Lời nói đầu
Các thay đổi gần đây trên thế giới đã tạo ra những thách thức mới trong kinh
doanh khiến các doanh nghiệp nhận thức đợc tầm quan trọng của chất lợng. để thu
hút khách hàng, các Công ty cần phải đa chất lợng vào nội dung quản lý. Ngày nay,
hầu hết các khách hàng, đặc biệt là các Công ty lớn đều mong muốn ngời cung ứng
cung cấp những sản phẩm có chất lợng thoả mãn và vợt sự kỳ vọng của họ. Các chính
sách bảo hành hay sẵn sàng đổi lại sản phẩm không đạt yêu cầu từng đợc coi là chuẩn
mực một thời, nay cũng không đáp ứng nhu cầu vì điều kiện này chỉ có nghĩa là chất
lợng không đợc ổn định.
Đối với nớc ta, nhận thức về tầm quan trọng của quản lý chất lợng trong sản xuất
kinh doanh đã đợc nâng lên một cách đáng kể trong thời kỳ đổi mới. Trớc đây, vấn đề
chất lợng chỉ mới đợc coi là quan trọng trong nhận thức chung, đợc thể hiện trong các
văn bản của Đảng và nhà nớc và trong các hoạt động của một vài cơ quan nhà nớc và
những doanh nghiệp có ý thức trách nhiệm cao, còn trong thực tế thì đa số các doanh
nghiệp vẫn lấy chỉ tiêu số lợng là chủ yếu, mục tiêu chất lợng và liên quan với nó là
việc tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu thị trờng bị sao nhãng.
Bớc vào cuộc cạnh tranh với những thành công chật vật, những thất bại cay đắng
trong nền kinh tế thị trờng, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thấy vai trò cực kỳ
quan trọng của chất lợng sản phẩm, bắt đầu thấy đợc sự sống còn của mình phụ thuộc
rất nhiều vào việc mình có nắm bắt đợc nhu cầu thị trờng, của ngời tiêu dùng hay
không và việc liệu mình có cách nào để cải tiến và nâng cao chất lợng sản phẩm.
Từ sự chuyển hớng trong nhận thức, hàng loạt biến đổi quan trọng đã diễn ra trong
thực tiễn sản xuất kinh doanh ở nớc ta trong thập niên vừa qua, thể hiện ở sự đa dạng
phong phú của hàng hóa với chất lợng và hình thức đợc cải tiến đáng kể, bắt đầu lấy
lại đợc sự đồng tình, ủng hộ của ngời tiêu dùng trong nớc, mở rộng đợc diện xuất
khẩu ra nớc ngoài. Có thể nói sự chuyển biến trong nhận thức từ việc coi trọng các
yếu tố số liệu đơn thuần sang việc coi trọng các yếu tố chất lợng trong hoạt động sản
xuất kinh doanh là một chuyển hớng có tính cách mạng và chắc chắn sẽ mang lại
hiệu quả lớn lao về kinh tế cho đất nớc, đảm bảo sự phát triển lành mạnh bền vững.
Đây là nhân tố cơ bản nhất quyết định việc liệu các doanh nghiệp Việt Nam có đủ
khả năng cạnh tranh đợc với hàng hoá nớc ngoài ngay trên thị trờng bản địa không?
Chính vì lý do trên trong quá trình thực tập và nghiên cứu tình hình hoạt động ở
Công ty da giầy Hà Nội tôi đã lựa chọn đề tài:
Những biện pháp để duy trì và phát triển việc áp dụng hệ thống quản lý
chất lợng theo ISO 9002 ở Công ty da giầy Hà Nội
để nhằm góp phần nhỏ bé của mình tìm ra những quan điểm, phơng hớng và biện
pháp để duy trì và phát triển hệ thống quản lý chất lợng theo ISO 9002 của Công ty.
Đề tài gồm có 3 phần chính:
Phần I: những vấn đề lý luận chung về ISO 9000:2000.
Phần II: Thực trạng việc xây dựng và áp dụng HTQLCL ISO 9002 ở Công ty da
giầy Hà Nội.
Phần III: Một số giải pháp nhằm duy trì và phát triển việc áp dụng HTQLCL ISO
9002 ở Công ty da giầy Hà Nội.
Phần I
3
Những vấn đề lý luận chung về ISO 9000:2000
I. Lịch sử phát triển quản lý chất lợng trên thế giới và ở Việt Nam.
1. Lịch sử phát triển quản lý chất lợng trên thế giới trong thế kỷ 20.
Có thể nói những nguyên tắc về kiểm tra đã xuất hiện ở một số nớc từ thời cổ đại,
tuy nhiên các khái niệm hiện đại về hệ thống chất lợng, về quản lý chất lợng thì mới
chỉ xuất hiện trong khoảng 50 năm qua. Nh vậy, sự phát triển của quản lý chất lợng
đã trải qua một quá trình lâu dài trong nhiều thế kỷ, từ những hình thức đơn giản, sơ
khai đến phức tạp, từ thấp tới cao, từ hẹp tới rộng, từ thuần tuý kinh nghiệm tới cách
tiếp cận khoa học, từ những hoạt động có tính chất riêng lẻ cục bộ tới sự phối hợp
toàn diện, tổng thể có tính hệ thống.
Về các giai đoạn phát triển của hệ thống quản lý chất lợng, các chuyên gia chất l-
ợng ở các nớc còn có sự phân chia khác nhau, nhng xu hớng chung thờng có sự trùng
khớp. Về đại thể có thể phân chia sự phát triển của quản lý chất lợng từ những hình
thức hoạt động sơ khai tới trình độ hiện đại ngày nay theo các giai đoạn nh:
- Quản lý chất lợng bằng kiểm tra.
- Quản lý chất lợng bằng kiểm soát
ngày càng nhiều, năng suất lao động tăng gấp nhiều lần so với lao động thủ công, qui
mô sản xuất đợc mở rộng, các ông chủ phải phân quyền cho các đốc công và các tr-
ởng xởng. Những ngời lãnh đạo trung gian này vừa quản lý sản xuất trong những lĩnh
vực thuộc phạm vi anh ta phụ trách, vừa phải trực tiếp kiểm tra các sản phẩm do công
nhân làm ra xem có phù hợp với yêu cầu đề ra hay không?
- Thời kỳ kiểm tra tự phía phòng kiểm tra.
5
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ và rộng lớn của cuộc cách mạng công nghiệp ở
thế kỷ 18, các vấn đề kỹ thuật và các hình thức tổ chức ngày càng phức tạp, làm cho ý
nghĩa của vấn đề chất lợng ngày càng đợc nâng cao. Chức năng quản lý sản xuất trở
thành chức năng riêng biệt, bộ máy quản lý chia ra thành nhiều bộ phận chuyên môn
và hoàn thiện sản xuất, quản lý sức lao động và tổ chức lao động, quản lý công việc
hàng ngày, kiểm tra sản xuất Trong các xí nghiệp bắt đầu hình thành những phòng
kiểm tra kỹ thuật với chức năng phát hiện các khuyết tật của sản phẩm và chỉ đa ra thị
trờng những sản phẩm đạt yêu cầu. Hình thức này đợc phát triển rộng rãi sang cả thế
kỷ 20. Việc chuyên môn hoá chức năng kiểm tra đã mang lại những kết quả tốt hơn
so với các hình thức kiểm tra trớc đó. Tuy nhiên, nó chỉ phát hiện đợc các sai lỗi mà
không ngăn chặn đợc tận gốc rễ các vấn đề, đồng thời nó lại tạo nên tâm lý sai lầm là
trách nhiệm về chất lợng thuộc về phòng kiểm tra.
b. Quản lý chất lợng bằng kiểm soát và đảm bảo.
Điều khiển chất lợng (Kiểm soát chất lợng) và đảm bảo chất lợng là những phơng
pháp của quản lý chất lợng đợc xuất hiện trong nửa đầu của thế kỷ 20 và trở thành
những thành phần quan trọng của quản lý chất lợng hiện đại. Khác với kiểm tra với
chức năng chính là phát hiện những phơng pháp mới này mang tính chất phòng ngừa
theo nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Từ giữa những năm 20 cho tới giữa thế kỷ 20, các hoạt động tiêu chuẩn hoá, điều
khiển chất lợng (Quality Control - QC), và đảm bảo chất lợng (Quality assurance -
QA) đợc phát triển mạnh ở Mỹ với những chuyên gia dẫn đầu về quản lý chất lợng
nh Walter A. Shewhart, Joseph M. Juran, W. Edwards Deming Có thể nói Mỹ là n -
ớc đi đầu trong việc hình thành cơ sở lý thuyết và thực hành về quản lý chất lợng và
Không đạt
Đạt
đợc điều khiển. Mọi hoạt động đảm bảo chất lợng đều phục vụ cho việc tạo dựng lòng
tin vào các kết quả, các lời tuyên bố, cách khẳng định Việc đảm bảo chất l ợng
không chỉ đơn thuần là lời hứa, lợi nói xuông mà phải đợc thể hiện bằng các hành
động trong quá trình và phải đợc chứng minh bằng các hồ sơ, biên bản, chơng trình,
kế hoạch, báo cáo Những hành động và tài liệu đó vừa phục vụ cho điều khiển chất
lợng, vừa phục vụ cho đảm bảo chất lợng. Việc đảm bảo chất lợng đợc áp dụng cho
khâu thiết kế, khâu mua sắm, khâu chế tạo và các khâu khác trong chu kỳ sống của
sản phẩm.
Vào năm 1925, khi A. Quarlis, Walter A. Shewart, Harold F. Dodge và Geoge D.
Edwards cùng hoạt động trong phòng thí nghiệm thì họ sáng tạo ra các phơng pháp
điều khiển chất lợng và đảm bảo chất lợng. Họ là những ngời luôn coi hoạt động
kiểm tra vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, họ đã tạo ra thuật ngữ đảm bảo chất l-
ợng khi đó, đảm bảo chất lợng đợc coi nh một hoạt động bổ sung trong công việc
của ngời thiết kế ở mức độ quan trọng nhất.
Từ năm 1925 đến năm 1941, các phơng pháp điều khiển chất lợng và đảm bảo
chất lợng cùng với việc áp dụng các phơng pháp thống kê đã đợc phát triển ở mức độ
đáng kể ở Mỹ và ở các nớc Phơng Tây. Đại chiến thế giới lần thứ 2 đã tạo ra những
nhu cầu cấp bách về sản xuất hàng loạt các nhu yếu phẩm và vũ khí ở Mỹ. Nhiều
ngành công nghiệp phát triển rất nhanh, thu hút nhiều nhân công lao động. Nhiều ch-
ơng trình đào tạo đợc phát triển phục vụ cho việc đảm bảo chất lợng công việc và sản
phẩm. Điều khiển thống kê chất lợng (SQC) đợc phát triển rộng rãi trong công
nghiệp. Trong thời kỳ này, tiến sĩ W. Edwards Deming (sau này trở thành chuyên gia
hàng đầu về chất lợng trên thế giới) đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc giảng
dạy về SQC tại các trờng, các cơ sở của Bộ nông nghiệp và Bộ Quốc phòng Mỹ. Cũng
trong thời kỳ này, các câu lạc bộ chất lợng, tạp chí về chất lợng, hội điều khiển chất l-
ợng cũng lần lợt ra đời ở Mỹ tạo tiền đề cho tiến trình phát triển quản lý chất lợng ở
trình độ cao hơn, nhanh hơn, rộng khắp hơn trong nửa cuối thế kỷ 20.
c. Quản lý chất lợng cục bộ và tổng hợp.
chóng học tập và rút ra đợc những điều bổ ích nhất đối với mình, họ đã thực hiện một
cách sáng tạo vào điều kiện thực tiễn của đất nớc mình, qua đó đã tạo nên phơng
thức quản lý chất lợng kiểu Nhật, đa ngành công nghiệp Nhật Bản đi lên bằng con đ-
ờng chất lợng, từ một vị trí thấp kém về chất lợng đã vơn lên dẫn đầu thế giới về chất
lợng sản phẩm. Đây là bài học bổ ích cho chúng ta trong việc tiếp thu những thành
tựu tiên tiến của nớc ngoài để đuổi kịp và vợt những ngời đi trớc, nỗ lực học tập và
ứng dụng nhng không dập khuôn một cách máy móc mà phải luôn phân tích, sáng tạo
theo điều kiện, hoàn cảnh của mình để tìm ra đợc con đờng đi thích hợp sao cho có
thể đuổi kịp và hội nhập vào cộng đồng thế giới trong một thời gian tơng đối ngắn.
2. Lịch sử phát triển quản lý chất lợng ở Việt Nam.
Lịch sử phát triển quản lý chất lợng ở Việt Nam gắn liền với tiêu chuẩn hoá, đo l-
ờng và chất lợng, đợc hình thành bởi các giai đoạn
a. Giai đoạn trớc năm 1973.
Đây là giai đoạn mà các hoạt động quản lý chất lợng sản phẩm thờng đợc tiến
hành phân tán trong các Bộ, các ngành, các xí nghiệp. Nhà nơc cha theo dõi hoạt
động quản lý chất lợng nh một lĩnh vực hoạt động đặc thù.
b. Giai đoạn từ năm 1973 cho đến những năm 80.
ở giai đoạn này các hoạt động quản lý chất lợng sản phẩm ở nớc ta đợc tiến hành
theo tinh thần của quyết định 159 TTg về công tác quản lý chất lợng sản phẩm và
hàng hoá do thủ tớng chính phủ ban hành ngày 7/7/1973. Quyết định này là văn bản
pháp qui đầu tiên ở nớc ta đề cập đến vấn đề quản lý chất lợng một cách đồng bộ, có
hệ thống do đó đã tạo điều kiện cho việc chỉ đạo và thực hiện công tác quản lý chất l-
ợng sản phẩm ở nớc ta phù hợp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Thực hiện quyết định 159 TTg đã mang lại những kết quả sau:
- Các hoạt động tiêu chuẩn hoá, đo lờng, kiểm tra chất lợng đợc tăng cờng, phối
hợp với nhau tạo nên một mạng lới từ TW đến địa phơng và các cơ sở. Việc sát
nhập Cục tiêu chuẩn, Cục đo lờng, Cục kiểm tra chất lợng sản phẩm hàng hoá
10
và Viện định chuẩn thành một cơ quan thống nhất cùng với việc hình thành 3
trung tâm kỹ thuật khu vực và các chi cục TC - ĐL CL tại các tỉnh, thành
chất lợng đợc nâng cao hơn trớc.
Tình hình chất lợng sản phẩm ngày càng ổn định và từng bớc đợc nâng cao trong
thập niên 90 chủ yếu là nhở ở chủ trơng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần và mở cửa nền kinh tế nớc ta cùng với sự hăng hái, chủ động thực
hiện quá trình đổi mới kinh tế xã hội trong mọi ngành, mọi cấp từ sau Đại hội Đảng
lần thứ 6 tới nay.
Trong thời kỳ này có những nhân tố mới xuất hiện nh:
- Nhân tố tích cực của ngời lao động đợc phát huy mạnh mẽ so với thời kỳ thực
hiện kế hoạch hoá tập trung.
- Ngời sản xuất, ngời lu thông và ngời cung cấp dịch vụ đợc tháo gỡ khỏi những
trói buộc của cơ chế hành chính quan liêu, bao cấp, phát huy đợc quyền tự chủ,
sáng tạo trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
- Vai trò của ngời tiêu dùng ngày càng đợc đề cao và có tiếng nói quyết định
trên thị trờng.
- Cùng với quá trình cải tổ khu vực kinh tế nhà nớc, sự tham gia của các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh vào các hoạt động kinh doanh đã làm cho thị tr-
ờng hàng hoá nớc ta trở nên sôi động, nhộn nhịp và ngày càng phát triển theo
xu thế lành mạnh.
Các nhân tố này đã tạo nên những tiền đề quan trọng để cải thiện tình hình chất l-
ợng sản phẩm ở nớc ta. Tuy nhiên, những nhân tố này sẽ không phát huy đợc tốt nếu
thiết một nhân tố hết sức cơ bản là sự đổi mới chung và đổi mới về quản lý chất lợng
ở cấp nhà nớc cũng nh cấp doanh nghiệp nói riêng.
12
Trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ này, nhiều phơng pháp quản lý chất lợng, hệ
chất lợng đã đợc giới thiệu ở Việt Nam. Trớc khi thống nhất đất nớc, ở Miền Nam đã
có những công ty áp dụng các phơng pháp quản lý chất lợng tổng hợp, trong số gần
300 cơ sở sản xuất của trung ơng và địa phơng đợc mang dấu chất lợng cấp I, và cấp
cao từ năm 1980 đến năm 1991 đã có không ít cơ sở đợc nghe giới thiệu về hệ thống
chế tạo không sai lỗi, hệ thống quản lý quản lý chất lợng tổng hợp Những cơ sở
này ít nhiều có vận dụng những yếu tố thích hợp của hệ này hoặc hệ khác vào điều
chính thức của ISO từ năm 1977. Hoạt động chủ yếu của ISO là chuẩn bị, xây dựng
các tiêu chuẩn quốc tế ở nhiều lĩnh vực và ban hành để áp dụng.
b. ISO 9000 - Khái niệm và sự hình thành.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 là tập hợp, tổng kết và chuẩn hoá định hớng những thành
tựu và kinh nghiệm quản trị chất lợng của nhiều nớc, giúp cho việc quản trị các doanh
nghiệp, quản trị các định chế công ích một cách hiệu quả hơn.
Bộ ISO 9000 đợc hình thành trong một quá trình nh sau:
Năm 1955: Hiệp ớc Bắc Đại Tây Dơng (NATO) đã đa ra các tiêu chuẩn về đảm
bảo chất lợng tàu Apollo của NASA, máy bay Concorde của Anh Mỹ, tàu vợt Đại
Tây Dơng của nữ hoàng Anh Elizabeth.
Năm 1969: Tiêu chuẩn quốc phòng của Anh, Mỹ thừa nhận lẫn nhau về các hệ
thống đảm bảo chất lợng của những ngời thầu phụ thuộc các thành viên của NATO
(AQAP Allied Quality Assurance Procedures).
Năm 1979: Viện tiêu chuẩn Anh ban hành tiêu chuẩn BS 5750, đó là tiêu chuẩn
tiền thân của ISO 9000.
Năm 1987: ISO công bố lần đầu tiên bộ tiêu chuẩn ISO 9000, khuyến khích áp
dụng trong các nớc thành viên và trên toàn thế giới.
14
Năm 1994: ISO rà soát và chỉnh lý bộ ISO 9000, bổ sung thêm một số điều khoản
mới. Ngoài ra còn có tiêu chuẩn về bảo vệ môi trờng ISO 14000.
Năm 2000: Với 23 tiêu chuẩn thì bộ tiêu chuẩn ISO 9000:1994 quá cồng kềnh,
nhiều nội dung thiếu nhất quán gây lúng tong cho ngời sử dụng, hơn nữa nhóm mô
hình đảm bảo chất lợng lệch phía những doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm
cứng nên phải ban hành quá nhiều hớng dẫn để áp dụng cho những lĩnh vực khác,
đồng thời trong 20 yêu cầu của ISO 9001 thì vấn đề cải tiến chất lợng không đợc
nhấn mạnh đúng mức trong khi đó là yếu tố quan trọng trong quản lý chất lợng hiện
đại. Với những lý do trên mà bộ tiêu chuẩn ISO 9000 đã đợc soát xét và ban hành lại
vào ngày 15 tháng 12 năm 2000 với cơ cấu chỉ còn lại 4 tiêu chuẩn.
a. Cơ cấu của bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 đợc xây dựng nhằm trợ giúp các tổ chức thuộc mọi
3.9. Thuật ngữ liên quan đến đánh giá.
3.10. Thuật ngữ liên quan đến đảm bảo chất lợng các quá trình đo lờng.
- ISO 9001:2000: Qui định các yêu cầu đối với một hệ thống quản lý chất lợng
khi một tổ chức cần chứng tỏ năng lực của mình trong việc cung cấp sản phẩm
đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các yêu cầu chế định tơng ứng và
nhằm nâng cao sự thoả mãn của khách hàng. Nó thay thế cho ISO 9001, ISO
9002, ISO 9003:1994.
Nội dung của tiêu chuẩn này gồm:
16
1. Phạm vi.
1.1. Khái quát.
1.2. áp dụng
2. Tiêu chuẩn trích dẫn.
3. Thuật ngữ và các định nghĩa.
4. Hệ thống quản lý chất lợng.
4.1. Các yêu cầu chung.
4.2. Yêu cầu về hệ thống tài liệu.
5. Trách nhiệm của lãnh đạo.
5.1. Cam kết của lãnh đạo.
5.2. Hớng vào khách hàng.
5.3. Chính sách chất lợng.
5.4. Hoạch định.
5.5. Trách nhiệm quyền hạn và trao đổi thông tin.
5.6. Xem xét của lãnh đạo.
6. Quản lý nguồn lực.
6.1. Cung cấp nguồn lực.
6.2. Nguồn nhân lực.
6.3. Cơ sở làm việc.
6.4. Môi trờng làm việc.
7. Chế tạo sản phẩm.
Trách nhiệm quyền hạn và thông tin liên lạc.
Xem xét của lãnh đạo.
6. Nguồn lực.
Hớng dẫn chung.
Con ngời.
Cơ sở hạ tầng.
Môi trờng làm việc.
Thông tin.
Ngời cung ứng và các đối tác.
Nguồn lực tự nhiên.
Nguồn lực tài chính.
7. Thực hiện sản phẩm.
Hớng dẫn chung.
Các quá trình liên quan đến các bên hữu quan.
Thiết kế và triển khai.
Mua hàng.
Các hoạt động tác nghiệp trong sản xuất và dịch vụ.
Kiểm soát các thiết bị đo lờng và giám sát.
8. Đo lờng, phân tích và cải tiến.
Hớng dẫn khái quát.
Đo lờng và giám sát.
19
Kiểm soát sự không phù hợp.
Phân tích dữ liệu.
Cải tiến.
- ISO 19011: Cung cấp hớng dẫn về đánh giá các hệ thống quản lý chất lợng và môi
trờng. Nó thay thế cho tiêu chuẩn ISO 10011:1994.
Nh vậy, 4 tiêu chuẩn trên tạo thành một bộ tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất l-
ợng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông hiểu lẫn nhau trong thơng mại quốc gia và
quốc tế.
thống và có hiệu quả. Các nguyên tắc này bao gồm:
- Nguyên tắc 1: Định hớng vào khách hàng.
Mọi tổ chức đều phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu đợc các
nhu cầu hiện tại và tơng lai của khách hàng, cần đáp ứng các yêu cầu của khách hàng
và cố gắng vợt cao hơn sự mong đợi của họ.
- Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo phải thiết lập đợc sự thống nhất giữa mục đích và phơng hớng của tổ
chức. Một tổ chức có sức mạnh hay không phụ thuộc vào việc họ có tập trung vào
mục đích và có định hớng đúng đắn hay không. Đồng thời, lãnh đạo cần tạo ra và duy
trì môi trờng nội bộ để có thể hoàn toàn lôi cuốn mọi ngời tham gia để đạt đợc các
mục tiêu của tổ chức.
- Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi ngời.
21
Mọi ngời ở tất cả các cấp là yếu tố của một tổ chức và việc huy động họ tham gia
đầy đủ sẽ giúp cho việc sử dụng đợc năng lực và khả năng sáng tạo của họ để đạt đợc
mục tiêu chung vì lợi ích của tổ chức.
- Nguyên tắc 4: Cách tiếp cận theo quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt đợc một cách hiệu quả khi các nguồn lực và các hoạt
động có liên quan đợc quản lý nh một quá trình và các quá trình đợc ghép lại theo
một dòng chảy xuyên suốt trong tổ chức.
- Nguyên tắc 5: Cách tiếp cận theo hệ thống đối với quản lý.
Việc xác định, hiểu và và quản lý các quá trình có liên quan lẫn nhau nh một hệ
thống sẽ đem lại hiệu lực và hiệu quả của tổ chức nhằm đạt đợc các mục tiêu đề ra.
- Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục.
Cải tiến liên tục các kết quả thực hiện phải là mục tiêu thờng trực của tổ chức.
- Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện.
Mọi quyết định có hiệu lực đợc dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin, tránh
dựa vào cảm tính, suy diễn.
- Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với ngời cung ứng.
Tổ chức và ngời cung ứng phụ thuộc lẫn nhau cho nên mối quan hệ cùng có lợi sẽ
Đối với điều kiện ngành nghề thì đây là điều kiện không ảnh hởng lớn tới mức độ
thuận lợi hay khó khăn khi các doanh nghiệp áp dụng ISO 9000 vì bộ tiêu chuẩn này
đợc ban hành và áp dụng cho tất cả các lĩnh vực: sản xuất, dịch vụ hay ngành nghề
chuyên môn.
c. Doanh số.
23
Điều kiện này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có doanh số đủ lớn vì nếu doanh
nghiệp có doanh số nhỏ quá thì lợi ích thu đợc khó bù đắp nổi chi phí áp dụng và
đánh giá phù hợp ISO 9001:2000.
d. Khai thác kinh doanh.
Các doanh nghiệp kinh doanh kém và thua lỗ rất cần đầu t cho áp dụng ISO 9000
để chấn chỉnh, cải tiến, nhng có một vấn đề về tâm lý khó vợt qua là đã kinh doanh
không hiệu quả thì họ không muốn chi phí cho việc áp dụng ISO 9000, nhất là khi lợi
ích đến chậm và cha thấy rõ, cha kể đến không khí buồn nản ở doanh nghiệp đang
thua lỗ. Trong khi đó, các doanh nghiệp đang kinh doanh tốt thì lại càng muốn củng
cố, tạo dựng lợi thế cạnh tranh cũng nh dễ chấp nhận đầu t cho việc áp dụng.
2. Các điều kiện về công nghệ.
a. Thiết bị sản xuất.
Các doanh nghiệp không nên đầu t thiết bị lạc hậu, không phù hợp để phải gặp
khó khăn trong khai thác, sử dụng mà nên đầu t thiết bị mới, đồng bộ thì dễ tạo nên
chất lợng ổn định theo tinh thần trong ISO 9000. Song, đối với các doanh nghiệp còn
khó khăn thì các thiết bị cũ nhng cha lạc hậu cũng vẫn có thể áp dụng đợc ISO 9000.
b. Thiết bị kiểm tra.
Các thiết bị kiểm tra càng đầy đủ, đồng thời là các thiết bị mới, hiện đại, dễ sử
dụng và bền thì càng thuận lợi cho việc áp dụng ISO 9000.
c. Quản lý kỹ thuật.
Chúng ta hiểu rằng, quản lý kỹ thuật là quản lý công nghệ, thiết bị, thao tác, vệ
sinh công nghiệp, tiêu chuẩn đo lờng. Do đó, các doanh nghiệp có quản lý kỹ thuật
tốt thì dễ áp dụng ISO 9000 hơn các doanh nghiệp có quản lý kỹ thuật kém.
d. Quản lý chất lợng sản phẩm.