1 Phân tích các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời
1.1 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE
ROE =
(đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu 2011 2012 So sánh 2012 so với 2011
(%)
LNST 3,199,608 2,919,293 (280,315) (0.565)
VCSH bq 24,305,092.5 25,646,518 1,341,425.5 5.519
ROE (%) 13.164 11.382 (1.782) (13.537)
ROE trung bình ngành 11.86 5.89 (5.97) (50.34)
ROE của ngân hàng năm 2012 giảm so với năm 2011 (giảm 1.782%, tương ứng với tốc độ giảm
13.537%). Nguyên nhân chính là do Vốn chủ sở hữu bình quân tăng từ 24,390 tỷ năm 2011 lên
26,902 tỷ vào năm 2012, trở thành 1 trong 3 NHTM có số vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam. Từ
ngày 1/5/2012 NH đầu tư và phát triển chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp thành NHTM
cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam. Theo đó, lộ trình đến năm 2015, BIDV đặt mục tiêu tăng
vốn điều lệ lên 46.390 tỷ đồng (vốn điều lệ bình quân là 42.612 tỷ đồng), gấp đôi so với vốn điều
lệ hiện nay (23.012 tỷ đồng) nhằm tăng năng lực tài chính của ngân hàng mình và phục vụ cho
quá trình cổ phần hóa.
Như vậy chiếm tỉ trọng lớn nhất trong vốn CSH là vốn của TCTD. Mặc dù năm 2012 có nhiều
khó khăn nhưng BIDV vẫn đạt được mức tăng vốn đáng kể, đây là thành tích đáng ghi nhận
chứng tỏ niềm tin của công chúng đầu tư, sự sát cánh và tin tưởng của các cổ đông, chủ sở hữu
với NH trong dài hạn. Hoạt động kinh doanh còn chú trọng cho việc trích lập các quỹ. Đây là
một sự quản lý vốn an toàn và hợp lý, nhất là trong bối cảnh nợ xấu như hiện nay.
Bên cạnh đó, ROE của năm 2012 giảm so với năm 2011 còn vì lợi nhuận sau thuế của BIDV
giảm.
2011 2012
So sánh
(%)
Thu nhập lãi thuần 12,638,956 9,332,822 (3,306,134) (26.158)
Lãi lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ 2,157,205 1,440,431 (716,774) (33.227)
Lãi lỗ thuần từ hoạt động kinh
So sánh lãi ròng năm 2011 và 2012 của các ngân hàng (Đv: tỷ đồng)
7/9 Ngân hàng ở trên đều có mức tăng trưởng âm do năm 2012 là năm được đánh giá là có nhiều
thách thức và khó khăn đối với ngành ngân hàng. Đây là năm đầu tiên của quá trình tái cấu trúc
nền kinh tế của chính phủ, đặc biệt là tái cấu trúc ngành ngân hàng.
So sánh vốn điều lệ, tổng tài sản và lãi ròng năm 2012 của các ngân hàng (Đv: Tỷ đồng)
Tuy tình hình kinh tế bất ổn, nhưng ROE của BIDV năm 2011 và 2012 vẫn duy trì đươc ở mức
tương đối cao và cao hơn so với trung bình ngành. Thậm chí trong năm 2012, chỉ số ROE của
BIDV còn cao hơn chỉ số ROE trung bình của nhóm NHTM nhà nước (10.34%). Điều này cho
thấy hiệu quả của BIDV trong quản lý vốn, và cho thấy sự hấp dẫn khi đầu tư vào đây vì thu
nhập mà các cổ đông thu được từ việc đầu tư vào BIDV ở mức tương đối cao.
Bảng cơ cấu tỷ trọng lợi nhuận của các mảng hoạt động của BIDV
Dựa vào biểu đồ, ta thấy thu nhập lãi thuần chiếm tỉ trọng lớn trong tổng thu nhập ròng của ngân
hàng. Đây là mảng gắn liền mật thiết với nghiệp vụ tín dụng_ hoạt động truyền thống và là thế
mạnh của BIDV. Tuy nhiên thu nhập lãi thuần năm 2012 lại giảm so với năm 2011. Trong những
tháng cuối của năm 2012, tuy thị trường ngân hàng có được sự hỗ trợ lớn từ những chính sách
nới lỏng hơn của ngân hàng nhà nước, song do nhu cầu vay của doanh nghiệp sụt giảm nên thu
nhập lãi thuần của BIDV vẫn thấp hơn so với năm trước. Đặc biệt sự kiện ông Trần Đức Kiên bị
bắt đã đem lại những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của NHTM. Số lượng người đến ngân
hàng rút tiền tăng lên rõ rệt, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng. Tuy NHNN đã kịp
thời hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, nhưng những ảnh hưởng của sự việc đến khối
NHTM cổ phần là điều có thể nhìn thấy được, trong đó bao gồm cả ảnh hưởng đến lòng tin của
người gửi tiền và nhà đầu tư đối với tính minh bạch của ngân hàng. Về tăng trưởng tín dụng, dù
toàn hệ thống năm nay chỉ tăng trưởng có 8,91% song BIDV đạt mức tăng tín dụng lên tới
16,5%. Dù đối diện với nhiều khó khắn trong bối cảnh chung của nền kinh tế thế giới và Việt
Nam nhưng BIDV vẫn có những bước phát triển nhất định.
Riêng với hoạt động huy động và cho vay, ta có thể thấy cụ thế qua thuyết minh BCTC:
(đv: triệu đồng)
Chỉ tiêu 2011
Tỷ trọng
(%)
Thu từ kinh doanh ngoại tệ giao ngay 715,312 338,385 (376,927)
Thu từ các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ 190,383 168,292 (22,091)
CP hoạt động KD ngoại hối (591,277) (259,245) 332,032
Chi về KD ngoại tệ giao ngay (457,744) (162,149) 295,595
Chi về các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ (133,533) (97,096) 36,437
Lãi/lỗ thuần từ KD ngoại hối 314,418 247,432 (66,986)
Nếu như trong năm 2011, ngân hàng nhà nước đã có lần điều chỉnh tỉ giá mạnh trên thị trường
ngoại hối và vàng thì năm 2012, tỷ giá lại được giữ ở mức ổn định. Đồng thời năm 2012 cũng là
năm ghi dấu bước ngoặt quan trọng của thị trường vàng. Ngày 25/11/2012 NHNN yêu cầu các
TCTD phải chấm dứt các hoạt động huy động mới và cho vay vốn bằng vàng. Chỉ có các TCTD
gặp khó khăn về thanh khoản mới được gia hạn huy động, nhưng kỳ hạn không vượt quá ngày
30/06/2013. Cơ chế quản lý kinh doanh vàng của NHNN cũng dần lộ diện rõ nét hơn, như: (i)
Vàng miếng SJC trở thành thương hiệu vàng quốc gia; và NHNN sẽ độc quyền sản xuất vàng
SJC. (ii) Hoạt động huy động – cho vay vốn bằng vàng sẽ được chuyển qua giữ hộ, và quan hệ
mua – bán. Thực tế cho thấy, người dân hoàn toàn bị động trong việc tiếp cận thông tin và hành
động; trong khi đó các công ty sản xuất và kinh doanh vàng miếng dường như đang là người chủ
động điều khiển “cuộc chơi”. Chênh lệch giữa giá vàng thương hiệu SJC và vàng thế giới hiện
vẫn cao hơn mức 3 triệu đồng/lượng, thậm chí có lúc lên 4 triệu đồng/lượng. Tương tự, chênh
lệch giá vàng thương hiệu SJC và một số loại vàng thương hiệu khác như Thăng Long, Agribank
cũng rất lớn, dao động trong khoảng 1 - 3 triệu đồng/lượng. Đối với những người sử dụng vàng
làm phương tiện tích trữ,nếu đồng tiền Việt Nam ổn định thì nhu cầu nắm giữ vàng miếng SJC sẽ
giảm. Còn đối với những người đầu tư hay đầu cơ vàng thì họ lại quan tâm đến biến động của thị
trường vàng. Thị trường vàng thế giới trong năm 2012 tương đối ổn định còn thị trường vàng
Việt Nam lại ngày càng bị siết chặt hơn. Trước đây, các ngân hàng được phép kinh doanh vàng
qua tài khoản ở nước ngoài và huy động vàng trong dân cư, nay không được phép nữa. Mọi hoạt
động kinh doanh vàng sẽ bắt đầu từ NHNN qua các hình thức mới. Hiện nay, để hạn chế các
NHTM đầu cơ, NHNN đã ban hành quy định về trạng thái vàng của các NHTM không được quá
2% vốn chủ sở hữu, nếu giữ vượt tỷ lệ các NHTM này phải bán cho đơn vị khác. Trong bối cảnh
như vậy, BIDV cần phải quan tâm, kiểm soát chặt chẽ hơn nữa về khoản mục này.
1.2 Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
484,695,976
78,940,522
19.455
Tiền mặt bằng VND
2,764,983
2,631,752
(133,231)
(4.819)
TSCĐ
3,640,938
4,233,094
592,156
16.264
Tổng TS có sinh lời
399,349,533
477,831,130
1.953
(1.212)
(38.286
)
Tỉ lệ NIM của BIDV năm 2012 giảm so với năm 2011 ( giảm 1.212%, tương ứng với tốc độ
giảm là 38.286%). Điều này cho thấy hiệu quả của việc kiểm soát tài sản sinh lời và các nguồn
vốn có chi phi thấp của NH đă giảm dần. Nguyên nhân của việc này là so thu nhập lãi thuần
giảm trong khi tổng tài sản có sinh lời tăng. Việc NHNN tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận
trọng khiến nguồn cung tiền ra thị trường bị hạn chế, mặt khác động thái giảm dần trần lãi suất
huy động của NHNN trong thời gian gần đây cũng có thể khiến các ngân hàng tiếp tục gặp khó
khăn trong việc thu hút tiền gửi VND, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ và yếu. Cạnh tranh huy
động vốn sẽ khiến chi phí trên một đồng vốn huy động gia tăng. Tăng trưởng tín dụng nhanh
trong những năm gần đây, theo đó là việc thắt chặt tín dụng trong năm 2011 và việc suy giảm
nghiêm trọng thị trường bất động sản và chứng khoán đã tạo thêm nhiều áp lực đối với ngân
hàng. Đến năm 2012, kinh tế thế giới và Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn khiến người dân thắt
chặt chi tiêu, cầu tiêu dùng giảm, gián tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng.
Bên cạnh đó, cầu tiêu dùng giảm cũng khiến doanh nghiệp tiếp tục phải thu hẹp sản xuất hoặc
hoạt động cầm chừng.
Chỉ số NIM giảm cho thấy tốc độ tăng trưởng chi phí từ lãi cao hơn so với tốc độ tăng trưởng
nguồn thu từ lãi. Ngân hàng cần tiếp tục áp dụng các biện pháp tối đa hóa các nguồn thu từ lãi và
giảm thiểu chi phí trả lãi.
1.4 Tỉ lệ thu nhập ngoài lãi ròng (N-NIM)
N-NIM =
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu 2011 2012
So sánh
%)
25,766
1,592
(24,174)
(93.821
)
TN khác
1,199,447
502,833
(696,614)
(58.078
)
TN từ góp vốn mua cổ
phần
115,046
63,023
(52,023)
(45.219
)
15.340
N-NIM
1.319
0.698
(0.621)
(47.095
)
Tỉ lệ thu nhập ngoài lãi ròng của ngân hàng tại năm 2012 giảm 0.621 so với năm 2011 (tương
ứng với tốc độ giảm là 47.095%). Điều này cho thấy chênh lệch giữa thu ngoài lăi và chi ngoài
lăi đang ngày càng lớn. Nguyên nhân là do chi ngoài lăi tăng với tốc độ lớn hơn nhiều so với thu
ngoài lăi và tốc độ tăng chênh lệch này cũng lớn hơn so với tốc độ tăng của tài sản bình quân.
Như vậy, để hướng tới mô hình hoàn thiện, toàn diện và hiện đại, ngân hàng cần chú trọng hơn
tới các dịch vụ ngoài lãi, mở rộng đối tượng khách hàng và danh mục sản phẩm, thay vì quá chú
tâm tới mảng hoạt động tín dụng. Ngân hàng cần có những chiến lược để phân bổ nguồn lực hiệu
quả hơn nữa.
2 Phân tích ROA và ROE theo phương pháp Dupont
2.1 ROE
ROE =
ROE =
ROE = Tỷ lệ sinh lời hoạt động
Tỷ lệ hiệu quả sử dụng
tài sản
Tỷ trọng VCSH
Hay ROE = NPM AU EM
năm ROE = NPM × AU × EM
ròng
-
Khoản phân bổ dự
phòng tổn thất TD
-
Thuế
Tổng TS bq Tổng TS bq Tổng TS bq Tổng TS bq
Ta có bảng sau:
Chỉ tiêu 2011 2012
So sánh
%)
thu lãi
44,557,111
32,591,605
(11,965,506)
(26.854
)
CP trả lãi
(31,918,155)
(23,258,783)
8,659,372
(27.130
)
TN ngoài lãi thuần
2,775,522
2,277,439
(498,083)
(17.946
)
Dự phòng tổn thất RRTD
(4,542,126)
(3,565,973)
976,153
21.491
Thuế
(1,020,265)
(934,947)
85,318
(8.362)
Dựa vào bảng trên ta thấy tỷ lệ phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng giảm do cả thu nhập lãi thuần