LUẬN VĂN: Đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra
ngành Tư pháp theo yêu cầu của Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ thanh tra là tai mắt của quần chúng” [26, tr.269]. Cán bộ thanh
tra của ngành Tư pháp là một bộ phận quan trọng của cán bộ Nhà nước ta nói chung.
Trong điều kiện cải cách hành chính, xây dựng một Nhà nước pháp quyền, hướng tới
xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch và từng bước hiện đại hoá thì vai trò đào tạo
đội ngũ công chức thanh tra càng có ý nghĩa quan trọng vì công tác thanh tra gắn liền với
công tác quản lý nhà nước.
Đội ngũ cán bộ thanh tra ngành Tư pháp được hình thành từ khi Bộ Tư pháp được tái
lập năm 1982, cùng với sự nghiệp cách mạng của đất nước đội ngũ cán bộ thanh tra ngành
Tư pháp đã làm tốt nhiệm vụ của mình. Song do nhiều nguyên nhân: đội ngũ cán bộ còn
thiếu; pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này chưa cụ thể, thống nhất; nhận thức về cán bộ
ngành thanh tra còn thiếu nhất quán; bản thân cán bộ ngành thanh tra có những đồng chí
còn non kém về nghiệp vụ, đạo đức, vì thế còn nhiều hạn chế trong công việc của mình.Vì
vậy cần xây dựng được đội ngũ cán bộ thanh tra ngành Tư pháp đủ về số lượng và chất
lượng; cần có cơ chế để bảo đảm cho đội ngũ cán bộ đó hoạt động có hiệu quả, hiệu lực.
Là một cán bộ thanh tra ngành Tư pháp, bản thân tôi hiểu rất rõ tầm quan trọng của
chức năng, nhiệm vụ của ngành mình. Thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua nhiều
kênh thông tin, tôi thấy được những điểm mạnh, yếu của ngành. Để ngành Tư pháp
ngày càng phát triển tôi chọn đề tài: “Đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành
Tư pháp theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” làm luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ ngành luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã coi cán bộ là một vấn đề chiến lược, V.I.Lênin viết: Trong
lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo
được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ
năng lực tổ chức và lãnh đạo phong trào. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tác phẩm: sửa
đổi lề lối làm việc, Bác viết: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “cán bộ tốt thì mọi
công việc mới tốt” và còn nhiều những bài viết, nói chuyện của Bác về lĩnh vực cán bộ
Đây là những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về

điểm và giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp theo yêu cầu
của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Phân tích đặc điểm, vai trò, nhiệm vụ của công chức thanh tra ngành Tư pháp.
- Phân tích thực trạng năng lực, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra
Tư pháp trên toàn quốc; đưa ra những ưu điểm, khuyết điểm, từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức
ngành thanh tra trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
tình hình đổi mới của đất nước ta hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Lý luận về đào tạo công chức đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, nên luận
văn chỉ tập trung nghiên cứu, luận giải cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng công tác đào
tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp trên toàn quốc từ năm 1982 tới nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức nói
chung và công tác thanh tra nói riêng trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng và triết
học duy vật lịch sử. Bên cạnh việc sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn
5. Những đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận văn.
- Làm rõ một số quan điểm về đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra của ngành Tư
pháp.

1.1.1.1. Khái niệm công chức và công chức thanh tra ngành Tư pháp
Công chức là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc vào đặc
điểm của mỗi quốc gia. Với những giai đoạn lịch sử nhất định thuật ngữ công chức cũng
mang những nội dung khác nhau. Theo kinh nhiệm của các quốc gia đã thực hiện chế
độ công chức, thì công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng và bổ
nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương
hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, được xếp vào một ngạch và hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước.
Theo Luật Công chức Cộng hoà Liên bang Đức năm 1977 quy định: các công chức
Cộng hoà Liên bang Đức đều là những nhân viên làm việc trong các cơ quan nhà nước,
trong các cơ quan, tổ chức văn hoá, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia
gồm nhân viên các tổ chức công, nhân viên công tác trong các xí nghiệp nhà nước, các công
chức làm việc trong các cơ quan Chính phủ, nhân viên lao động công, giáo viên đại học, giáo
viên trung học hay tiểu học, bác sĩ hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe lửa [2].
Theo Điều lệ tạm thời về công chức nhà nước của nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa công bố ngày 14/8/1993, có hiệu lực kể từ ngày 1/10/1993, công chức nhà nước bao
gồm công chức lãnh đạo và không lãnh đạo. Để trở thành công chức mọi người đều phải
thông qua một chế độ tuyển dụng hết sức nghiêm ngặt.
Chức danh công chức không lãnh đạo gồm: Cán sự, chuyên viên, chuyên viên tổ
trưởng, chuyên viên tổ phó, trợ lý chuyên viên nghiên cứu, chuyên viên nghiên cứu, trợ lý
chuyên viên thanh tra, chuyên viên thanh tra.
Chức danh công chức lãnh đạo gồm: Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, các thành viên quốc vụ viện; chức trưởng, phó cấp bộ, cấp tỉnh, chức trưởng phó
cấp vụ, cấp sở; Trưởng, phó phòng (trong các vụ, sở, huyện); Tổ trưởng, tổ phó; Trưởng,
phó cấp xã [40, tr.150].
Ở Pháp công chức gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong
các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do
nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa phương nhưng không tính các công chức

- Công chức là những người giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan của Chính
Phủ, ở trong nước hay ngoài nước.
- Công chức được xếp vào ngạch nhất định và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Có thể khẳng định rằng quan niệm về công chức trong Sắc lệnh 76/SL có nhiều yếu
tố hợp lý, phù hợp với quan niệm công chức của nhiều nước trên thế giới: muốn trở thành
công chức nhà nước thì phải qua thi tuyển; công chức là người làm việc thường xuyên
trong một công sở và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Do hoàn cảnh lịch sử nên Quy chế công chức này được thực hiện không lâu.
Nhưng các quy định của Quy chế vẫn là khuôn mẫu về sự điều chỉnh của pháp luật là cơ
sở pháp lý bảo đảm cho việc xây dựng một đội ngũ công chức chính quy, hiện đại, mà
ngày nay chúng ta cần nghiên cứu vận dụng trong điều kiện mới, điều kiện cải cách nền
hành chính nhà nước. Những năm đầu thập kỷ 90, khái niệm công chức được xác định lại
theo Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991, tại Điều 1 quy định như sau: “Là công dân
Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở
của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào
một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp”. Hiện nay, chúng ta thường dùng
Cán bộ và Công chức để chỉ những người làm việc trong các cơ quan Nhà nước, hưởng
lương từ ngân sách Nhà nước.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII và Nghị quyết Hội nghị đại biểu
toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, từ giữa năm 1993 công việc xây dựng dự án Pháp lệnh
cán bộ công chức được tiến hành khẩn trương. Một trong những nội dung khó khăn và phức
tạp nhất là xác định phạm vi khái niệm công chức Việt Nam gồm những ai, họ phải hội tụ đủ
những tiêu chí nào.
Khi cho ý kiến chỉ đạo về dự án Pháp lệnh Công chức do Ban cán sự Đảng Chính
phủ trình Bộ Chính trị ngày 25 tháng 8 năm 1995, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chỉ
rõ: Ở nước ta, sự hình thành đội ngũ cán bộ, viên chức có đặc điểm khác các
nước. Cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước, Đảng và đoàn thể là một

việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp;
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy;
người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi
chung là cấp xã);
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã.
2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và h khoản 1
điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công chức quy định
tại điểm d khoản 1 điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các
nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật [42].
Như vậy, Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức chưa đưa ra được căn cứ để phân
biệt được rõ đâu là công chức và đâu là cán bộ. Mặt khác, thuật ngữ "cán bộ" vốn có nội
hàm rất rộng, không xác định theo ý nghĩa thông dụng từ ngôn từ tiếng Việt: Mọi người
làm việc công, hoặc người có thẩm quyền, hoặc người lãnh đạo ở một cương vị cao, thấp
bất kỳ, không chỉ trong bộ máy nhà nước, mà cả trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức xã hội khác đều có thể được gọi là "cán bộ". Tuy nhiên, quy định trên
cũng là cơ sở pháp lý quan trọng tách viên chức sự nghiệp với công chức hành chính,
nhưng dường như coi công chức bao hàm cả viên chức (xem khoản 2).
Trên cơ sở quy định tại Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức, cũng như suy ra từ
quan niệm về viên chức trước đây, thì cán bộ, công chức, viên chức có ba đặc điểm chung:
là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Điều 1 Pháp
lệnh cũng chỉ rõ mỗi cán bộ, công chức, viên chức có phương thức riêng để được vào làm
việc trong cơ quan, tổ chức nhà nước và xã hội.
Căn cứ Pháp lệnh năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh cán bộ, công
chức năm 1998, ngày 10/10/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2003/NĐ-CP về
tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước. Theo đó,
Điều 2 của Nghị định quy định về công chức như sau:


tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, những người giữ các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn.
Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc
tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước phân loại
công chức cũng theo trình độ đào tạo, vị trí công tác. Điểm mới của Nghị định này còn phân
công chức theo ngạch công chức:
Theo trình độ đào tạo, công chức được phân thành ba loại: 1) Công chức loại A là
người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và
sau đại học; 2) Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào
tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp; 3) Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào
ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp. Theo Thông tư số
09/2004/TT-BNV ngày 19 tháng 2 năm 2004 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị
định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng,
sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, công chức loại A được
hiểu là những người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn giáo
dục đại học và sau đại học bao gồm: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
Theo vị trí công tác, công chức được phân ra làm hai loại: 1) Công chức lãnh đạo,
chỉ huy; 2) Công chức chuyên môn, nghiệp vụ.
Theo ngạch công chức, công chức được phân thành năm loại : 1) Công chức ngạch
chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên; 2) Công chức ngạch chuyên viên chính và tương
đương; 3) Công chức ngạch chuyên viên và tương đương; 4) Công chức ngạch cán sự và
tương đương; 5) Công chức ngạch nhân viên và tương đương.
Việc phân loại công chức theo Nghị định số 117 như đã trình bày, là việc làm có ý
nghĩa thiết thực về mặt lý luận và thực tiễn đối với việc cơ cấu, quy hoạch, quản lý công
chức trong hoạt động công vụ. Trên cơ sở cách phân loại này để có những tiêu chí khác
nhau trong việc đánh giá, sử dụng, đề bạt, xử lý công chức vi phạm một cách thích hợp,
đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Khái niệm công chức thanh tra ngành Tư pháp:
Để hiểu rõ hơn về công chức thanh tra ngành Tư pháp trước tiên cần hiểu rõ “khái
niệm thanh tra Tư pháp” với ý nghĩa chung nhất. Khái niệm thanh tra Tư pháp cũng được
hiểu trong khái niệm chung về thanh tra. Thanh tra (inspect) xuất phát từ gốc la tinh
(Inspecture) có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên trong vào họat động của một đối tượng nhất định; “ là sự kiểm soát, kiểm kê đối tượng bị thanh tra”.
Theo từ điển tiếng Việt năm 2008 thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ của địa phương,
cơ quan, xí nghiệp. Với nghĩa này, thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ của địa phương,
cơ quan, xí nghiệp. Với nghĩa này, thanh tra là kiểm soát nhằm phát hiện và ngăn chặn
những gì trái với quy định. Thanh tra thường đi kèm với chủ thể nhất định như đoàn thanh
tra, người làm nhiệm vụ thanh tra, thanh tra viên và được đặt trong phạm vi hoạt động nhất
định. Trong các văn bản pháp luật và thực tiễn quản lý của nước ta, cụm từ “ thanh tra
kiểm tra” được sử dụng để chỉ hoạt động không thể thiếu của quản lý nhà nước nhằm
hướng đối tượng quản lý theo mục tiêu nhất định.
Thanh tra Tư pháp vừa được dùng với ý nghĩa là hoạt động thanh tra trong lĩnh vực
quản lý nhà nước của ngành Tư pháp đồng thời vừa là một khái niệm gọi tên các cơ quan
thanh tra trong ngành Tư pháp. Ở Việt Nam, ngành Tư pháp là các cơ quan thuộc thẩm
quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp. Điều này hoàn toàn khác với khái
niệm “ tư pháp” để chỉ đến hệ thống các cơ quan toà án và các hoạt động liên quan đến xét
xử, tranh tụng tại toà án. Thanh tra Tư pháp được tổ chức và hoạt động thuộc lĩnh vực
chuyên ngành Tư pháp. Thanh tra Tư pháp cũng có nhiệm vụ, quyền hạn chung của các cơ
quan thanh tra Nhà nước, bên cạnh đó có nhiệm vụ, quyền hạn và đặc thù riêng của nganh
Tư pháp. Nghị định số 74/2007/NĐ – CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ đã quy
định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức hoạt động của thanh tra Tư pháp trong đó quy định
nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra Bộ Tư pháp, nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra Sở Tư
pháp.
Công chức thanh tra xác định rõ vị trí chức danh các ngạch công chức. Trong tổ chức
thanh tra có chức danh thanh tra viên và các chức danh công chức hành chính khác. Chức

Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra viên Tư pháp có các quyền được sử dụng theo
pháp luật quy định như NĐ số 76/2006/NĐ - CP ngày 02/8/2006, Nghị định Quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp và Nghị định số 74/2007/NĐ - CP ngày 01
tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp.
1.1.1.2. Đặc điểm công chức Thanh tra ngành Tư pháp
Đối với cán bộ công chức thanh tra trước hết phải có đầy đủ tiêu chuẩn chung của
một cán bộ, công chức và tiêu chuẩn riêng do đặc thù của hoạt động thanh tra Tư pháp.
Trong các tổ chức Thanh tra nhà nước, các chức danh cán bộ, công chức khác như
chuyên viên, cán sự áp dụng các tiêu chuẩn nghiệp vụ của công chức đó. Xét về mặt lý luận và quá trình hình thành và phát triển công chức thanh tra ở nước ta và một số nước
trên thế giới, do tổ chức và hoạt động thanh tra nên hình thành những nét đặc thù của công
chức thanh tra, công chức thanh tra ngành Tư pháp cũng không nằm ngoài những đặc
trưng này. Cụ thể những đặc trưng đó là: tính quyền lực, tính độc lập, tính tổng hợp
chuyên sâu.
a) Đội ngũ công chức thanh tra ngành Tư pháp mang tính quyền lực
Nói chung công chức nhà nước đều thực thi quyền lực nhà nước trong phạm vi chức
danh được giao. Riêng công chức được giao nhiệm vụ xem xét, kiểm soát việc thi hành
pháp luật của đối tượng quản lý, kết luận đúng sai, quy trách nhiệm, có biện pháp ngăn
ngừa, xử lý, kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý có vi phạm. Như vậy, chức năng nhiệm vụ,
quyền hạn của thanh tra viên khác với công chức hành chính khác, nó kiểm soát việc thực thi
công vụ của công chức hành chính và không làm thay chức trách của công chức chuyên môn.
Trong khi thi hành công vụ, công chức thanh tra Tư pháp được nhà nước giao một số quyền
và chịu trách nhiệm cá nhân về sử dụng các quyền đó.
b) Đội ngũ công chức thanh tra Tư pháp được nhà nước đảm bảo các điều kiện cần
thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ
Để thực hiện công vụ, người công chức nói chung và công chức thanh tra tư pháp
nói riêng được nhà nước cung cấp các điều kiện cần thiết để tiến hành thực thi công vụ,
các điều kiện về cơ sở vật chất như: trụ sở, phương tiện, điều kiện làm việc Họ được sử

quan trọng khi nghiên cứu đổi mới tổ chức, hoạt động thanh tra cũng như việc nghiên cứu xây
dựng đội ngũ công chức, quy chế công vụ ngành Tư pháp phù hợp yêu cầu đổi mới chung của
Đảng và nhà nước.
1.1.2. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp. Nội dung,
hình thức, phương pháp đào tạo
1.1.2.1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp
Khái niệm đào tạo:
Theo từ điển Tiếng Việt năm 2008 trang 369 - Nhà xuất bản Đà Nẵng “đào tạo là làm
cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”. Do vậy, có thể hiểu rằng,
đào tạo là một quá trình truyền thụ kiến thức mới để cán bộ thông qua đào tạo có văn bằng cao
hơn trình độ trước đó. Đào tạo có quan hệ mật thiết với giáo dục. Giáo dục là sự dạy dỗ đối
với con người, nhằm cung cấp và chuyển giao một khối lượng kiến thức nhất định, các giá trị
văn hoá, chuẩn mực xã hội để làm cho người trở thành thành viên hợp cách của xã hội. Đào tạo là giáo dục chuyên sâu, là quá trình học tập của con người để có kiến thức, kinh nghiệm,
kỹ năng làm việc trong lĩnh vực nhất định, ở một trình độ nhất định.
Đào tạo có những đặc điểm sau:
- Là quá trình tổ chức học tập có hệ thống. Đào tạo được tổ chức theo một quy trình cụ
thể, với những bước đi, thời gian thích hợp, có nội dung, chương trình đào tạo và yêu cầu đặt ra
đối với giảng viên, học viên theo từng giai đoạn, được đánh giá qua các bài giảng, sự tiếp thu, các
bài kiểm tra, thi tốt nghiệp các yếu tố trong quá trình đào tạo nói trên tác động qua lại lẫn nhau
tạo nên một chỉnh thể thống nhất. Tính thống nhất là đặc điểm không thể thiếu được của đào tạo;
- Tạo sự biến đổi về chất sau quá trình học tập. Đào tạo cán bộ, công chức không
những giúp cho cán bộ, công chức phát triển năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra mà
còn trang bị những phương pháp, kỹ năng tạo nền móng cho cán bộ, công chức tiếp thu những
kiến thức mới, trí tuệ nhân loại, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của xã hội. Một cách cụ thể
hơn, đào tạo được xem như một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo
những tiêu chuẩn nhất định” [41, tr.29].
Khái niệm bồi dưỡng:

Như vậy đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập,
nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực, làm gia tăng
giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người, là cán bộ, công chức làm việc trong
tổ chức. Với quan niệm như vậy thì đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp nhằm
hướng tới các mục tiêu sau:
- Phát triển năng lực công chức và nâng cao khả năng làm việc thực tiễn của họ;
- Giúp công chức phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực trong tương lai
của tổ chức.
1.1.2.2. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp
Là những dự kiến về kết quả của quá trình đào tạo trong một thời gian nhất định.
Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng cho quá trình hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng phụ thuộc vào mục tiêu. Theo Quyết định
40/2006/QĐ - TTg ngày 15/02/2006 về phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức giai đoạn 2006 – 2010, mục tiêu là: trang bị, nâng cao kiến thức, năng lực quản
lý, điều hành và thực thi công vụ cho đội ngũ công chức hành chính nhằm xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ,
tận tụy phục vụ đất nước và phục vụ nhân dân. Đó là mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước đã đề ra đối với công chức nói chung. Tuy nhiên, do đặc thù của Thanh tra Tư pháp
ngoài việc tuân thủ mục tiêu chung còn có mục tiêu đào tạo riêng căn cứ vào những tiêu
chí sau:
- Thường xuyên chú trọng nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất cho cán bộ, công
chức thanh tra viên để phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, trung thành với nhà nước xã hội
chủ nghĩa, tận tâm phục vụ nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, lợi ích quốc
gia.
- Phấn đấu đến năm 2015, 100% công chức thanh tra ngành Tư pháp được trang bị
kỹ năng nghiệp vụ theo yêu cầu công vụ và có khả năng hoàn thành có chất lượng nhiệm
vụ được giao; trang bị kiến thức về văn hoá công sở; trách nhiệm và đạo đức công chức
thanh tra cho công chức các ngạch thanh tra.

ảnh hưởng, tác động tới chất lượng tốt hay xấu của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức
thanh tra Tư pháp.
1.1.2.3. Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành
Tư pháp
Nội dung đào tạo là một yếu tố quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng trên cơ
sở mục tiêu và đồng thời xuất phát từ nhu cầu đặc điểm của đối tượng. Xác định, phân loại
đối tượng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thanh tra Tư pháp là một việc làm có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi
dưỡng. Nó sẽ khắc phục tình trạng bồi dưỡng tràn lan, làm cho công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ phù hợp với địa chỉ cần sử dụng. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm tình
hình của ngành. Kiến thức cần đào tạo bồi dưỡng không phải là những nội dung đã được
đào tạo đối với công chức khi được tuyển dụng. Do đó phạm vi nội dung đào tạo, bồi
dưỡng công chức thanh tra thanh tra ngành Tư pháp nói riêng phải có quan điểm chung
bao gồm:
- Về chính trị: đào tạo kiến thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và đường lối chính sách của Đảng. Những nội dung này bảo đảm cho công chức thanh tra
Tư pháp trở thành những người trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội
- Về nghiệp vụ công tác thanh tra: đây là nội dung quan trọng trong chương trình.
Phần này chiếm tỷ lệ lớn, tập trung vào các vấn đề nảy sinh thường xuyên trong công tác
thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo bao gồm những vấn đề sau:
+ Quy trình tổ chức, triển khai một cuộc thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo; + Công tác Trưởng đoàn thanh tra;
+ Quy trình tổ chức cuộc thanh tra trong phạm vi rộng, liên quan đến nhiều ngành,
nhiều địa phương;
+ Thu thập, thẩm tra, xác minh chứng cứ trong thanh tra kinh tế - xã hội;
+ Tiếp dân, nhận các khiếu nại, tố cáo trong giải quyết, tố cáo của công dân;
+ Kỹ thuật xây dựng các văn bản trong quá trình thanh tra (lập các loại biên bản,
yêu cầu kết luận, kiến nghị, quyết định);

+ Pháp lệnh chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành;
+ Có thể giới thiệu thêm một số nét về tố cáo và hoạt động của các tổ chức thanh
tra, chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại hành chính ở một số nước trên thế giới;
+ Giới thiệu Nghị định số 76/2006/NĐ - CP ngày 02/8/200 quy định về “xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp”; Nghị định số 74/2007/NĐ - CP ngày 01 tháng 8
năm 2007 của Chính phủ quy định về “tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp”.
- Về quản lý nhà nước và kinh tế: nội dung bao gồm những vấn đề cơ bản về nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, vai trò và một số chính sách trong quản lý
kinh tế của nhà nước ta; vị trí vai trò của các đoàn thể quần chúng, tổ chức, hoạt động của
hệ thống thanh tra Nhà nước
+ Khái quát cơ cấu tổ chức, đặc điểm, tính chất và nguyên tắc của bộ máy nhà nước
cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
+ Vai trò lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta;
+ Khái quát tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Hội đồng nhân
dân các cấp;
+ Tính chất, chức năng, quyền hạn của Chính phủ và những cơ quan hành chính các
cấp;
+ Khái quát vị trí, vai trò và tổ chức của các đoàn thể quần chúng;
+ Khái quát vai trò của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần;
+ Vai trò của Nhà nước và những vấn đề điều chỉnh bằng pháp luật trong hoạt động
kinh tế, xã hội. Khái quát một số nội dung văn bản pháp luật: luật ngân sách, luật công ty,
luật doanh nghiệp, luật phá sản, luật khuyến khích đầu tư nước ngoài, pháp lệnh kế toán
thống kê và một số vấn đề cụ thể khác trong quản lý.
- Một số vấn đề khác: chương trình cũng chú trọng tâm lý trong công tác thanh tra, kỹ thuật xây dựng văn bản trong công tác thanh tra. Ngoài ra, cần xây dựng những nội
dung về quản lý và hoạt động của các loại hình thanh tra chuyên ngành.
- Về đạo đức của công chức thanh tra ngành Tư pháp Tư pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status