1. Lịch sử hình thành, phát triển công ty XNK thủ công mỹ nghệ.
Tổng công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ tên giao dịch đối ngoại
là: Việt Nam National art and Handeraft produets Export - Import Company
(viết tắt là: ARTEXPORT) đợc thành lập theo quyết định số 617/BNT -
TCTB ngày 23/12/1964 của Bộ Ngoại thơng. Sau khi sát nhập hai Bộ Ngoại
thơng và Bộ Nội thơng thành lập Bộ Thơng mại thì công ty đợc thành lập lại
theo quyết định số 334/TM - TCCB ngày 31/3/1993 của Bộ Thơng Mại. Giấy
phép đăng ký kinh doanh số 108474 ngày 14 14/05/1993 do trọng tài kinh tế
Nhà nớc cấp. ARTEXPORT là doanh nghiệp Nhà nớc, hoạt động xuất nhập
khẩu, có t cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định, có
con dấu riêng, có tài sản và các quĩ tập trung đợc mở tài khoản trong và
ngoài nớc, đợc tổ chức và hoạt động theo điều lệ Tổng công ty.
Hiện nay công ty có các đơn vị hạch toán trực thuộc công ty:
- Tại Hải phòng: Công ty giao nhận và dịch vụ XNK thủ công Mỹ
Nghệ.
- Địa chỉ: 23 phố Đà Nẵng - Hải Phòng
- Tại thành phố Hồ Chí Minh: Văn phòng đại diện công ty XNK thủ
công mỹ nghệ.
- Địa chỉ: 31 Trần Quốc Thảo - Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh
- Tại Đà nẵng: công ty XNK Đà Nẵng.
- Địa chỉ: 74 phố Trng Nữ Vơng - Đà Nẵng
- Tại Hà Nội: Trụ sở chính của công ty 31 - 33 Ngô quyền, quận Hoàn
Kiếm thành phố Hà Nội.
- Xởng thêu Láng Hạ, Bạch Mai
- Xởng gỗ Thanh Lâm, Thanh Trì Hà Nội
- Cửa hàng 37 Hàng Khay.
2. Thời kỳ từ1964 - 1989, công tác XNK của công ty chủ yếu thực hiện
xuất khẩu theo kim ngạch, theo nghị định th. Thị trờng xuất khẩu chính thời
kỳ này là Liên xô cũ, các nớc Đông Âu và một số rất ít các nớc TBCN nh
Hồng Kông, Đan Mạch... Thời kỳ này để có nhiều hàng xuất khẩu bảo đảm
1
2
hàng. Nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng đã ký kết, luôn luôn
giữ uy tín của công ty bằng cách đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng về
mẫu hàng, chất lợng hàng, thời gian chào hàng... Công ty áp dụng các hình
thức bán hàng trực tiếp, hàng đổi hàng, mua bán qua môi giới, đại lý gửi bán,
có độc quyên hoặc giới hạn thị trờng tiêu thụ. Công ty áp dụng phơng thức
thanh toán mở L/C thông thờng, mở L/C thanh toán bằng điện, D/P trả chậm,
D/A...
Việc kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng mở rộng và phát triển làm
cho các doanh thu của công ty mỗi năm một tăng và thu nhập bình quân của
cán bộ công nhân viên ngày càng đợc cải thiện.
3. Chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp.
a. Nhiệm vụ của doanh nghiệp:
Công ty có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm
thực hiện cho đợc muc đích và nội dung hoạt động của Công ty.
- Nghiên cứu khả năng sản xuất nhu cầu thị trờng, kiến nghị và đề xuất
với Bộ thơng mại và Nhà nớc các biện pháp giải quyết các vấn đề vớng mắc
trong sản xuất kinh doanh.
- Tuân thủ luật pháp của Nhà nớc về quản lý kinh tế tài chính, quản lý
xuất nhập khẩu và giao dịch đối ngoại, nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết
trong hợp đồng mua bán ngoại thơng và các hợp đồng liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đồng thời sự tạo các
nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh, đầu t mở rộng sản xuất, đổi mới trang
thiết bị, tự bù đắp chi phí, tự cân đối giữa xuất nhập khẩu, đảm bảo việc thực
hiện sản xuất, kinh doanh có lãi và làm nghĩa vụ nộp ngân sách với Nhà nớc.
- Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lợng
các mặt hàng do Công ty sản xuất kinh doanh nhằm tăng sức cạnh tranh và
mở rộng thị trờng tiêu thụ.
doanh tiếp nhận các chỉ tiêu giao nộp cho giám đốc và đến cuối kỳ kinh
4
doanh báo cáo kết quả kinh doanh của đơn vị mình với giám đốc. Các phòng
ban chức năng có nhiệm vụ giúp việc và chịu sự quản lý của giám đốc, cung
cấp thông tin thuộc chức năng của mình, tạo điều kiện cho ban lãnh đạo ra
các quyết định chỉ đạo đúng đắn kịp thời .
Đầu kỳ kinh doanh, mỗi đơn vị, phòng kinh doanh đều đợc giao các chỉ
tiêu kế hoạch. Trong quá trình kinh doanh, đơn vị phải tự lo nguôn hàng, tự
tổ chức kinh doanh. Đến cuối kỳ kinh doanh, đơn vị nào hoàn thành vợt kế
hoạch mà công ty giao lúc đầu kỳ thì ngoài các khoản phải nộp nghiã vụ cho
cấp trên theo quy định thì thu nhập của cán bộ công nhân viên trong đơn vị
sẽ tăng thêm. Ngợc lại, đơn vị nào kinh doanh không có hiệu quả, thu nhập
thấp sẽ không đảm bảo nghĩa vụ với cấp trên, thu nhập của cán bộ công nhân
viên của đơn vị đó sẽ thấp đi. Đây là động cơ khuyến khích cho các đơn vị
ngày càng cố gắng phấn đấu kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Về mặt tổ chức, không kể các chi nhánh và các văn phòng đại diện,
công ty gồm 32 phòng ban và đợc chia làm hai khối:
+ Khối các đơn vị quản lý và khối các đơn vị kinh doanh: Từng phòng
ban đều có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, những giữa các phòng ban đều có
mối quan hệ mật thiết với nhau.
+ Khối các đơn vị quản lý: Để phục vụ cho việc thực hiện quy chế quản
lý kinh tế, tài chính của công ty, các đơn vị quản lý đợc quy định các nhiệm
vụ sau:
- Phòng tổ chức cán bộ: Giúp các đơn vị tổ chức, sắp xếp và quản lý lao
động nhằm sử dụng nhân sự hợp lý và có hiệu quả lực lợng lao động của
công ty. Nghiên cứu các biện pháp và tổ chức thực hiện việc giảm các lao
động gián tiếp của công ty. Nghiên cứu và xây dựng các phơng án nhằm
hoàn thiện việc trả lơng và phân phối tiền lơng thởng trình giám đốc.
- Phòng kế toán - kế hoạch: Khai thác mọi nguồn vốn cho các đơn vị
hoạt động, tham mu cho giám đốc xét duyệt các phơng án kinh doanh và
phạm vi chi tiêu của văn phòng. Phân bổ chi phí sử dụng ô tô, điện thoại,
fax, telex, chi phí tiếp khách cho các đơn vị thuộc công ty.
+ Khối các đơn vị kinh doanh:
6