Xây dựng pháp luật
tạp chí luật học số 4/2003 39
Ths. Đỗ ngân bình *
hỏp lnh th tc gii quyt cỏc tranh
chp lao ng c U ban thng v
Quc hi nc CHXHCN Vit Nam thụng
qua ngy 11/4/1996 v cú hiu lc thi hnh
t ngy 1/7/1996. Phỏp lnh ny quy nh
th tc gii quyt cỏc tranh chp lao ng ti
to ỏn nhm gii quyt khỏch quan, kp thi,
ỳng phỏp lut cỏc tranh chp lao ng, bo
v li ớch ca Nh nc, quyn v li ớch
hp phỏp ca ngi lao ng (NL), tp th
lao ng v ca ngi s dng lao ng
(NSDL), gúp phn xõy dng mi quan h
lao ng hi ho, n nh, thỳc y s phỏt
trin kinh t-xó hi trong thi gian qua.
Cựng vi mt s vn bn di lut khỏc nh:
Ngh nh s 51/CP ngy 29/8/1996 ca
Chớnh ph v vic gii quyt yờu cu ca tp
th lao ng ti doanh nghip khụng c
ỡnh cụng, Ngh nh s 58/CP ngy
31/5/1997 ca Chớnh ph v vic tr lng
v gii quyt cỏc quyn li khỏc cho NL
tham gia ỡnh cụng trong thi gian ỡnh
cụng, Thụng t s 02/LTBXH-TT ngy
cho cỏc bờn v cỏc c quan cú thm quyn
khi gii quyt tranh chp lao ng. Phỏp
lnh TTGQTCL ó quy nh tng i y
nhng trỡnh t, th tc gii quyt tranh
chp lao ng ti to ỏn cng nh th tc
gii quyt cỏc cuc ỡnh cụng. Tuy nhiờn,
P
* Ging viờn Khoa phỏp lut kinh t
Trng i hc lut H Ni X©y dùng ph¸p luËt
40 t¹p chÝ luËt häc sè 4/2003
nhiều điều khoản còn bất hợp lí và không
phù hợp với tình hình hiện nay, đặc biệt sau
khi Quốc hội khoá X, kì họp thứ 11 thông
qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật lao động (ngày 2/4/2002), Luật tổ
chức toà án nhân dân (sửa đổi), Luật tổ chức
viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) về các vấn
đề như trình tự, thủ tục, thẩm quyền xét xử,
thời hiệu xét xử, thời gian thụ lí các vụ án
lao động, quyền và nghĩa vụ của các bên
trong việc giải quyết tranh chấp lao động,
việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể
và đình công
Xuất phát từ những điểm còn bất cập nêu
trên về kĩ thuật lập pháp, từ tầm quan trọng
khi thụ lí giải quyết các vụ tranh chấp lao
động. Nhiều vụ việc khi gửi đơn yêu cầu giải
quyết tranh chấp lên HĐTTLĐ cấp tỉnh thì
không được thụ lí vì cho rằng đó không phải
tranh chấp tập thể nhưng khi gửi đơn khởi
kiện ra toà án thì toà lại nhận định đây là
tranh chấp lao động tập thể và không thụ lí
vì chưa qua giải quyết tại HĐTTLĐ tỉnh.
Vướng mắc chính khi phân biệt hai loại
tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp
lao động tập thể là ở chỗ cần xác định thế
nào là “tập thể lao động”. Để được coi là
tranh chấp giữa tập thể lao động và NSDLĐ
cần có ít nhất bao nhiêu người trong doanh
nghiệp tham gia tranh chấp, ngoài yếu tố có
sự thống nhất giữa những người tham gia
tranh chấp về mục đích và sự liên kết, có nhất
thiết phải cần sự tham gia của tổ chức công
đoàn với tư cách là người đại diện và lãnh
đạo tập thể lao động không Chính những
cách hiểu không nhất quán về vấn đề này đã
gây tranh cãi giữa các cơ quan có thẩm
quyền về thẩm quyền giải quyết các tranh
chấp lao động trong nhiều trường hợp cụ thể.
Cho đến nay, toà lao động các địa
phương chưa thụ lí giải quyết vụ đình công
nào nhưng thực tế không thể phủ nhận là đình
công vẫn xảy ra khắp nơi và có chiều hướng
gia tăng. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải
rõ ràng về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu
khởi kiện. Theo chúng tôi nên thống nhất
tính thời hiệu khởi kiện kể từ ngày xảy ra
hành vi mà mỗi bên cho rằng quyền lợi của
mình bị vi phạm. Quy định như vậy sẽ rõ
ràng và dễ xác định hơn trong thực tế, hơn
thế nữa còn tăng cường ý thức trách nhiệm
của mỗi bên trong việc tự bảo vệ mình.
Mặt khác, khi xây dựng BLLĐ và Pháp
lệnh TTGQTCLĐ, chúng ta chưa lường hết
tính phức tạp của loại án này nên quy định
thời hiệu khởi kiện rất ngắn: 3 tháng, 6
tháng, 1 năm (Luật sửa đổi, bổ sung BLLĐ
có quy định thêm thời hiệu 3 năm đối với
tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ
và doanh nghiệp xuất khẩu lao động). Trong
điều kiện địa hình phân tán từ Nam ra Bắc,
qua nhiều cấp xét xử, việc xác định thời
điểm bắt đầu tính thời hiệu chưa rõ ràng nên
các thời hiệu quy định trên rất khó thực hiện
trong thực tiễn. Vì vậy, chúng tôi đề nghị
tăng thời hiệu khởi kiện kể từ khi có hành vi
bất lợi cho đương sự là 1 năm, 2 năm, 3 năm
tuỳ theo từng loại việc để đảm bảo quyền lợi
cho đương sự.
3. Về việc kéo dài các loại thời hạn tố
tụng trong giải quyết tranh chấp lao động
Thực tế việc giải quyết các tranh chấp
lao động cho thấy quy định của pháp luật về
thời hạn giải quyết các tranh chấp lao động
công là 5 ngày (khoản 2 Điều 102); thời gian
dành cho viện kiểm sát nhân dân nghiên cứu
hồ sơ vụ án trước khi xét xử cấp sơ thẩm chỉ
có 5 ngày (khoản 2 Điều 36), cấp phúc thẩm
là 5 ngày (khoản 1 Điều 69), cấp giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm là 10 ngày. Theo chúng
tôi quy định như vậy vừa quá ngắn vừa không
thống nhất về cách tính, do đó, nên kéo dài
thời gian gấp hai lần hiện nay và quy định rõ
cách tính theo ngày làm việc cho thống nhất.
4. Về quyền khởi tố vụ án lao động của
viện kiểm sát nhân dân trong Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Theo quy định tại Điều 28 Pháp lệnh
TTGQTCLĐ thì: “ Đối với những vi phạm
pháp luật liên quan đến quyền và lợi ích hợp
pháp của NLĐ là người chưa thành niên,
người tàn tật và các vi phạm pháp luật
nghiêm trọng khác, nếu không có ai khởi
kiện thì viện kiểm sát có quyền khởi tố”. Về
quy định này hiện có hai quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng theo quy
định này thì phạm vi giới hạn của quyền
khởi tố vụ án lao động rất hạn hẹp. Về chủ
thể: Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có
quyền khởi tố vụ án lao động; về khách thể:
Quyền và lợi ích của NLĐ là người chưa
thành niên, người tàn tật và các vi phạm
pháp luật nghiêm trọng khác nhưng với điều
kiện không có ai khởi kiện (các trường hợp
như vậy về đình công sẽ góp phần kiềm chế
hiện tượng này. Song có ý kiến lại cho rằng
do thủ tục đình công quy định quá chặt chẽ
nên 100% các cuộc đình công đều diễn ra
không đúng quy trình luật định, do đó, toà án
không thể thụ lí giải quyết khi có đơn yêu
cầu. Khi xảy ra đình công, thường thì công
đoàn cấp trên cùng với chính quyền, cơ quan
lao động cơ sở đến dàn xếp, hoà giải, thương X©y dùng ph¸p luËt
t¹p chÝ luËt häc sè 4/2003 43
lượng rồi tự dàn xếp, giải tán cuộc đình
công. Đây là giải pháp tình thế, tạm thời,
không giải quyết được tận gốc của tranh
chấp. Nên chăng, cần xem xét, sửa đổi các
quy định về đình công và giải quyết đình
công cho phù hợp với thực tế, làm cho các
quy định của pháp luật có tính khả thi hơn.
Căn cứ vào các quy định tại Điều 173, Điều
174 BLLĐ, Điều 80 Pháp lệnh TTGQTCLĐ
về các điều kiện để cuộc đình công được coi
là hợp pháp; đánh giá các quy định tại Điều
168, Điều 171, 172 BLLĐ, Điều 82, 83, 84
Pháp lệnh TTGQTCLĐ về thời gian và cơ
quan có thẩm quyền giải quyết đình công; đối
chiếu với thực tiễn đình công hơn 6 năm qua
chúng tôi có một số nhận định sau:
công (là các cán bộ công đoàn) thực thi
nhiệm vụ. Ở các nước phát triển, cán bộ
công đoàn sống bằng kinh phí do đoàn viên
đóng góp, công đoàn có quỹ để trả lương cho
công nhân trong những ngày họ tham gia
đình công. Còn ở nước ta, công đoàn cấp cơ
sở hoạt động phụ thuộc vào kinh phí do
NSDLĐ cung cấp hoặc đóng góp, bản thân
các cán bộ công đoàn ở cấp cơ sở trước hết
cũng là người lao động, tiền luơng, phương
tiện làm việc đều trông chờ vào NSDLĐ.
Do hoạt động theo cơ chế như vậy nên công
đoàn, đặc biệt là công đoàn cơ sở không thể
có đủ điều kiện để đại diện cho NLĐ giải
quyết các mâu thuẫn trong đình công. Chưa
kể đến các thủ đoạn trù dập, trả thù của
NSDLĐ đối với cán bộ công đoàn nếu những
người này có quan điểm trái với chính kiến
của họ trong quá trình lao động, đặc biệt là
các vấn đề như sa thải, cắt thưởng, tăng thời
giờ làm việc Để công đoàn thực sự là chỗ
dựa tin cậy của NLĐ, cần có cơ chế phù hợp
để đảm bảo tính chủ động của công đoàn
trong hoạt động, đặc biệt là khả năng tài
chính của công đoàn.
Trên đây là một số ý kiến đóng góp nhằm
bước đầu hoàn thiện Pháp lệnh TTGQTCLĐ,
để Pháp lệnh này thực sự đi vào cuộc sống và
góp phần tích cực giải quyết các tranh chấp
lao động trong thực tiễn./.