Báo cáo " Lý luận về cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự" potx - Pdf 11



Nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 2/2004
17

TSKH. Lê cảm *

1. Vi nột v lch s xut hin v
phỏt trin lớ lun cu thnh ti phm
Nghiờn cu lch s ra i cho thy lớ
lun cu thnh ti phm (CTTP) xut hin
t th k th XVI, u tiờn l cỏc tũa ỏn
ca nc c thi kỡ phong kin, sau ú
vo cỏc th k XVIII-XIX vn ny c
son tho v mt lớ lun trong trng phỏi
c in ca khoa hc lut hỡnh s. Khỏi
nim CTTP (theo ting Latinh c l
corpus delicti) ó úng vai trũ t tng
nh l cn c y cho vic xột x v ỏn
hỡnh s ti tũa ỏn chng minh s hin
din trong cỏc hnh vi ca phm nhõn mt
CTTP.
(1)
Lớ lun CTTP c phỏt trin
trong khoa hc lut hỡnh s Nga trc cỏch
mng vo cui th k XIX - u th k XX
m c bit l CTTP ó c nghiờn cu

(3)

- Vo u th k XX, vin s Vin hn
lõm khoa hc Liờn Xụ Piụntkụvxki A.A ó
coi khỏi nim CTTP l cỏc yu t c bn
ca ti phm m chỳng u cú trong mi
mt ti phm m nu nh thiu mt trong
s chỳng thỡ dn n s tha nhn l khụng
cú CTTP v cỏc yu t ny l: a) Ch th
nht nh ca ti phm; b) Khỏch th nht
nh ca ti phm; c) Bn cht nht nh
ca mt ch quan trong cỏch x s; d) Bn
cht nht nh ca mt khỏch quan trong
cỏch x s ca ch th ca ti phm.
(4)
Sau
ú, vo nhng nm 70 ca th k XX, vin
s ny ó vit: Lớ lun lut hỡnh s Xụ vit
coi CTTP l tng hp cỏc du hiu th hin
mt hnh vi nguy him cho xó hi nht
nh l ti phm theo phỏp lut hỡnh s
Liờn Xụ.
(5)

* Khoa lut - i hc quc gia H Ni Nghiªn cøu - trao ®æi
18


- Trong khoa học luật hình sự Việt
Nam, về cơ bản, quan điểm được thừa
nhận rộng rãi về khái niệm của CTTP là
tổng hợp những dấu hiệu đặc trưng cho
loại tội phạm cụ thể được quy định trong
pháp luật hình sự.
(9)

Như vậy, trên cơ sở khái niệm tội phạm
và phân tích khoa học lí luận CTTP đồng
thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy
phạm pháp luật hình sự về định tội danh,
theo quan điểm của chúng tôi, có thể đưa
ra định nghĩa khoa học của khái niệm
CTTP như sau: CTTP là tổng hợp các dấu
hiệu pháp lí (khách quan và chủ quan) do
luật hình sự quy định thể hiện một hành vi
nguy hiểm cho xã hội cụ thể là tội phạm,
tức là căn cứ vào các dấu hiệu đó một hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm.
Hay nói cách khác, một CTTP cụ thể là
tổng hợp các dấu hiệu khách quan và chủ
quan bắt buộc, mà bằng các dấu hiệu đó
nhà làm luật quy định tại quy phạm của
Phần các tội phạm BLHS tính chất tội
phạm và tính chất bị xử phạt (hay còn gọi
là tính chất bị xử lí về hình sự) của hành vi
nguy hiểm cho xã hội tương ứng bị luật
hình sự cấm đồng thời chỉ ra loại hình phạt
nào và trong giới hạn nào nó có thể được

xã hội bị luật hình sự cấm (tức là hành vi
bị nhà làm luật coi là tội phạm). Quan
điểm truyền thống được thừa nhận chung
trong khoa học luật hình sự đương đại là:
CTTP có bốn yếu tố: Khách thể (1), mặt
khách quan (2), chủ thể (3) và mặt chủ
quan (4) của tội phạm. Để nhận thấy rõ bản
chất của mỗi yếu tố CTTP, dưới đây chúng
ta cần phải đưa ra định nghĩa về khái niệm
của từng yếu tố như sau:
1) Khách thể của tội phạm: Là quan hệ
xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh
khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm
nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên
(hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể
nhất định.
2) Mặt khách quan của tội phạm: Là
mặt bên ngoài của sự xâm hại nguy hiểm
đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo
vệ bằng pháp luật hình sự, tức là sự thể
hiện cách xử sự có tính chất tội phạm trong
thực tế khách quan.
3) Chủ thể của tội phạm: Là người đã
có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình
sự cấm, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu
TNHS theo luật định (ngoài ra, trong một
số trường hợp cụ thể còn có một số dấu
hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm pháp
luật hình sự tương ứng quy định).

là một trong những đảm bảo cho việc định
tội danh đúng đối với hành vi nguy hiểm
cho xã hội tương ứng. Và chính vì thế,
chúng ta cũng cần phải phân tích để xác
định rõ các dấu hiệu bắt buộc và các dấu
hiệu tuỳ nghi tương ứng với từng yếu tố
của CTTP.
1) Khách thể của tội phạm có ba dấu
hiệu: Một dấu hiệu bắt buộc là khách thể
và hai dấu hiệu tuỳ nghi là đối tượng của
tội phạm và người bị hại của tội phạm.
2) Mặt khách quan của tội phạm có
chín dấu hiệu: Một dấu hiệu bắt buộc là
hành vi nguy hiểm cho xã hội và tám dấu Nghiªn cøu - trao ®æi
20

T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004

hiệu tuỳ nghi là hậu quả nguy hiểm cho xã
hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và
hậu quả phạm tội, thời gian, không gian,
địa điểm, hoàn cảnh (điều kiện), phương
pháp (thủ đoạn), công cụ và phương tiện
phạm tội.
3) Chủ thể của tội phạm có bốn dấu
hiệu: Ba dấu hiệu bắt buộc là con người cụ
thể, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu

hiệu định tội); b) CTTP giảm nhẹ là cấu
thành mà ngoài các dấu hiệu của CTTP cơ
bản ra còn có các dấu hiệu khác phản ánh
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
thấp (không đáng kể) của tội phạm nên có
ý nghĩa làm giảm đi đáng kể mức độ
TNHS của chủ thể; c) CTTP tăng nặng
(đặc biệt tăng nặng) là cấu thành mà ngoài
các dấu hiệu của CTTP cơ bản ra còn có
các dấu hiệu khác phản ánh tính chất và
mức độ nguy hiểm cho xã hội cao (rất cao)
của tội phạm nên có ý nghĩa làm tăng lên
đáng kể (rất đáng kể) mức độ TNHS của
chủ thể.
2) Căn cứ vào cấu trúc của mặt khách
quan của tội phạm có thể phân chia các
CTTP thành hai loại sau: a) CTTP vật chất
là cấu thành mà mặt khách quan của nó
được pháp luật hình sự quy định bằng các
dấu hiệu của hành vi phạm tội cũng như cả
các dấu hiệu của hậu quả phạm tội nữa (tức
là hậu quả nguy hiểm cho xã hội trong
trường hợp này được nhà làm luật coi là
dấu hiệu bắt buộc của CTTP); b) CTTP
hình thức là cấu thành mà mặt khách quan
của nó được pháp luật hình sự quy định chỉ
bằng các dấu hiệu của hành vi phạm tội.
3) Căn cứ vào cấu trúc của các yếu tố
CTTP có thể phân chia các CTTP thành hai
loại sau: a) CTTP đơn giản là cấu thành mà

được xác định cụ thể mà chỉ bằng các
phạm trù có tính chất đánh giá.
7. Chức năng của cấu thành tội phạm
Có thể hiểu chức năng của CTTP là
nhiệm vụ của từng CTTP cụ thể được quy
định trong luật hình sự mà thông qua việc
thực hiện nó (nhiệm vụ ấy), vai trò của
CTTP tương ứng được thể hiện trong quá
trình áp dụng pháp luật hình sự. Từ trước
đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào
trong khoa học luật hình sự Việt Nam đề
cập việc phân tích các chức năng của
CTTP. Còn trong khoa học luật hình sự
Liên Xô, theo quan điểm hoàn toàn đúng
đắn và đảm bảo sức thuyết phục của
GS.TSKH. Tkeseliađze G.T - trưởng bộ
môn luật hình sự và tội phạm học Trường
đại học tổng hợp quốc gia Tbilisi (nước
Cộng hòa Gruzia thuộc Liên Xô - SNG
hiện nay) thì CTTP có ba chức năng chính
như sau:
(10)

1) Chức năng nền tảng: Khi các cơ
quan tư pháp hình sự coi căn cứ cần và đủ
để truy cứu TNHS một người chính là sự
hiện diện trong hành vi nguy hiểm cho xã
hội mà người đó thực hiện có chứa tất cả
các dấu hiệu của một CTTP cụ thể do pháp
luật hình sự quy định;

22

T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004

trong pháp luật hình sự thực định thì không
thể đặt ra việc định tội danh.
2) CTTP là một khái niệm khoa học và
là sự trừu tượng về mặt pháp lí, vì một loạt
các thuật ngữ và phạm trù được sử dụng có
liên quan đến CTTP (như: “khách thể”,
“chủ thể”, “mặt chủ quan”, “mặt chủ
quan” ) đều được các nhà lí luận soạn thảo
trong khoa học luật hình sự, còn nếu như
chúng có được quy định trong luật thực
định đi chăng nữa thì cũng là dưới dạng các
quy phạm pháp luật hình sự trừu trượng.
3) CTTP là cơ sở pháp lí cần và đủ để
truy cứu TNHS người phạm tội, vì nguyên
tắc là: “Nullum crimen sine lege” nhưng
khi hành vi nguy hiểm cho xã hội của chủ
thể có đầy đủ các dấu hiệu của một CTTP
tương ứng nào đó được quy định trong
BLHS thì có nghĩa là đã có tội phạm được
thực hiện và các cơ quan tư pháp hình sự
đã có đầy đủ cơ sở pháp lí để truy cứu
TNHS người phạm tội.
4) CTTP là căn cứ để tòa án lựa chọn
đúng loại và mức hình phạt đối với người
bị kết án, vì nếu hành vi nguy hiểm cho xã
hội không có đầy đủ các dấu hiệu của một

đồng thời cả ba lĩnh vực sinh hoạt (thể
hiện) được thừa nhận chung của luật hình
sự đó là: Lập pháp, lí luận (hay còn gọi là
khoa học) và thực tiễn xét xử. Cụ thể là:
1) Về mặt lập pháp, nếu quan niệm
CTTP là "cơ sở pháp lí duy nhất" của việc
định tội danh thì có nghĩa là vô hình trung
đã thừa nhận không phải BLHS - sản phẩm
của nhà làm luật - “một trong những công
cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm” (như Lời nói đầu
của BLHS Việt Nam năm 1999 hiện hành)
mà lại chính là CTTP - một khái niệm khoa
học và là sự trừu tượng về mặt pháp lí
được dùng làm “cơ sở pháp lí duy nhất”
trong quá trình định tội danh đối với các
hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được
thực hiện trong thực tế khách quan (!). Có Nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 2/2004
23

lẽ nhà làm luật Việt Nam cùng với các cán
bộ thực tiễn trong hoạt động lập pháp và áp
dụng pháp luật hình sự của nước ta (kể cả
trước và sau khi pháp điển hóa) khó mà có
thể đồng ý với quan niệm này.
2) Về mặt lí luận, CTTP do các nhà lí

là cơ sở pháp lí duy nhất mà chỉ dựa trên
những căn cứ pháp lí nhất định như đã
được phân tích trên đây, cụ thể là các quy
phạm pháp luật hình sự với tính chất là cơ
sở pháp lí trực tiếp và các quy phạm pháp
luật TTHS - cơ sở pháp lí gián tiếp./.

(1), (8).Xem: Kuznhetxôva N.F. "Cấu thành tội
phạm". Chương VI - Giáo trình luật hình sự (gồm 5
tập). Tập 1. Phần chung. "Lí luận về tội phạm" (tập
thể tác giả do GS.TSKH. N.F.Kuznhetxôva và PTS
luật, PGS I.M. Tiakôva chủ biên), Nxb. Zartxalô.
Maxcơva, 2002, tr.166; 72 (tiếng Nga);
(2). Xem: Taganxev N.X. "Luật hình sự Nga". Các
bài giảng. Phần chung. Tập 1, Nxb. Khoa học.
Maxcơva, 1994, tr.142 (tiếng Nga).
(3).Xem: Kixchiakôvxki A.O. "Giáo trình tối thiểu về
luật hình sự chung". Phần chung. Xant-Pêtecbua,
1875, tr. 59 (tiếng Nga).
(4).Xem: Piôntkôvxki A.A. "Luật hình sự Xô viết",
Phần chung. Tập I. Maxcơva-Lêningrađ, 1928, tr.241
(tiếng Nga).
(5).Xem: Piôntkôvxki A.A. "Giáo trình luật hình sự
Xôviết" gồm sáu tập. Tập II. Tội phạm, Nxb. Khoa
học. Maxcơva, 1970, tr.89.
(6).Xem: Trainhin A.N. "Lí luận chung về cấu thành
tội phạm", Nxb. Sách pháp lí. Maxcơva, tr.59-60
(tiếng Nga).
(7).Xem: Kuđriavtxev A.N. "Lí luận chung về định
tội danh". Maxcơva, 1999, tr.58 (tiếng Nga).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status