Asian Development Bank
Electricity of Vietnam
TA 4625-VIE
Song Bung 4 Hydropower Project
Phase II
Environmental Impact Assessment
(EIA) January 2007
Final Report
ASIAN DEVELOPMENT BANK
ELECTRICITY OF VIETNAM
TA 4625-VIE
Song Bung 4 Hydropower Project, Phase II
Tài liệu này được dịch từ nguyên bản tiếng Anh nhằm phục vụ đông đảo bạn đọc. Trong khi
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã cố gắng xác định tính chính xác của bản dịch, tiếng
Anh vẫn là ngôn ngữ chính của ADB và chỉ có nguyên bản tiếng Anh của tài lieụe này mới
đáng tin cậy (nghĩa là chỉ nguyên bản tiếng Anh được chính thức công nhận và có hiệu lực).
Bất cứ trích dẫn nào cần phải dựa vào nguyên bản tiếng Anh của tài liệu này.
This document has been translated from English in order to reach a wider audience. While
the Asian Development Bank (ADB) has made efforts to verify the accuracy of the
translation, English is the working language of ADB and the English original of this
document is the only authentic (that is, official and authoritative) text. Any citations must
refer to the English original of this document.
1 Giới thiệu
1.1 Giới thiệu về báo cáo ĐTM của Dự án
Dự án thủy điện Sông Bung 4 nằm ở phía thượng nguồn sông Vũ Gia thuộc huyện Nam Giang, tỉnh
Quảng Nam, thuộc miền Trung Việt Nam. Sông chảy xuôi ra biển và gặp biển tại Đà Nẵng. Vị trí của
Dự án được mô tả trên bản đồ trong Hình 1.1. Dự án gồm có đập, hồ chứa và nhà máy thủy điện 156
MW. Lưu vực của Dự án rộng 1,477 km
2
. Phía nam của lưu vực là một phần của khu bảo tồn thiên
nhiên (BTTN) Sông Thanh, một phần nhỏ của khu BTTN này bị trực tiếp ảnh hưởng bởi hồ chứa. Dự
án nằm trong khu vực hành lang bảo tồn sinh học được được xác nhận bởi Hội nghị thượng đỉnh các
nước tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng năm 2005.
Chuyên gia về đường giao thông Trần Thanh Tuấn
Kỹ sư mỏ Phạm Thái Nam
Chuyên gia về GIS Nguyễn H. Quyên 1.2 Mục tiêu
Mục tiêu chính của Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị Dự án (PPTA) (4625-VIE) này là chuẩn bị để ADB tài trợ
tài chính cho dự án thủy điện Sông Bung 4 tại tỉnh Quảng Nam, thuộc miền Trung Việt Nam. Mục tiêu
của Báo cáo ĐTM theo như Điều kiện tham chiếu của PPTA là xem xét lại báo cáo ĐTM do Công ty
tư vấn xây dựng điện 3 lập cho Dự án trong giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi (ECC3 2005A),
và chuẩn bị, c
ập nhật báo cáo ĐTM tuân thủ Chính sách môi trường và Hướng dẫn về đánh giá tác
động môi trường của ADB cũng như phù hợp với các yêu cầu của Việt Nam. .
1.3 Phạm vi công việc và những hạn chế
Phạm vi công việc của Điều kiện tham chiếm (TOR) được ghi đầy đủ trong PPTA, những vấn đề chi
tiết đã được phản ánh chi tiết trong Báo cáo ban đầu của Dự án này.
Những thành phần chính của Báo cáo này bao gồm:
• Soát xét báo cáo EIA hiện có;
• Soát xét những báo cáo và các tài liệu liên quan;
• Gặp gỡ các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu để thu thập số liệu và thực hiện vịêc
soát xét. Danh mục những c
ơ quan, cá nhân đã gặp trong quá trình soát xét được trình bày tại Phụ
lục xx;
• Thực hiện những nghiên cứu cần thiết để bổ sung cho các nghiên cứu trước đây để thỏa mãn
những yêu cầu đặc biệt của TOR;
• Tổ chức tham vấn cộng đồng và các hoạt động công bố thông tin cho khu vực bị ảnh hưởng bởi
Dự án;
• Chuẩn bị các báo cáo kỹ thuật, Báo cáo ĐTM chính và Báo cáo ĐTM tóm tắt phù hợp với các yêu
cầu của ADB.
Khu vực dự án thủy điện Sông Bung 4 được chia thành những khu vực nghiên cứu riêng biệt để có
thuận tiện cho việc đánh giá môi trường, được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2006. Phần thực
vật được thực hiện bằng cách quan sát tại hiện trường, kiểm kê các giống, loài theo các ô lấy mẫu, theo
các trục lấy mẫu, phỏng vấn nhân dân địa phương và dựa vào những tài liệu đã có trước
đó. Những
loài hoang dã được thống kê trong những chuyến khảo sát hiện trường, theo các lối đi và những dấu
vết trong rừng, phỏng vấn nhân dân địa phương, những người có trách nhiệm chủ chốt trong việc cung
cấp thông tin tại các bản, và dựa vào những nghiên cứu trước đó. Ngoài ra việc khảo cứu những phần
xương (chủ yếu là sừng và xương sọ động vật) còn lưu giữ lạ
i tại các hộ hoặc đang được bán trên thị
trường, trong các quán ăn cũng được thực hiện. Nhóm công tác cũng gặp gỡ các cán bộ làm trong bộ
máy chính quyền tỉnh, huyện để phỏng vấn. Phần lưu vực cũng được nghiên cứu và cân nhắc nhiều do
chúng đóng vai trò là các khu cư trú của động vật di chuyển trên toàn khu vực cảnh quan cũng như
chúng cung cấp những nhận định chung nhất về hệ th
ống rừng tồn tại trong khu vực.
Khai thác mỏ
Những nguồn tài nguyên khoáng sản có tiềm năng khai thác đã được nghiên cứu trong toàn bộ lưu vực
của Dự án thủy điện Sông Bung 4. Các họat động khai thác mỏ hiện nay, xác định các khu vực đã khai
thác xong cũng được nghiên cứu trong luôn khổ báo cáo ĐTM. Các báo cáo về vấn đề địa chất, các
bản đồ đã được soát xét cùng với các thông tin về cơ sở dữ liệu địa chất đã được xem xét để
đưa ra
được bức tranh tổng thể về các nguồn tài nguyên khoáng sản trong khu vực. Nhóm chuyên gia tư vấn
đã tiến hành gặp gỡ các cán bộ của chính quyền tỉnh, chính quyền huyện, phỏng vấn với đại diện cơ
quan hành chính địa phương, dân bản và các thợ đào vàng. Nhóm tư vấn đã tiến hành khảo sát, thăm
hiện trường tất cả các vị trí đang khai thác mỏ cũng như thăm một số
các khu vực có tiềm năng khai
thác khác. Thông tin thu thập được qua quá trình khảo sát, việc soát xét các số liệu hiện cứ, các bản
đồ, các báo cáo đều được kiểm tra, kiểm chứng tại thực địa.
Hướng dẫn về đường giao thông
Ngoài việc tham vấn ý kiến dân bản, các hộ gia đình, Nhóm chuyên gia về xã hội học còn thực hiện
việc phỏng vấn một số đại diện của đồng bào bị ảnh hưởng và tổ chức 3 cuộc hội thảo để tham vấn
các bên liên quan về nội dung của Báo cáo đánh giá tác động môi trường. Hội thảo thứ nhất thực hiện
trước khi triển khai các nghiên cứu thực địa, hội th
ảo thứ hai tổ chức sau khi đã thực hiện gần xong hết
các khảo sát thực địa và hội thảo thứ ba tổ chức sau khi nghiên cứu hoàn tất và thông báo cho các đại
biểu biết về những tác động xác định được và các biện pháp giảm thiểu khuyến nghị thực hiện.
1.5 Tổng quan vấn đề
1.5.1 Việt nam
Nước Việt Nam có chiều dài 1.600 km chạy dọc theo bờ phía đông của Bán đảo Đông dương với diện
tích gần 330.000 km
2
. Dân số của Việt Nam trong năm 2001 được ước tính khoảng gần 80 triệu dân, là
nước có dân số đông thứ 13 trên thế giới. Khoảng 80% dân số Việt Nam là người dân tộc Kinh, số còn
lại gồm khoảng 50 dân tộc thiểu số với ngôn ngữ khác nhau. Việt Nam là nước nông nghiệp với 80%
dân số sống ở vùng nông thôn, hoàn toàn phụ thuộc vào sản phẩm trồng trọt, cấy hái của họ. Tổng thu
nhập trên một
đầu người của Việt Nam đang nàgy càng được tăng trưởng ở mức xấp xỉ 500 USD/
năm, tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 6%.
Ba phần tư diện tích của Việt Nam là đất đồi, núi, tài nguyên nước của Việt Nam rất nhiều ước tính
khoảng 880 tỷ m
3
. Việt nam có khí hậu nhiệt đới, nóng, ẩm và mưa nhiều do vậy chúng ảnh hưởng rất
nhiều đến khối lượng và sự phân bổ nước. Lượng mưa phân bố rất không đều, thường gây ra nạn lũ lụt
hàng năm. Lượng mưa trung bình năm đạt 2.000 mm. Lượng mưa hầu hết tập trung vào tháng 5 đến
tháng 11, trong thời gian này lưu lượng dòng chảy năm đạt từ 70% đến 75%. Địa hình đồi núi và tài
nguyên n
ước dồi dào là tiềm năng lớn để phát triển thủy điện, đáp ứng nhu cầu điện năng cho vieejc
phát triển bền vững của đất nước. Tuy vậy, những sự phát triển này cũng còn góp phần cung cấp nước
cho các hoạt động nông nghiệp, hạn chế nạn lũ lụt. Lưu vực sông Vũ Gia- Thu Bồn nằm trong khu vực
trung giữa Tháng Tám và Tháng Mười Hai. Khi lượng mưa vượt quá 2.000 mm/nă
m, nhiều vùng đất
thấp của tỉnh Quảng Nam sẽ bị ngập lụt.
Phía Bắc tỉnh Quảng Nam là núi Bạch Mã - Hải Vân; Phía đông là vùng núi Annamite (???); Cao
nguyên Kon Tum có một phần nhỏ ăn vào phía nam của tỉnh Quảng Nam, với đỉnh núi cao Ngọc Linh
(2.598 m a.s.l.) và ăn liền vào dãy núi rộng hơn ở phía nam của tỉnh. Tỉnh Quảng Nam có ba mặt giáp
với núi, một mặt là bờ biển, phần lớn diện tích của tỉnh là lưu vực của sông Thu Bồn. Dòng sông Thu
Bồn rộng lớn chia tỉnh Quảng Nam thành hai phần: phần l
ưu vực sông Thu Bồn (diện tích 3,350 km
2
)
thu nước của phần phía nam của tỉnh, bao gồm cả khu vực núi Ngọc Linh; phần hệ thống sông Vũ Gia
(rộng 5,500 km
2
) thu nước từ các huyện phía bắc, phía tây, sông Cái và sông Bung, các sông này hợp
lưu với sông Thu Bồn ở huyện Đại Lộc. Một hệ thống thu nước nhỏ; Tam Kỳ (800 km
2
), nằm tại phía
đông nam tỉnh và thu nước tại vùng duyên hải thuộc huyện Thanh Bình, Tam Kỳ và Núi Thành. Trên
vùng duyên hải có rất nhiều sông lớn, nỏ chảy rất chậm, một số chỗ tạo thành những đầm, phá. Tất cả
tạo thành hệ thống sông Vũ Gia- Thu Bồn và mở rộng vùng đất bằng phẳng, thấp tạo ra hàng năm sau
những cơ lũ lớn trong năm vào mùa mưa.
Quảng Nam nằm trong khu vực địa động vật bị ảnh hưởng bởi vùng Ấn độ và Mã Lai (theo Corbet và
Hill,1992) và theo đánh giá của MacKinnon (1997) đây là một bộ phận của núi Mã (dãy núi miền
Trung Việt Nam). Trên quy mô tòan cầu, các quá trình môi trường của Quảng Nam thuộc về vùng
từng rậm nhiệt đới ẩm Anamite (Olson & Dinnerstein, 1998). Với quy mô vùng, một phần của tỉnh có
3 vùng sinh thái, đó là Vùng đồng bằng phía Bắc Việt Nam, Rừng mưa nhiệt đới vùng đất thấp, Vùng
rừng khô phía nam Việt nam và Rừng mưa trên núi cao tại miền Nam.
cộng sự, 1998). Đối với thực vật, có 15 giống và hơn 200 loài đượ
c tìm thấy trong vòng 12 năm vừa
qua (theo Phan Kế Lộc và cộng sự, 2005). Sự đa dạng về các điều kiện môi trường, điều kiện khí hậu,
đất đai, cảnh quan, địa hình cùng với lịch sử địa chất lâu đời đã tại nên tính đa dạng sinh học cao cho
thực vật sống ở khu vực này. Hầu hết số loài thực vật ở Việt Nam là các loài bản địa, trong số
đó có ít
nhất từ 10 % đến 20% là loài đặc hữu (theo Averyanov và các cộng sự, 2003). Thực vật sống tại
những khu vực rừng tái sinh là những loài phân bố tại những nơi còn ít có sự can thiệp của con người,
ít có giá trị như thực phẩm bổ sung và giá trị kinh tế không cao chiếm đại đa số các loài thực vật. Có
356 loài thực vật, hầu hết là thực vật có mạch bậc cao được biết đến như
là những loài bị đe dọa và có
trong danh mục Sách đỏ của Việt Nam (1996). Số lượng thực vật bậc cao, có mạch có ở khu vực này
tương đương với vùng rừng trên đất thấp thuộc tỉnh Quảng Nam, lên tới con số từ 1200-2000 loài.
Trong những năm qua Việt Nam được biết đến nhiều vì có nhiều loài động vật có vú đã được phát
hiện mới tại Việt Nam. Ông Đặng Huy Huỳnh và các cộng sự đã ghi nhận sự có mặt của 223 loài động
vật có vú. Từ năm 1992 đến 2003, có ba loài động vật kích thước lớn và ít nhất năm loài động vật nhỏ
được thế giới công nhận là loài mới phát hiện từ Việt Nam (đó là các loài Pseudoryx nghetinhensis,
Muntiacus vuquangensis, Muntiacus truongsonensis, Muntiacus puhoatensis, Viverra tainguensis. Lê
Vũ
Khôi (2000) soát xét và cập nhật danh sách có đến 289 loài và các loài phụ (subspecies) của động
vật tại Việt Nam. Tổng số các loài chim là 850 loài (theo Nguyễn Cư và các cộng sự, 2000). Danh
mục các loài bò sát gồm có 458 loài gồm 162 loài lưỡng cư và 296 loài bò sát (theo Nguyễn Văn Sáng
và cộng sự, 2005). Theo báo cáo gần đây thì ở đây có 106 loài bướm. Những báo cáo hoàn chỉnh hơn
hiệu nay vẫn đang được thực hiện, sau khi những nghiên cứu này được thực hiện xong chúng ta sẽ có
con số chắc chắn về
số loài tăng lên như được ghi nhận.
Hệ sinh thái thủy sinh tại Việt Nam rất phong phú về thực vật và động vật. Cho đến nay ở Việt Nam
ghi nhận được sự có mặt của 1.402 loài tảo, 782 loài động vật không xương sống (bao gồm 48 loài
giáp xác, 53 loài tôm, 141 loài sò, hến và 544 loài cá nước ngọt).
đây. Vào năm 2002, Bộ KHCN &MT (KHCN) tách làm hai bộ mới là Bộ Khoa học, Công nghệ
(MOST) và Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN &MT), hiện nay Bộ TN&MT chịu trách nhiệm quản lý
về các vấn đề môi tr
ường. Luật Môi trường cập nhật và sửa đổi được Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam thông qua tháng 6 năm 2006. Luật quy định việc bảo vệ môi trường cùng với việc bảo vệ sức
khỏe con người, phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước, góp phần bảo vệ môi trường trong
khu vực và trên toàn cầu. Luật Bảo vệ môi trường đưa ra khung pháp lý chung cho công tác quản lý và
bảo vệ
môi trường tại Việt Nam, vai trò quan trọng đầu tiên là của Bộ TN &MT. Cục Bảo vệ môi
trường (VEPA) là cơ quan hỗ trợ Bộ Tài nguyên và Môi trường, hay còn được hiểu là cơ quan thực
hiện việc quản lý môi trường chung tại Việt Nam. Bên cạnh Cục Môi trường còn có các Cục, Vụ,
phòng ban chuyên môn tại các Bộ, các viện nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ, cơ quan đoàn thể
cấp tỉnh, các tổ chức nghiên cứu cùng tham gia vào công tác quản lý.
Ngoài ra còn có mộ
t số các bộ Luật khác cũng có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo vệ môi
trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, các chương trình, kế
hoạch về quản lý môi trường là Kế hoạch quốc gia về Môi trường và phát triển bền vững, 1991-2000
(1991), Chương trình hành động quốc gia về Đa dạng sinh học (1995) cũng như Chương trình hành
động về rừng nhiệt đới. Cùng với những chương trình nói trên, Nhà Nước còn ban hành nhiề
u Luật,
quy định liên quan đến công tác bảo vệ môi trường như: Luật về Phát triển và Bảo vệ rừng (1991);
Luật về bảo vệ sức khỏe của nhân dân (1989); Luật về sử dụng đất (1993); Luật về dầu và dầu khí;
Luật về tài nguyên khoáng sản (1996); Luật Tài nguyên nước (1998); Luật hình sự (1999); Pháp lệnh
về bảo vệ đê điều (1989); Pháp lệnh về thuế tài nguyên (1989); Pháp lệnh về b
ảo vệ các nguồn tài
nguyên thủy sinh (1989); Pháp lệnh về kiểm soát và an toàn phóng xạ (1996); Pháp lệnh về kiểm dịch
và bảo vệ thực vật (1993). Cùng với những văn bản pháp luật này còn có nhiều văn bản hướng dẫn
thực hiện luật do Chính phủ, Bộ TN &MT và các Bộ liên quan khác ban hành.
1.6.2 Xây dựng và triển khai chiến lược bảo vệ môi trường
được chuẩn bị năm 1993, 1994 sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước về Đa dạng sinh học. Kế hoạch
hành động quốc gia về đa dạng sinh học được xây dựng trên cơ sở Chiến lược quốc gia về Đa dạng
sinh học và Chiến lượ
c quốc gia về môi trường và phát triển bền vững. Kế hoạch hành động quốc gia
về đa dạng sinh học bổ sung thêm thông tin và đưa ra phạm vi tổng hợp rộng hơn cho các hành động
và các dự án ưu tiên thực hiện. Kế hoạch này được Nhà nước phê duyệt ngày 22/10/1995.
1.6.3 Kiểm soát và giám sát môi trường
Từ năm 1994, sau khi Luật Môi trường có hiệu lực, hàng loạt những nỗ lực đáng kể đã được các c
ơ
quan chức năng thực hiện để kiểm soát ô nhiễm không khí, nước, nước biển và đất; để quản lý và xử
lý các chất thải rắn, nhất là chất thải nguy hại; để làm việc với những đơn vị sản xuất kinh doanh là đối
tượng gây ô nhiễm; và có những ứng cứu kịp thời với các sự cố môi trường như sự cố tràn dầu ra biển.
Báo cáo đánh giá tác độ
ng môi trường được lập cẩn thận cho các dự án phát triển cũng như cho những
cơ sở sản xuất đã họat động trước khi Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực. Việc giám sát môi trường
được thực hiện tại cấp tỉnh cũng như cấp Nhà nước.
Mạng lưới quan tắc môi trường quốc gia lúc đầu được thành lập năm 1994 và được Bộ Khoa học,
Công nghệ
quản lý. Đến năm 1999, mạng lưới này có 19 trạm chịu trách nhiệm quan trắc môi trường
tại 63 vị trí, với tần suất 3 tháng/lần (một năm 4 lần từ năm 1995). Những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá
chất lượng không khí, nước trong lục địa, nước biển, môi trường đất, chất thải rắn, tiếng ồn do việc
giao thông và độ phóng xạ (chỉ tại 4 vị trí) đã đượ
c đo đạc bởi các trạm quan trắc. Thêm vào đó một số
các cơ quan nghiên cứu, viện chịu trách nhiệm về tài nguyên nước, khí tượng, thủy văn cũng thực hiện
công tác giám sát môi trường nước, môi trường không khí để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu và
quản lý.
1.6.4 Những văn bản pháp luật của Việt Nam liên quan tới việc lập Báo cáo đánh giá tác động
môi trường
Có rất nhiều các công cụ pháp lý trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến công tác đánh giá môi trường
công nghệ môi trường và tăng cường nhận thức cộng đồng về BVMT.
1.6.6 Xây dựng và hệ thống thể chế về quản lý môi trường
Năm 1993, Cục Bảo vệ Môi trường
được thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về Bảo
vệ môi trường trong cả nước. Tính đến năm 1999, Cục Bảo vệ môi trường có 9 phòng vơi 79 nhân
viên. Phòng Quản lý Môi trường có tại tất cả các Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường và có
khoảng từ 2 đến 5 nhân viên. Nhiều huyện và thị trấn có cả các nhóm công tác về vấn đề quản lý môi
trường. Hiện nay tại cấp tỉnh là các Sở
Tài nguyên và Môi trường (DONRE), tại cấp huyện là Phòng
Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường (SONRE), cả hai đơn vị này đều trực thuộc Bộ Tài nguyên và
Môi trường. Đơn vị thực hiện chức năng về quản lý môi trường do Sở TN &MT thực hiện cũng được
thành lập tại một số Bộ và các ngành kinh tế. Nhìn chung, năng lực quản lý môi trường của các cơ
quan tại Việt Nam vẫn còn yếu và chưa tương xứng với nhiệm v
ụ cần thực hiện. Những người làm
công tác quản lý và điều phối môi trường trong hệ thống còn chưa được đầy đủ cả về số lượng lẫn chất
lượng.
1.6.7 Năng lực hiện nay tại các cơ quan làm công tác môi trường
¾ Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường của Bộ TN &MT có 15 nhân viên (4 người có
bằng tiến sĩ, 5 người có bằng thạc sĩ và 6 người là kỹ sư, cử nhân). Vụ có khả năng thẩm định các
Báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án thủy điện.
¾ Sở TN &MT tỉnh Quảng Nam có 66 nhân viên, có 1 người có bằng thạc sĩ, 50 người là kỹ sư, cử
nhân. Sở TN &MT có 10 phòng gồm: phòng về Đất đai (7 nhân viên); phòng Khoáng sản, nước và
khí tượng thủy văn (4 nhân viên); Phòng Quản lý môi trường (6 nhân viên), Hành chính (13 nhân
viên), phòng Tài nguyên thiên nhiên và Thanh tra môi trường (5 nhân viên), Trung tâm tài nguyên
thiên nhiên và Công nghệ Môi trường và thông tin (20 nhân viên); Trung tâm khảo sát và phân tích
(8 nhân viên); Văn phòng nhà đất (10 nhân viên). Đối với một dự án thủy điện, Sở có khả năng
kiểm soát, giám sát việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu và kế ho
ạch quản lý môi trường trong
giai đoạn xây dựng và vận hành. Sở còn có khả năng thực hiện những hoạt động liên quan đến
giám sát môi trường như giám sát chất lượng nước, không khí, xói mòn và ô nhiễm.
hệ thống sông Vũ Gia- Thu Bồn của tỉ
nh Quảng Nam. Hiện nay trên hệ thống sông này có hai công
trình thủy điện đang được xây dựng.
2.2 Các thành phần của dự án
2.2.1 Tổng quát
Dự án thủy điện Sông Bung 4 được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng của
miền Trung Việt Nam, để hỗ trợ việc phát triển kinh tế trong khu vực. Điện năng được sản xuất nhờ
vào cột nước do đập tạo ra. Những hạng mục công trình sẽ được xây dựng bao gồm:
• Một đập trên sông Bung
để tạo ra hồ chứa;
• Tuyến năng lượng để chuyển nước từ hồ chứa qua nhà máy;
• Nhà máy với những thiết bị cần thiết để phát điện;
• Đường dây truyền tải điện từ nhà máy đấu nối với lưới điện quốc gia;
• Đường xá nối khu vực dự án với các khu tái định cư và hệ thống đường giao thông quố
c
gia;
• Các khu vực phụ trợ cho công tác xây dựng và vận hành Dự án. .
Các thành phần của Dự án sẽ được mô tả chi tiết ở phần dưới đây với vị trí được mô tả trong các Hình
từ 2.2 đến 2.5.
#
#
#
#
#
#
#
#
#
Thon 2
Pa Dhi
Pa Don
P
a
Pa Jing
Ka Dang
Pa Pang
Can Dai
Pa
C
Pa La
n
Pa Pang
Pa Rum B
Cong Don
Thon Vinh
Thanh My
CADY Commune
TA B'HING Commune
Pa Rong
Pa Rum A
Th. A' Roong
ZOUIH Commune
CHAVAL Commune
C1
C2
C3
RA2
RA1
o
n
g
A
X
o
S
o
n
g
.
U
P
o
o
S
o
ng
B
u
ng
Song. Ta Po
S
o
n
n
g A Vu
on
g
765000
765000
770000
770000
775000
775000
780000
780000
785000
785000
790000
790000
795000
795000
1725000 1730000 173500 0 1740000 1745000
Proposed land for set
t
Song Bung 4 Pr oject
a
River
Transmission line 220
K
LEGEND
Transmission line 35k
V
Rd1 - Access road fro
Rd1
Rd3
Zouih Commune
Ta B'Hing Commune
S
o
n
g
B
u
n
g
T1
T2
C1
782000
782000
783000
783000
784000
784000
785000
785000
1736000 173700 0 173 8000 1739000
Reservoir
Song Bung 4 Project Sites
River
Transmission line 220KVA
LEGEND
g
S
o
n
g
B
u
n
g
Ta B'Hing Commune
Zouih Commune
S
o
n
g
A
V
u
o
n
g
C2
782000
782000
783000
783000
784000
782000
783000
783000
784000
784000
1732000 1733000 1734000 1735000
Reservoir
Song Bung 4 Project sites
River
LEGEND
H14D -New part of Highway 14D
Rd3 - Road from dam site to resettlement area at Pa
P
Song Thanh nature reserve
Commune boundary
Rd1 - Access road from Highway 14D to dam site
N
500 0 500
Hình 2.5 Khu vực công trường dọc theo hồ chứa kể cả phần đường quốc lộ 14 D xây mới.
2.2.2 Đập
Đập chính
Đập chính là đập bê tông đầm lăn RCC (Roller Compacted Concrete). Chiều dài đập là 370 m, chiều
cao là 110 m tính từ điểm thấp nhất của móng đập ở cao trình 227.5 m. The dam will have a crest
length of about 370 m and a maximum height of 110 m from the deepest foundation level to the crest
level of +227.5 m.
Kết cấu của móng đập được thiết kế để chống thấp và gắn chặt vào tầng đá nền. Trong đập sẽ có
những rãnh để đo đạc, kiểm soát thấm, được trang bị những thiết bị hiện đại phù hợp với nh
ững kinh
Đường ống dẫn nước
Đường ống dẫn nước gần như nằm ngang, có độ dài khoảng 3 km, đường kính trong là 6,8 m. Đường
ống này được đào từ phần cửa nhận nước tới tháp điều áp. Đường ống sẽ đường đổ bằng bê tông, phía
trong lót thép hoặc được gia cố thêm ở những phần dựa vào nền đá yếu.
Việc xây dựng đường ống dẫn nước sẽ được xây từ hai phía thượng lưu và h
ạ lưu lại.
Tháp điều áp
Tại điểm cuối cùng của đường ống dẫn nước là tháp điều áp. Tháp điều áp cao 75 m (54 m ở dưới mặt
đất và 21 m nổi lên trên mặt đất ) được xây dựng để giảm áp lực tạo ra khi tua bin khởi động và vận
hành. Tháp điều áp được xây bằng bê tông, phía trong đường kính 24 m ở phần nổi trên mặt đất, phần
chìm dưới mặt đất có đường kính 15 m.
Tháp điều áp sẽ được xây t
ừ phần cuối phía hạ lưu của đường ống dẫn nước. .
Đường ống áp lực
Phía dưới tháp điều áp là đường ống áp lực, có chiều dài khoảng 245 m, đường kính 5,2 m. Phần đầu
đường ống này nằm ngang, sau đó bố trí theo phương thẳng đứng, phần cuối lại nằm ngang và dẫ nước
vào khu vực nhà máy.
Việc xây dựng đường ống áp lực được thực hiện từ hai phía lại, phía thứ nhất từ phía đầu cuối của
đường ống dẫn nước và một phía từ phía cuố
i của đường ống áp lực.
2.2.4 Nhà máy
Nhà máy
Khu nhà máy được đặt gần sông Bung, khoảng 5 km về phía hạ lưu của đập. Nhà máy được bố trí cao
68 m, trên một diện tích dài 58 m, rộng 24. Nhà máy bao gồm 2 tổ máy phát điện với tổng công suất
phát là 156 MW, erection bay, khu phụ trợ phục vụ vận hành và bảo dưỡng. Hai máy biến áp ba pha sẽ
được đặt ở ngoài trời, phía sau nhà máy.
có trải nhựa đường.
Hướng đi cụ thể và thiết k
ế cho đọan đường này sẽ được xác định rõ trong những giai đoạn sau của Dự
án.
Đường thi công trong khu vực dự án
Một loạt các đường thi công với tổng chiều dài khoảng 20 km sẽ được xây dựng trong khu vực công
trường để sử dụng trong quá trình thi công xây dựng cũng như trong quá trình vận hành. Đường dẫn từ
vị trí đập đến nhà máy sẽ được trải nhựa đường, những đoạn đường khác chủ yếu được rải sỏi.
Một cầu tạm 150 m vượt qua sông Bung dự kiến sẽ được xây ở ph
ần hạ lưu đập. Cầu này được xây
dựng để sử dụng trong quá trình xây dựng đập, sau đó sẽ được dỡ bỏ. Đường đi qua sông sau khi xây
dựng xong sẽ là phần đường đi trên đỉnh đập.
Hướng đường và thiết kế cho những đoạn đường thi công hiện nay chưa được xác định cụ thể. Các nhà
thầu sẽ tham gia một phần trong công tác xác định tuyến và thiết kế cụ
thể của các đoạn đường thi
công này.
Đọan thay thế Quốc lộ 14 D
Khoảng 6km đường Quốc lộ 14D sẽ được xây dựng đền bù do một phần đường Quốc lộ 14D sẽ ngập
trong hồ. Đọan đường này còn bao gồm một chiếc cầu dài 350 m, cao 60 m.
Đường dẫ tới khu tái định cư
20 km đường mới dẫn đến các khu tái định cư gần các làng Pa Pang và Pa Rum – Pa Dhi (xem Hình
2.2) sẽ được xây dựng.
Hướng đường và thiết kế cho những đoạn đường dẫn đến khu tái định cư hiện nay chưa được xác định
cụ thể.
2.2.7 Khu phụ trợ công trường
Những khu phụ trợ công trường sau đây sẽ được xây dựng, xem vị trí các khu này trong Hình 2.2 đến
2.5.
sử dụng đến trong quá trình xây dựng.
950 m phía bên trái đập, phần
hạ lưu
0,6
Khu phụ trợ 4 Phục vụ thi công 1 km phía thượng lưu của nhà
máy
14,2
Khu trộn bê tông Trộn bê tông để xây nhà máy. Gần vị trí nhà máy 0,2
Khu phụ trợ 5 Phục vụ thi công Gần vị trí nhà máy 0,2
Khu bãi thải 3 Bãi thải các nguyên vật liệu bóc dỡ không
sử dụng đến trong quá trình xây dựng.
200 m phía hạ lưu của nhà
máy
0,3
Mỏ cát Khai thác cát làm nguyên vật liệu xây
dựng
Trên sông Cái, 30 km phía hạ
lưu của nhà máy.
44,584
3 Môi trường nền
3.1 Môi trường vật lý và sinh học
3.1.1 Địa hình
Sông Bung là nhánh lớn nhất của sông Vũ Gia, nằm ở phía Tây Bắc của lưu vực sông Vũ Gia. Sông
Bung có chiều dài khoảng 130 km, chảy từ biên giới Lào đến sông Cái gần huyện Thanh Mỹ. Phần sau
hợp lưu với sông Cái gọi là sông Vũ Gia.
Sông Vũ Gia có rất nhiều đoạn giao với sông lớn phía Nam, sông Thu Bồn. Hệ thống sông Vũ Gia-
Thu Bồn là hệ thống sông lớn nhất tỉnh Quảng Nam. Hai sông này có lưu vực chi
Dự án được đặt tại vị trí trũng của thung lũng sông Bung, xung quanh là các ngọn núi cao. Có một số
nhà dân rải rác trong khu vực Dự án dọc theo Quốc lộ 14D, có 4 bản sẽ bị ngập trong lòng hồ. Ngoài
đường Quốc lộ 14D dẫn đến biên giới Lào còn có một số đường giao thông khác trong khu vực Dự án.
Quan trắc tiếng ồn được thực hiện năm 2004 tại một số vị trí trong khu vực D
ự án, kết quả đo đạc chỉ
ra mức tiếng ồn trong khu vực ở mức khá thấp (PECC3 2005A). Kết quả đo đạc được trình bày trong
Bảng 3.2. Các thuyền đãi vàng trên sông Bung sẽ gây ra mức ồn nhất định trong khu vực. Những
thuyền, máy đãi vàng này hoạt động suốt cả ngày lẫn đêm.
Bảng 3.2. Mức tiếng ồn tại khu vực Dự án (đo năm 2004)
Vị trí lấy mẫu Mức tiếng ồn
dBA
Nhà máy 40-42
Khu vực đập 38-40
Khu vực đập 36-40
Khu vực hồ chứa, phía thượng lưu đập 38-40
Khu vực hồ chứa, vị trí hợp lưu với
sông Pring
40-42
Khu vực hồ chứa, gần bản Pa Dhi 38-40
TCVN 5937:1995 60-65
3.1.4 Khí hậu
3.1.4.1 Lượng mưa
Có 12 trạm đo mưa trên lưu vực sông Vũ Gia- Thu Bồn, với các số liệu đo đạc từ năm 1997. Các vị trí
trạm được trình bày trong Hình 3.1. Thêm nữa có hai trạm tại Đà Nẵng và Trà My là các trạm đo đầy
đủ các yếu tố khí hậu. Việc phân bố các trạm đo mưa tương đối tốt, tuy vật trên Hình 3.1. có thể nhận
thấy phía tây của lư
Khâm
Đức
Trà
My
Nông
Sơn
2239 2123 2095 2205 2173 2030 2088 2416 2273 2870 4029 2909 Các trạm đo mưa có thể chia thành 4 nhóm, đại diện cho những vùng khác nhau của lưu vực. Sông
Bung được đại diện bởi trạm Thanh Mỹ, Hiên, Hội Khách. Sông Thu Bồn được đại diện bởi trạm Trà
My, Khâm Đức và Nông Sơn. Phần thượng nguồn của đồng bằng sông Vũ Gia- Thu Bồn được đại
diện bởi trạm Hội Khách, Ái Nghĩa và Giao Thủy. Khu vực phía dưới của đồng bằng sông Vũ Gia -
Thu Bồn
được đại diện bởi trạm Cau Lau, Cẩm Lệ và Hội An. Hình 3.2. biểu diễn lượng mưa trung
bình tháng của 4 nhóm 4 trạm đo mưa này.
0
100
200
300
400
500
600
700
800
Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec
Bung River Basin
Thu Bon
Upper part of delta Vu Gia - Thu Bon
3.1.4.2 Nhiệt độ
Số liệu về nhiệt độ có sẵn tại các trạm đo khí hậu tại Đà Nẵng và Trà My từ năm 1977. Nhiệt độ cao
nhất vào tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 12, tháng 1. Nhiệt độ thấp nhất trong ngày
do hai trạm này ghi nhận được là 10
o
C, nhưng nhiệt độ trung bình tháng thường trên 20 °C tất cả các
tháng (PEEC3 2005A).
Tại đập Sông Bung 4 nhiệt độ hàng ngày được đo từ năm 2003. Giá trị trung bình tháng, cùng với giá
trị thấp nhất và cao nhất của mỗi tháng được trình bày tại Hình 3.4. (PEEC3 2005A).
14
16
18
20
22
24
26
28
30
32
34
Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec
°C
Monthly Temperatures at Song Bung 4 in 2003
Hình 3.4 Nhiệt độ trung bình tháng (trung bình, cao nhất, thấp nhất) đo được tại trạm Sông Bung 4
trong năm 2003.
sông Cái (sông Vũ Gia) và trạm Nông Sơn trên sông Thu Bồn, với các số
liệu xả discharge data từ
năm 1977. Bổ sung vào đó có các số liệu đo đạc, ghi nhận được về mực nước tại 7 vị trổctng cùng
thời gian, các trạm đo đó là Đà Nẵng, Hội An, Giao Thủy, Cau Lau, Cẩm Lệ, Ái Nghĩa và Hội Khách
(xem Hình 3.1.).
Tại vị trí đập Sông Bung 4, mức nước được đo đạc từ năm 2003. Trong khoảng thời gian đó đã thực
hiệ
n rất nhiều lần đo lượng . At Song Bung 4 dam site water levels have been registered daily since
2003. During that period several discharge measurements have been undertaken. Dựa trên các số liệu
đó, đường cong tỷ lệ được xây dựng cho giai đoạn từ sau năm 2003 (SWECO International 2006).
Bảng 3.6 trình bày một số các số liệu trong một phần lưu vực của hệ thống sông (SWECO
International 2006).
Bảng 3.6 Dòng chảy trung bình năm tại một số các vị trí khác nhau của hệ thống sông Vũ Gia- Thu
Bồn
Vị trí Sông Diện tích Dòng chảy trung
bình năm
km² m³/s
Đập Sông Bung 4 Sông Bung 1519 72
Thanh Mỹ Sông Cái 2043 123
Hội Khách Sông Vũ Gia 4551 263
Ái Nghĩa Sông Vũ Gia 5426 298
Nông Sơn Sông Thu Bồn 3217 273
Giao Thủy Sông Thu Bồn 3533 288
3.1.5.2 Mô hình hóa
Theo phương pháp mô phỏng chuỗi dòng chảy, chuỗi số liệu về mực nước tại các vị trí khác nhau
được tính toán (SWECO International 2006). Dựa trên các số liệu đầu vào về lượng nước bốc hơi,
lượng mưa, mô hình nước mưa chảy tràn rainfall-runoff được thiết lập. Các đoạn giao cắt dọc sông Vũ
Gia và Sông Bunh được thiết lập và mô hình thủy lực được tính toán dựa trên các số liệu đo đạc đượ