1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước pháp quyền đang trở thành một xu thế khách quan
tất yếu đối với các quốc gia dân chủ trong thế giới hiện đại, với mục tiêu là
xác lập dân chủ, tức là thừa nhận và đảm bảo thực hiện quyền lực của nhân
dân. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước coi việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp đổi mới của đất nước và
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đang ngày càng phát triển cả bề rộng
lẫn bề sâu, từ đó khẳng định vị thế của Việt Nam trên thế giới.
Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì vấn
đề cấp bách đặt ra là đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức. Chính vì
lẽ đó, nhận rõ vai trò của giáo dục, đào tạo, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất
quán với quan điểm “ con người là nguồn lực quý báu nhất, là trung tâm của
sự phát triển. Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách
hàng đầu. Cũng như nhiều nước, chúng ta đã tạo lập khung pháp lý và những
chính sách làm cơ sở cho việc đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ, công
chức. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng mục tiêu đào tạo, xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đang gặp nhiều khó khăn, những
kết quả đạt được chưa tương xứng với những yêu cầu đặt ra. Đảng ta nhận
định: “Công tác tổ chức, cán bộ chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước
trong thời kỳ mới” [13]. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức còn dựa
vào những định kiến chủ quan, chưa thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc,
tệ quan liêu, tham nhũng đang thực sự là vấn đề đáng lo ngại. Do vậy chúng
ta chứ tích cực phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng những cán bộ, công chức có
đức, có tài. Để khắc phục những tồn tại hiện nay và đáp ứng những yêu cầu
của công cuộc đổi mới, vấn đề cấp bách là phải có chiến lược về con người,
2
3
2. Tình hình nghiên cứu
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã coi cán bộ là một vấn đề chiến lược, V.I.Lênin
viết: Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị,
nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị,
những đại biểu tiên phong có đủ năng lực tổ chức và lãnh đạo phong trào. Với
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong tác phẩm: sửa đổi lề lối làm việc, Bác viết: “cán
bộ là cái gốc của mọi công việc”, “cán bộ tốt thì mọi công việc mới tốt” và
còn nhiều những bài viết, nói chuyện của Bác về lĩnh vực cán bộ... Đây là
những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán bộ thanh tra ngành Tư
pháp nói riêng.
Tại nước ta trong những năm gần đây, chủ đề nghiên cứu về đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ công chức đã có nhiều sự quan tâm của nhiều nhà luật học. Ở
mức độ và phạm vi khác nhau, đã có nhiều công trình nghiên cứu được công
bố như: Đào tạo bồi dưỡng công chức hành chính Nhà nước tại thành phố
Hồ Chí Minh theo yêu cầu cải cách nền hành chính ở nước ta hiện nay của
Nguyễn Mạnh Bình, 2001; Cơ sở khoa học của việc đào tạo bồi dưỡng cán
bộ chính quyền cơ sở cấp xã của TS. Trần Quang Minh; Cơ sở lý luận và thực
tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của TS. Thang Văn Phúc, TS.
Nguyễn Minh Phương. Nxb CTQG, 2005; Xây dựng nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân của TS Nguyễn Trọng Thóc Nxb CTQG, 2005; Tư
tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên
hiện nay của TS Hoàng Trang, TS. Phạm Ngọc Anh, Nxb CTQG, 2004; Đổi
mới nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức,
Nghiên cứu lý luận, số 9 của TS. Nguyễn Hữu Thanh, 2000; Cơ sở lý luận và
thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân của TS Trần Hậu Thành, Nxb CTQG, 2005; Những vấn đề pháp
lý cơ bản của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước ở Việt
cứu, nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu, luận giải cơ sở lý luận và đánh giá
5
thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp
trên toàn quốc từ năm 1982 tới nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm,
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về
vấn đề đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và công tác thanh tra nói
riêng trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện
chứng và triết học duy vật lịch sử. Bên cạnh việc sử dụng phương pháp duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khác như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn...
5. Những đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của luận văn.
- Làm rõ một số quan điểm về đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra
của ngành Tư pháp.
- Chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong công tác đào tạo, bồi
dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp trên toàn quốc từ năm 1982 đến nay.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao công tác
đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp trong thời gian.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Với kết quả đạt được, luận văn góp phần làm phong phú thêm lý
luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và đào tạo, bồi
dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp nói riêng, từ đó giúp cho
những công chức đang trực tiếp làm công tác thanh tra trong ngành Tư
pháp và những người làm nhiệm vụ quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng
rút ra nhận thức chung về vấn đề này để nâng cao chất lượng, hiệu quả
lương từ ngân sách Nhà nước.
Theo Luật Công chức Cộng hoà Liên bang Đức năm 1977 quy định:
các công chức Cộng hoà Liên bang Đức đều là những nhân viên làm việc
trong các cơ quan nhà nước, trong các cơ quan, tổ chức văn hoá, nghệ thuật,
giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia gồm nhân viên các tổ chức công,
nhân viên công tác trong các xí nghiệp nhà nước, các công chức làm việc trong
các cơ quan Chính phủ, nhân viên lao động công, giáo viên đại học, giáo viên
trung học hay tiểu học, bác sĩ hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe lửa... [2].
Theo Điều lệ tạm thời về công chức nhà nước của nước Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa công bố ngày 14/8/1993, có hiệu lực kể từ ngày 1/10/1993,
8
công chức nhà nước bao gồm công chức lãnh đạo và không lãnh đạo. Để trở
thành công chức mọi người đều phải thông qua một chế độ tuyển dụng hết
sức nghiêm ngặt.
Chức danh công chức không lãnh đạo gồm: Cán sự, chuyên viên,
chuyên viên tổ trưởng, chuyên viên tổ phó, trợ lý chuyên viên nghiên cứu,
chuyên viên nghiên cứu, trợ lý chuyên viên thanh tra, chuyên viên thanh tra.
Chức danh công chức lãnh đạo gồm: Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó Thủ
tướng Quốc vụ viện, các thành viên quốc vụ viện; chức trưởng, phó cấp bộ,
cấp tỉnh, chức trưởng phó cấp vụ, cấp sở; Trưởng, phó phòng (trong các vụ,
sở, huyện); Tổ trưởng, tổ phó; Trưởng, phó cấp xã [40, tr.150].
Ở Pháp công chức gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm
việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ
chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ương và địa
phương nhưng không tính các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa
phương quản lý [15].
Những thông tin trên cho thấy, phạm vi công chức ở các nước rất khác
nhau. Tuy có những điểm khác nhau như vậy nhưng các nước đều có những
chọn. Tức là một người muốn trở thành công chức thì phải qua thi tuyển.
- Công chức là những người giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan
của Chính Phủ, ở trong nước hay ngoài nước.
- Công chức được xếp vào ngạch nhất định và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước.
Có thể khẳng định rằng quan niệm về công chức trong Sắc lệnh 76/SL
có nhiều yếu tố hợp lý, phù hợp với quan niệm công chức của nhiều nước trên
thế giới: muốn trở thành công chức nhà nước thì phải qua thi tuyển; công
chức là người làm việc thường xuyên trong một công sở và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.
Do hoàn cảnh lịch sử nên Quy chế công chức này được thực hiện
không lâu. Nhưng các quy định của Quy chế vẫn là khuôn mẫu về sự điều
10
chỉnh của pháp luật là cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc xây dựng một đội ngũ
công chức chính quy, hiện đại, mà ngày nay chúng ta cần nghiên cứu vận
dụng trong điều kiện mới, điều kiện cải cách nền hành chính nhà nước.
Những năm đầu thập kỷ 90, khái niệm công chức được xác định lại theo Nghị
định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991, tại Điều 1 quy định như sau: “Là công
dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên
trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước
hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà
nước cấp”. Hiện nay, chúng ta thường dùng Cán bộ và Công chức để chỉ
những người làm việc trong các cơ quan Nhà nước, hưởng lương từ ngân sách
Nhà nước.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII và Nghị quyết Hội
nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, từ giữa năm 1993 công việc
xây dựng dự án Pháp lệnh cán bộ công chức được tiến hành khẩn trương. Một
trong những nội dung khó khăn và phức tạp nhất là xác định phạm vi khái niệm
nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên
chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự
nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội;
đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân.
e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị
thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp;
12
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm
kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân; Bí thư,
Phó bí thư Đảng ủy; người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã,
phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh
chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã.
2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và h
khoản 1 điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ,
công chức quy định tại điểm d khoản 1 điều này được hưởng lương
từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định
của pháp luật [42].
Như vậy, Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức chưa đưa ra được căn
cứ để phân biệt được rõ đâu là công chức và đâu là cán bộ. Mặt khác, thuật
ngữ "cán bộ" vốn có nội hàm rất rộng, không xác định theo ý nghĩa thông
dụng từ ngôn từ tiếng Việt: Mọi người làm việc công, hoặc người có thẩm
nước ngoài;
6. Đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân;
7. Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114/2003/NĐ-CP
ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị
trấn, lần đầu tiên trong pháp luật nước ta có quy định về công chức xã,
phường, thị trấn. Theo quy định của Nghị định này, công chức xã, phường, thị
trấn (gọi chung là cấp xã) được hiểu là những người được tuyển dụng, giao
giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã (gọi
chung là công chức cấp xã), gồm các chức danh sau đây:
1. Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
2. Chỉ huy trưởng quân sự;
14
3. Văn phòng - Thống kê;
4. Địa chính - Xây dựng;
5. Tài chính - Kế toán;
6. Tư pháp - Hộ tịch;
7. Văn hóa - Xã hội.
Đối chiếu Điều 2 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP, khoản 2 Điều 2 Nghị
định số 114/2003/NĐ-CP chúng ta thấy rằng, phạm vi khái niệm công chức quy
định tại Điều 2 Nghị định số 117, khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114 không bao
gồm những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp và bổ sung thêm những
người làm việc trong bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, những người giữ các chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính
phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ
nhân dân và vì nhân dân.
Trên cơ sở những vấn đề đã nêu, kết hợp điểm b, c, e khoản 1 và 2
Điều 1 Pháp lệnh Cán bộ, công chức và khoản 1 Điều 2, Điều 4 Nghị định số
117, khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114, chúng ta có thể rút ra một định nghĩa
đầy đủ hơn về công chức "theo tinh thần" của Pháp lệnh hiện hành như sau:
Công chức Việt Nam là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch hoặc được giao giữ một công vụ (được giao nhiệm vụ thường xuyên),
được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, vị trí công tác
trong các cơ quan, tổ chức của Nhà nước, bộ máy giúp việc của tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn
nghiệp vụ, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Qua định nghĩa trên, chúng ta rút ra ba yếu tố căn bản gắn liền với công
chức nước ta đó là:
- Được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên
trong công sở nhà nước, cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức
16
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân
làm theo nhiệm kỳ, còn công chức có thể thực thi công vụ suốt đời.
- Được xếp vào ngạch của “tính nghề nghiệp” công chức, bậc hưởng
lương do nhà nước quy định. Điều đó thể hiện tính chất ổn định của công
chức. Bởi vì, muốn xếp vào ngạch thì phải có tiêu chuẩn. Đây là yếu tố quan
trọng nhất để xác định công chức và không công chức - yếu tố chỉ phát sinh ở
chế độ có bộ máy công quyền.
- Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, nghĩa là được bao cấp.
Đây là một tiêu chí quan trọng để phân biệt công chức với viên chức. Vì
lương của viên chức chỉ lấy một phần từ ngân sách nhà nước, còn lại là từ
nguồn thu sự nghiệp của đơn vị.
Tóm lại, trên con đường hoàn thiện, phạm vi khái niệm công chức của
tụng tại toà án. Thanh tra Tư pháp được tổ chức và hoạt động thuộc lĩnh vực
chuyên ngành Tư pháp. Thanh tra Tư pháp cũng có nhiệm vụ, quyền hạn
chung của các cơ quan thanh tra Nhà nước, bên cạnh đó có nhiệm vụ, quyền
hạn và đặc thù riêng của nganh Tư pháp. Nghị định số 74/2007/NĐ – CP ngày
01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ đã quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ
chức hoạt động của thanh tra Tư pháp trong đó quy định nhiệm vụ, quyền hạn
của thanh tra Bộ Tư pháp, nhiệm vụ quyền hạn của thanh tra Sở Tư pháp.
Công chức thanh tra xác định rõ vị trí chức danh các ngạch công chức.
Trong tổ chức thanh tra có chức danh thanh tra viên và các chức danh công
chức hành chính khác. Chức danh thanh tra viên đã được khẳng định trong hệ
thống chức danh công chức nhà nước, đã được xây dựng tiêu chuẩn nghiệp
vụ chung cho từng cấp thanh tra viên.
Theo quy định của Điều 31 Luật Thanh tra năm 2004 thì tiêu chuẩn
chung của Thanh tra viên phải có đủ các tiêu chuẩn sau đây:
a) Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết,
trung thực, công minh, khách quan;
18
b) Tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và kiến thức pháp
luật; đối với Thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn
về chuyên ngành đó;
c) Có nghiệp vụ thanh tra;
d) Có ít nhất hai năm làm công tác thanh tra đối với người mới được
tuyển dụng vào ngành thanh tra (không kể thời gian tập sự); nếu là cán bộ,
công chức công tác ở cơ quan, tổ chức khác chuyển sang cơ quan thanh tra
nhà nước thì phải có ít nhất một năm làm công tác thanh tra.
Thanh tra viên Tư pháp ngoài việc tuân thủ các quy định chung theo
tiêu chuẩn của luật Thanh tra còn có tiêu chuẩn riêng được quy định theo
chức thanh tra ngành Tư pháp cũng không nằm ngoài những đặc trưng này.
Cụ thể những đặc trưng đó là: tính quyền lực, tính độc lập, tính tổng hợp
chuyên sâu.
a) Đội ngũ công chức thanh tra ngành Tư pháp mang tính quyền lực
Nói chung công chức nhà nước đều thực thi quyền lực nhà nước trong
phạm vi chức danh được giao. Riêng công chức được giao nhiệm vụ xem xét,
kiểm soát việc thi hành pháp luật của đối tượng quản lý, kết luận đúng sai,
quy trách nhiệm, có biện pháp ngăn ngừa, xử lý, kiến nghị cấp có thẩm quyền
xử lý có vi phạm. Như vậy, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra viên
khác với công chức hành chính khác, nó kiểm soát việc thực thi công vụ của
công chức hành chính và không làm thay chức trách của công chức chuyên môn.
Trong khi thi hành công vụ, công chức thanh tra Tư pháp được nhà nước giao
một số quyền và chịu trách nhiệm cá nhân về sử dụng các quyền đó.
b) Đội ngũ công chức thanh tra Tư pháp được nhà nước đảm bảo các
điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi
công vụ
Để thực hiện công vụ, người công chức nói chung và công chức thanh
tra tư pháp nói riêng được nhà nước cung cấp các điều kiện cần thiết để tiến
hành thực thi công vụ, các điều kiện về cơ sở vật chất như: trụ sở, phương
tiện, điều kiện làm việc... Họ được sử dụng các quyền lợi vật chất và tinh thần
20
như hưởng lương từ ngân sách nhà nước tương xứng với chức trách và công
việc, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp bằng tiền hoặc hiện vật và có lương hưu
khi đủ thời gian cống hiến cho nền công vụ, được khen thưởng khi có công
lao xứng đáng. Sự bảo đảm quyền lợi cho nguồn nhân lực này có tính ổn định,
lâu dài. Trong thực tế là suốt đời nếu như công chức thanh tra Tư pháp không
vi phạm kỷ luật hoặc bị thải hồi hoặc bị truy tố trước pháp luật.
c) Là lực lượng mang tính độc lập
1.1.2. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp.
Nội dung, hình thức, phương pháp đào tạo
1.1.2.1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp
Khái niệm đào tạo:
Theo từ điển Tiếng Việt năm 2008 trang 369 - Nhà xuất bản Đà Nẵng
“đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất
định”. Do vậy, có thể hiểu rằng, đào tạo là một quá trình truyền thụ kiến thức
mới để cán bộ thông qua đào tạo có văn bằng cao hơn trình độ trước đó. Đào tạo
có quan hệ mật thiết với giáo dục. Giáo dục là sự dạy dỗ đối với con người,
nhằm cung cấp và chuyển giao một khối lượng kiến thức nhất định, các giá trị
văn hoá, chuẩn mực xã hội để làm cho người trở thành thành viên hợp cách của
xã hội. Đào tạo là giáo dục chuyên sâu, là quá trình học tập của con người để có
kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc trong lĩnh vực nhất định, ở một trình
độ nhất định.
Đào tạo có những đặc điểm sau:
- Là quá trình tổ chức học tập có hệ thống. Đào tạo được tổ chức theo một
quy trình cụ thể, với những bước đi, thời gian thích hợp, có nội dung, chương
trình đào tạo và yêu cầu đặt ra đối với giảng viên, học viên theo từng giai đoạn,
được đánh giá qua các bài giảng, sự tiếp thu, các bài kiểm tra, thi tốt nghiệp... các
yếu tố trong quá trình đào tạo nói trên tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một chỉnh
thể thống nhất. Tính thống nhất là đặc điểm không thể thiếu được của đào tạo;
- Tạo sự biến đổi về chất sau quá trình học tập. Đào tạo cán bộ, công chức
22
không những giúp cho cán bộ, công chức phát triển năng lực đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ đặt ra mà còn trang bị những phương pháp, kỹ năng tạo nền móng cho
cán bộ, công chức tiếp thu những kiến thức mới, trí tuệ nhân loại, đáp ứng yêu
cầu ngày càng tăng của xã hội. Một cách cụ thể hơn, đào tạo được xem như một
quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn
khoá hay một vài khoá khác nhau của trường lớp nào đó, mà là cả một quá trình
bồi dưỡng của từng cán bộ, giữa những kiến thức được bổ sung từ cả lý luận và
thực tiễn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải chú ý cả các mặt chính trị và tư cách,
kiến thức và khả năng sáng tạo vận dụng vào thực tiễn.
Đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và công chức thanh tra Tư pháp
nói riêng được xác định là một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến
thức hoặc kỹ năng thông qua việc học tập rèn luyện để làm việc có hiệu quả
trong một hoạt động hay trong trong một loạt các hoạt động nào đó.
Như vậy đào tạo, bồi dưỡng chính là việc tổ chức những cơ hội cho người
ta học tập, nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường
năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản quan trọng nhất là con người,
là cán bộ, công chức làm việc trong tổ chức. Với quan niệm như vậy thì đào tạo,
bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp nhằm hướng tới các mục tiêu sau:
- Phát triển năng lực công chức và nâng cao khả năng làm việc thực tiễn
của họ;
- Giúp công chức phát triển để có thể đáp ứng được nhu cầu nhân lực
trong tương lai của tổ chức.
1.1.2.2. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp
Là những dự kiến về kết quả của quá trình đào tạo trong một thời gian
nhất định. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng có ý nghĩa chỉ đạo, định hướng cho
quá trình hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng phụ
thuộc vào mục tiêu. Theo Quyết định 40/2006/QĐ - TTg ngày 15/02/2006 về
phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006 –
2010, mục tiêu là: trang bị, nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, điều hành
24
và thực thi công vụ cho đội ngũ công chức hành chính nhằm xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi
hành công vụ, tận tụy phục vụ đất nước và phục vụ nhân dân. Đó là mục tiêu
cho công chức thanh tra có khả năng triển khai và thực hiện công tác điều
hành quản lý
Thứ ba, nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng trong quá trình thực
thi pháp luật. Ngày nay, đào tạo, bồi dưỡng không còn được coi như là hoạt
động giáo dục thuần tuý. Mà đào tạo được sử dụng như một công cụ chủ yếu
để thực hiện triển khai trên thực tế cải cách nền hành chính, nhằm đáp ứng
các yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa.
Có thể nói rằng, xác định đúng đắn mục tiêu đào tạo công chức thanh
tra ngành Tư pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng cả lý luận và thực tiễn. Vì có
đặt ra được mục tiêu đúng đắn mới đào tạo ra những công chức thanh tra tinh
thông về chuyên môn, nghiệp vụ, giúp cơ quan lãnh đạo và quản lý vừa kiểm
tra được công tác chấp hành pháp luật của các cơ quan thuộc quyền quản lý
của Bộ Tư pháp
Dó đó, việc đặt ra mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng là cơ sở cho việc đặt ra
các nguyên tắc, phạm trù, nội dung, phương tiện của quá trình đào tạo, bồi
dưỡng hướng tới tương lai. Việc xác định không chính xác hay phiến diện, sai
lầm về mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng đều ảnh hưởng, tác động tới chất lượng
tốt hay xấu của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp.
1.1.2.3. Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh
tra ngành Tư pháp
Nội dung đào tạo là một yếu tố quan trọng của công tác đào tạo, bồi
dưỡng trên cơ sở mục tiêu và đồng thời xuất phát từ nhu cầu đặc điểm của đối
tượng. Xác định, phân loại đối tượng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức thanh tra Tư pháp là một việc làm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng. Nó sẽ khắc