CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC - Pdf 75

2.1 Công chức
2.2 Đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC
Cấu trúc chương II
Sơ đồ 4: Kết cấu chương 2
2.1 Công chức
2.1.1 Khái niệm công chức
Công chức không chỉ là khái niệm ở nước ta mà có rất nhiều quốc gia trên thế giới
sử dụng. Khái niệm này chỉ lực lượng lao động làm việc cho các cơ quan nhà nước. Nhưng
ở mỗi nước do có sự khác nhau về thể chế chính trị, lịch sử hình thành và phát triển nên
công chức mỗi quốc gia là khác nhau, không thống nhất. Mỗi quốc gia nhìn nhận xác định
khái niệm này ở mức độ rộng hẹp khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của nước mình.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được bổ sung và hoàn thiện dần cùng với sự phát
triển của đất nước qua các thời kỳ và phù hợp với xu thế phát triển của thế giới. Ngày 20
tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 76/SL về quy chế công chức trong
đó, công chức “ là những công dân thường xuyên trong cơ quan của Chính Phủ trong hay
ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp do Chính Phủ quy định.”
Quá trình đổi mới nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
đã kéo theo quá trình cải cách hành chính trong các cơ quan nhà nước.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10, Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua Luật công chức ngày 13
tháng 11 năm 2008. Theo đó:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ,
chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công
lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ

huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một môi trường xác định. Nói cách khác
năng lực là khả năng sử dụng các tài sản, tiềm lực của con người như kiến thức, kỹ năng và
các phẩm chất khác để đạt được các mục tiêu cụ thể trong một điều kiện xác định. Thông
thường người ta chi rằng năng lực gồm có các thành tố là kiến thức, kỹ năng và thái độ .
Năng lực của công chức luôn gắn với mục đích tổng thể , với chiến lược phát triển
của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực, điều kiện cụ thể. Năng lực liên quan chặt chẽ đến quá
trình làm việc, phương pháp làm việc hiệu quả và khoa học công nghệ. Yêu cầu năng lực
sẽ thay đổi khi tình hình công việc và nhiệm vụ thay đổi. Năng lực không phải là bằng cấp,
trình độ được đào tạo chính quy. Trong một tổ chức có năng lực tồn tại những cá nhân
chưa có năng lực công tác và ngược lại, có những cá nhân có năng lực công tác tồn tại
trong tổ chức hoạt động kém hiệu quả.
Năng lực chuyên môn
Năng lực chuyên môn được thể hiện trong việc quản lý nhân sự, quản lý công nghệ
thông tin, tư vấn pháp lý, cũng như trong quan hệ với uần chúng, trong quản lý và phân
công lao động. Trong đó cốt lõi của nó là kiểm soát dược mục tiêu công việc và phương
tiện để đạt được mục đích, làm chủ được liến thức và quản lý thực tiễn, thể hiện cụ thể ở:
• Trình độ văn hóa và chuyên môn (thông qua chỉ tiêu bậc học, ngành được đào tạo, hình
thức đào tạo, ngạch, bậc công chức…)
• Kinh nghiệm công tác (thông qua chỉ tiêu thâm niên công tác, vị trí công tác đã kinh qua).
• Kỹ năng (thành thạo nghiệp vụ, biết làm các nghiệp vụ chuyên môn).
Năng lực tổ chức
Năng lực tổ chức bao gồm khả năng động viên và giải quyết các công việc, đó là
khả năng tổ chức và phối hợp các hoạt động của các nhân viên của đồng nghiệp, khả năng
làm việc với con người và đưa tổ chức tới mục tiêu, biết dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức,
chỉ huy, điều hành, phối hợp công việc và kiểm soát công việc. Năng lực này đặc biệt cần
thiết và quan trọng đối với công chức vì vậy nó hay được xem xét khi đề bạt, bổ nhiệm.
Phẩm chất đạo đức.
Đây là một tiêu chuẩn quan trọng đối với công chức, họ phải là người hết lòng trong
công việc, vì sự nghiệp phục vụ nhà nước, là công bộc của nhân dân, có đạo đức tốt, có tư
cách đúng đắn trong thực thi công vụ.

đơn vị hành chính sự nghiệp, và các tổ chức khác, được xếp vào một ngạch hành chính và
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
2.2.2 Quy trình đào tạo bồi dưỡng công chức
Quy trình đào tạo bồi dưỡng (ĐTBD) công chức hành chính gồm 4 giai đoạn: xác
định nhu cầu đào tạo, lập kế hoạch đào tạo, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh
giá công tác đào tạo.
Sơ đồ 5: Quy trình đào tạo bồi dưỡng công chức hành chính
2.2.2.1 Xác định nhu cầu đào tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status