quan điểm về đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra
của ngành Tư pháp.
- Chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp trên toàn quốc từ năm 1982 đến nay.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao công tác
đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp trong thời gian.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Với kết quả đạt được, luận văn góp phần làm phong phú thêm lý
luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và đào tạo, bồi
dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp nói riêng, từ đó giúp cho
những công chức đang trực tiếp làm công tác thanh tra trong ngành Tư
pháp và những người làm nhiệm vụ quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng
rút ra nhận thức chung về vấn đề này để nâng cao chất lượng, hiệu quả
trong công tác thanh tra.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên
cứu, giảng dạy về lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng công chức ngành Tư pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
THANH TRA NGÀNH TƯ PHÁP THEO YÊU CẦU CỦA NHÀ NƯỚC
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG CHỨC THANH TRA VÀ ĐÀO
TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC THANH TRA NGÀNH TƯ PHÁP
Ở Pháp công chức gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm
việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ
chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa
phương nhưng không tính các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa
phương quản lý [15].
Những thông tin trên cho thấy, phạm vi công chức ở các nước rất khác
nhau. Tuy có những điểm khác nhau như vậy nhưng các nước đều có những
điểm chung về quan niệm công chức đó là:
Thứ nhất, công chức là người được tuyển dụng, bổ nhiệm thông qua các
hình thức thi tuyển.
Thứ hai, các nước đều giới hạn công chức trong phạm vi bộ máy hành
chính nhà nước, được xếp vào ngạch nhất định trong hệ thống thang bậc,
ngạch công chức (thể hiện tính thứ bậc, khác biệt của từng vị trí công việc mà
công chức thực thi).
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và phát triển liên
tục theo tiến trình lịch sử, qua mỗi thời kỳ khác nhau có quan niệm khác nhau
về công chức. Điều đáng quan tâm là ngay từ những ngày đầu của chính
quyền Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng đã quan tâm tới năng lực
chuyên môn và phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức. Đây là tiêu chí có
tính chính trị xã hội định hướng cho sự phát triển của nền công vụ và đồng
thời là tiêu chuẩn để lựa chọn cán bộ, công chức. Trên cơ sở những quan
điểm, tư tưởng, nguyên tắc về một nền công vụ, công chức kiểu mới thể hiện
trong Hiến pháp 1946, Quy chế công chức Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà được ban hành theo Sắc lệnh số 76/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày
20.5.1950. Bản Quy chế này đặt ra những nguyên tắc cơ bản và tổng hợp các
vấn đề công chức. Lần đầu tiên khái niệm công chức đã được đưa vào Quy
chế pháp lý của Nhà nước. Tại Điều 1 Sắc lệnh số 76/SL ngày 20.5.1950 quy
định công chức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân
tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong
hay ngoài nước đều là công chức”, theo Quy chế này, trừ những trường hợp
trong những nội dung khó khăn và phức tạp nhất là xác định phạm vi khái niệm
công chức Việt Nam gồm những ai, họ phải hội tụ đủ những tiêu chí nào.
Khi cho ý kiến chỉ đạo về dự án Pháp lệnh Công chức do Ban cán sự
Đảng Chính phủ trình Bộ Chính trị ngày 25 tháng 8 năm 1995, Bộ Chính trị
Trung ương Đảng đã chỉ rõ:
Ở nước ta, sự hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức có đặc
điểm khác các nước. Cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước,
Đảng và đoàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống chính trị do
Đảng lãnh đạo. Bởi vậy, cần có một pháp lệnh có phạm vi điều
chỉnh chung đối với cán bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị bao
gồm: các công chức nhà nước (trong đó có công chức làm việc ở
các cơ quan quân đội, cảnh sát, an ninh,...), cán bộ làm việc chuyên
trách trong các cơ quan Đảng, đoàn thể [15, tr.13].
Tiếp thu tinh thần chỉ đạo trên của Bộ Chính trị, Điều 1 Pháp lệnh Cán
bộ, công chức 1998 được sửa đổi năm 2003 không đưa ra định nghĩa riêng
cho từng khái niệm "cán bộ", "công chức", cũng không đưa ra một định nghĩa
chung cho cả nhóm "cán bộ, công chức", mà chỉ quy định:
1. Cán bộ, công chức được quy định tại Pháp lệnh này là công
dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm:
a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm
kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau
đây gọi chung là cấp tỉnh); ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);
b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công
chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan
nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
hành chính, nhưng dường như coi công chức bao hàm cả viên chức (xem
khoản 2).
Trên cơ sở quy định tại Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức, cũng như
suy ra từ quan niệm về viên chức trước đây, thì cán bộ, công chức, viên chức
có ba đặc điểm chung: là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước. Điều 1 Pháp lệnh cũng chỉ rõ mỗi cán bộ, công chức,
viên chức có phương thức riêng để được vào làm việc trong cơ quan, tổ chức
nhà nước và xã hội.
Căn cứ Pháp lệnh năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh
cán bộ, công chức năm 1998, ngày 10/10/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 117/2003/NĐ-CP về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công
chức trong các cơ quan nhà nước. Theo đó, Điều 2 của Nghị định quy định về
công chức như sau:
Công chức nói tại nghị định này là công dân Việt Nam, trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c,
điểm e khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức, làm việc trong các
cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã
hội sau đây:
1. Văn phòng Quốc hội;
2. Văn phòng Chủ tịch nước;
3. Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
4. Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;
5. Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài;
6. Đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân;
7. Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114/2003/NĐ-CP
ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị
trấn, lần đầu tiên trong pháp luật nước ta có quy định về công chức xã,
Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong
các cơ quan nhà nước, công chức loại A được hiểu là những người được bổ
nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và
sau đại học bao gồm: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
Theo vị trí công tác, công chức được phân ra làm hai loại: 1) Công
chức lãnh đạo, chỉ huy; 2) Công chức chuyên môn, nghiệp vụ.
Theo ngạch công chức, công chức được phân thành năm loại : 1) Công
chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên; 2) Công chức ngạch
chuyên viên chính và tương đương; 3) Công chức ngạch chuyên viên và tương
đương; 4) Công chức ngạch cán sự và tương đương; 5) Công chức ngạch
nhân viên và tương đương.
Việc phân loại công chức theo Nghị định số 117 như đã trình bày, là
việc làm có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn đối với việc cơ cấu,
quy hoạch, quản lý công chức trong hoạt động công vụ. Trên cơ sở cách phân
loại này để có những tiêu chí khác nhau trong việc đánh giá, sử dụng, đề bạt,
xử lý công chức vi phạm một cách thích hợp, đáp ứng yêu cầu của công cuộc
đổi mới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân.
Trên cơ sở những vấn đề đã nêu, kết hợp điểm b, c, e khoản 1 và 2
Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ, công chức và khoản 1 Điều 2, Điều 4 Nghị định số
117, khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114, chúng ta có thể rút ra một định nghĩa
đầy đủ hơn về công chức "theo tinh thần" của Pháp lệnh hiện hành như sau:
Công chức Việt Nam là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch hoặc được giao giữ một công vụ (được giao nhiệm vụ thường xuyên),
được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, vị trí công tác trong
các cơ quan, tổ chức của Nhà nước, bộ máy giúp việc của tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ,
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Qua định nghĩa trên, chúng ta rút ra ba yếu tố căn bản gắn liền với công
chức nước ta đó là:
với chủ thể nhất định như đoàn thanh tra, người làm nhiệm vụ thanh tra, thanh
tra viên và được đặt trong phạm vi hoạt động nhất định. Trong các văn bản
pháp luật và thực tiễn quản lý của nước ta, cụm từ “ thanh tra kiểm tra” được
sử dụng để chỉ hoạt động không thể thiếu của quản lý nhà nước nhằm hướng
đối tượng quản lý theo mục tiêu nhất định.
Thanh tra Tư pháp vừa được dùng với ý nghĩa là hoạt động thanh tra
trong lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành Tư pháp đồng thời vừa là một
khái niệm gọi tên các cơ quan thanh tra trong ngành Tư pháp. Ở Việt Nam,
ngành Tư pháp là các cơ quan thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư
pháp và Sở Tư pháp. Điều này hoàn toàn khác với khái niệm “ tư pháp” để chỉ
đến hệ thống các cơ quan toà án và các hoạt động liên quan đến xét xử, tranh
tụng tại toà án. Thanh tra Tư pháp được tổ chức và hoạt động thuộc lĩnh vực
chuyên ngành Tư pháp. Thanh tra Tư pháp cũng có nhiệm vụ, quyền hạn
chung của các cơ quan thanh tra Nhà nước, bên cạnh đó có nhiệm vụ, quyền
hạn và đặc thù riêng của nganh Tư pháp. Nghị định số 74/2007/NĐ – CP ngày
01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ đã quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ
chức hoạt động của thanh tra Tư pháp trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn
của thanh tra Bộ Tư pháp, nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra Sở Tư pháp.
Công chức thanh tra xác định rõ vị trí chức danh các ngạch công chức.
Trong tổ chức thanh tra có chức danh thanh tra viên và các chức danh công
chức hành chính khác. Chức danh thanh tra viên đã được khẳng định trong hệ
thống chức danh công chức nhà nước, đã được xây dựng tiêu chuẩn nghiệp
vụ chung cho từng cấp thanh tra viên.
Theo quy định của Điều 31 Luật Thanh tra năm 2004 thì tiêu chuẩn
chung của Thanh tra viên phải có đủ các tiêu chuẩn sau đây:
a) Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết,
trung thực, công minh, khách quan;
b) Tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và kiến thức pháp
luật; đối với Thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn
Trong các tổ chức Thanh tra nhà nước, các chức danh cán bộ, công
chức khác như chuyên viên, cán sự... áp dụng các tiêu chuẩn nghiệp vụ của
công chức đó. Xét về mặt lý luận và quá trình hình thành và phát triển công
chức thanh tra ở nước ta và một số nước trên thế giới, do tổ chức và hoạt động
thanh tra nên hình thành những nét đặc thù của công chức thanh tra, công
chức thanh tra ngành Tư pháp cũng không nằm ngoài những đặc trưng này.
Cụ thể những đặc trưng đó là: tính quyền lực, tính độc lập, tính tổng hợp
chuyên sâu.
a) Đội ngũ công chức thanh tra ngành Tư pháp mang tính quyền lực
Nói chung công chức nhà nước đều thực thi quyền lực nhà nước trong
phạm vi chức danh được giao. Riêng công chức được giao nhiệm vụ xem xét,
kiểm soát việc thi hành pháp luật của đối tượng quản lý, kết luận đúng sai,
quy trách nhiệm, có biện pháp ngăn ngừa, xử lý, kiến nghị cấp có thẩm quyền
xử lý có vi phạm. Như vậy, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra viên
khác với công chức hành chính khác, nó kiểm soát việc thực thi công vụ của
công chức hành chính và không làm thay chức trách của công chức chuyên môn.
Trong khi thi hành công vụ, công chức thanh tra Tư pháp được nhà nước giao
một số quyền và chịu trách nhiệm cá nhân về sử dụng các quyền đó.
b) Đội ngũ công chức thanh tra Tư pháp được nhà nước đảm bảo các
điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công
vụ
Để thực hiện công vụ, người công chức nói chung và công chức thanh
tra tư pháp nói riêng được nhà nước cung cấp các điều kiện cần thiết để tiến
hành thực thi công vụ, các điều kiện về cơ sở vật chất như: trụ sở, phương
tiện, điều kiện làm việc... Họ được sử dụng các quyền lợi vật chất và tinh thần
như hưởng lương từ ngân sách nhà nước tương xứng với chức trách và công
việc, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp bằng tiền hoặc hiện vật và có lương hưu
khi đủ thời gian cống hiến cho nền công vụ, được khen thưởng khi có công
lao xứng đáng. Sự bảo đảm quyền lợi cho nguồn nhân lực này có tính ổn định,
lâu dài. Trong thực tế là suốt đời nếu như công chức thanh tra Tư pháp không
Nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo
1.1.2.1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp
Khái niệm đào tạo:
Theo từ điển Tiếng Việt năm 2008 trang 369 - Nhà xuất bản Đà Nẵng
“đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất
định”. Do vậy, có thể hiểu rằng, đào tạo là một quá trình truyền thụ kiến thức
mới để cán bộ thông qua đào tạo có văn bằng cao hơn trình độ trước đó. Đào tạo
có quan hệ mật thiết với giáo dục. Giáo dục là sự dạy dỗ đối với con người,
nhằm cung cấp và chuyển giao một khối lượng kiến thức nhất định, các giá trị
văn hoá, chuẩn mực xã hội để làm cho người trở thành thành viên hợp cách của
xã hội. Đào tạo là giáo dục chuyên sâu, là quá trình học tập của con người để có
kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc trong lĩnh vực nhất định, ở một trình
độ nhất định.
Đào tạo có những đặc điểm sau:
- Là quá trình tổ chức học tập có hệ thống. Đào tạo được tổ chức theo một
quy trình cụ thể, với những bước đi, thời gian thích hợp, có nội dung, chương
trình đào tạo và yêu cầu đặt ra đối với giảng viên, học viên theo từng giai đoạn,
được đánh giá qua các bài giảng, sự tiếp thu, các bài kiểm tra, thi tốt nghiệp... các
yếu tố trong quá trình đào tạo nói trên tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một chỉnh
thể thống nhất. Tính thống nhất là đặc điểm không thể thiếu được của đào tạo;
- Tạo sự biến đổi về chất sau quá trình học tập. Đào tạo cán bộ, công chức
không những giúp cho cán bộ, công chức phát triển năng lực đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ đặt ra mà còn trang bị những phương pháp, kỹ năng tạo nền móng cho
cán bộ, công chức tiếp thu những kiến thức mới, trí tuệ nhân loại, đáp ứng yêu
cầu ngày càng tăng của xã hội. Một cách cụ thể hơn, đào tạo được xem như một
quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn
nhất định” [41, tr.29].
Khái niệm bồi dưỡng:
Bồi dưỡng theo từ điển tiếng Việt năm 2008 trang 107 “Bồi dưỡng là tăng
thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Như vậy, bồi dưỡng là quá trình làm tăng thêm
trong một hoạt động hay trong trong một loạt các hoạt động nào đó.
Như vậy đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người
ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường
năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người,
là cán bộ, công chức làm việc trong tổ chức. Với quan niệm như vậy thì đào tạo,
bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp nhằm hướng tới các mục tiêu sau:
- Phát triển năng lực công chức và nâng cao khả năng làm việc thực tiễn
của họ;
- Giúp công chức phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực
trong tương lai của tổ chức.
1.1.2.2. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp
Là những dự kiến về kết quả của quá trình đào tạo trong một thời gian
nhất định. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng cho
quá trình hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng phụ
thuộc vào mục tiêu. Theo Quyết định 40/2006/QĐ - TTg ngày 15/02/2006 về
phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006 –
2010, mục tiêu là: trang bị, nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, điều hành
và thực thi công vụ cho đội ngũ công chức hành chính nhằm xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi
hành công vụ, tận tụy phục vụ đất nước và phục vụ nhân dân. Đó là mục tiêu
chung của Đảng và Nhà nước đã đề ra đối với công chức nói chung. Tuy
nhiên, do đặc thù của Thanh tra Tư pháp ngoài việc tuân thủ mục tiêu chung
còn có mục tiêu đào tạo riêng căn cứ vào những tiêu chí sau:
- Thường xuyên chú trọng nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất cho
cán bộ, công chức thanh tra viên để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, trung
thành với nhà nước xã hội chủ nghĩa, tận tâm phục vụ nhân dân, bảo vệ lợi ích
chính đáng của nhân dân, lợi ích quốc gia.
- Phấn đấu đến năm 2015, 100% công chức thanh tra ngành Tư pháp
được trang bị kỹ năng nghiệp vụ theo yêu cầu công vụ và có khả năng hoàn
thành có chất lượng nhiệm vụ được giao; trang bị kiến thức về văn hoá công
của Bộ Tư pháp
Dó đó, việc đặt ra mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là cơ sở cho việc đặt ra
các nguyên tắc, phạm trù, nội dung, phương tiện của quá trình đào tạo, bồi
dưỡng hướng tới tương lai. Việc xác định không chính xác hay phiến diện, sai
lầm về mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đều ảnh hưởng, tác động tới chất lượng
tốt hay xấu của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp.
1.1.2.3. Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh
tra ngành Tư pháp
Nội dung đào tạo là một yếu tố quan trọng của công tác đào tạo, bồi
dưỡng trên cơ sở mục tiêu và đồng thời xuất phát từ nhu cầu đặc điểm của đối
tượng. Xác định, phân loại đối tượng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức thanh tra Tư pháp là một việc làm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng. Nó sẽ khắc
phục tình trạng bồi dưỡng tràn lan, làm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ phù hợp với địa chỉ cần sử dụng. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, đặc
điểm tình hình của ngành. Kiến thức cần đào tạo bồi dưỡng không phải là
những nội dung đã được đào tạo đối với công chức khi được tuyển dụng. Do
đó phạm vi nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra thanh tra ngành
Tư pháp nói riêng phải có quan điểm chung bao gồm: