Định hướng chuyển dịch cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu trong điều kiện tự do hoá thương mại - Pdf 11

Lời mở đầu
Xuất khẩu - một vấn đề mang tính thời sự của Việt Nam, là hớng u tiên và
trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Đẩy mạnh xuất khẩu nghĩa là tạo động lực
cho công nghiệp hóa đất nớc, cho sự phát triển và tăng trởng nền kinh tế mở.
Việt Nam đang tham gia tích cực vào quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, có
nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa ra thị trờng thế giới.
Hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, góp phần quan
trọng vào sự nghiệp đổi mới kinh tế trong những năm vừa qua. Tuy nhiên cũng
còn bộc lộ nhiều vấn đề cần đợc nghiên cứu, hoàn thiện. Trong đó có vấn đề về
cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung và cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu
nói riêng cha hợp lý, cha khai thác hết tiềm năng và lợi thế của đất nớc làm cho
hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu cha cao. Mặt khác, trong xu hớng tự do hóa
thơng mại trên thế giới sự hội nhập của Việt Nam vào các tổ chức thơng mại
quốc tế và khu vực đòi hỏi cơ cấu xuất khẩu cần có sự chuyển biến toàn diện,
sâu sắc.
Từ những thực tiễn khách quan trên đây, một yêu cầu cấp bách đợc đặt ra
là phải chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu nói chung và cơ cấu mặt hàng nông sản
xuất khẩu nói riêng của Việt Nam hiện nay nh thế nào, làm thế nào để thay đổi
có cơ sở khoa học, có tính khả thi và đặc biệt là phải dịch chuyển nhanh trong
điều kiện tự do hoá thơng mại nh hiện nay.
Với lý do đó đã chọn đề tài nghiên cứu Định hớng chuyển dịch cơ cấu
hàng nông sản xuất khẩu trong điều kiện tự do hóa thơng mại nhằm đa ra
những lý luận cơ bản về cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu; khảo sát thực trạng và
đề ra các giải pháp chuyển dịch cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
trong những năm tới.
Đề tài này đợc kết cấu làm 3 phần:
Phần I - Cơ sở lý luận chuyển dịch cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu
trong điều kiện tự do hoá thơng mại
Phần II - Thực trạng chuyển dịch cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu của
Việt Nam trong giai đoạn 1991 2001
Phần III - Phơng hớng chuyển dịch cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu ở

cơ cấu là một tổng thể các mối quan hệ tác động quan hệ lẫn nhau giã các yếu
tố và trong từng yếu tố của tổng thể. Nh vậy phải hiểu cơ cấu không chỉ qui
định về số lợng và tỷ lệ giữa các yếu tố tạo nên hệ thống mà chính là mối quan
hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống, còn các quan hệ số lợng, tỷ lệ chỉ đợc
xem nh biểu hiện của các mối quan hệ mà thôi. Nh vậy có thể định nghĩa cơ cấu
của một đối tợng hay một hệ thống là tổng thể các yếu tố hợp thành cùng với
các mối quan hệ hữu cơ tơng đối ổn định giữa các yếu tố đó trong những thời
điểm nhất định ở một thời kỳ nhất định.
Từ đó có thể hiểu, cơ cấu kinh tế là cách sắp xếp các thành phần, các
yếu tốvà mối liên hệ giữa chúng trong nền kinh tế quốc dân nhằm thực hiện
nhiệm vụ, mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân vào những giai đoạn lịch
sử nhất định
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm và thực tiễn của nớc ngoài. Các kinh tế
Việt Nam cho rằng Khái niệm về cơ cấu kinh tế bao gồm ba nội dung: Cơ cấu
ngành kinh tế quốc dân (KTQD), cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần
kinh tế
(1)
Nh vậy, theo quan niệm trên thì các bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh
tế gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu vùng lãnh thổ
3
và giữa chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau. Tình trạng cơ cấu của một nớc
phản ánh sự nhịp nhàng về kinh tế xã hội của một quốc gia đó.
Trong đó mỗi bộ phận của cơ cấu kinh tế có vị trí riêng trong nền kinh tế
quốc dân. Trong bài viết này, chỉ phân tích sâu về cơ cấu ngành kinh tế. Nội
dung của từng bộ phận đó thể hiện nh sau:
Cơ cấu ngành kinh tế:
Khi đánh giá sự phát triển một nền kinh tế, các nhà kinh tế thờng xem xét
đến cơ cấu ngành kinh tế thể hiện nh thế nào? Tỷ trọng giữa các ngành kinh tế
trong nền kinh tế quốc dân. Thông qua đó, mà nhận định với cơ cấu ngành nh
vậy có còn thích hợp với điều kiện của đất nớc hay không? Điều đó nói lên rằng

đúng yêu cầu thị trờng đặt ra.
Cơ cấu ngành Thơng Mại dịch vụ là một bộ phận quan trọng của cơ cấu
ngành kinh tế quốc dân, có tác động nhiều mặt tới các ngành và các lĩnh vực
khác của nền kinh tế quốc dân. Trong những năm gần đây cơ cấu hàng hoá xuất
nhập khẩu đợc Nhà nớc đặc biệt coi trọng. Bởi lẽ, đẩy mạnh đợc xuất khẩu điều
đó có nghĩa chúng ta đã biết khai thác những lợi thế sẵn có của đất nớc, bên
cạnh đó thu đợc nguồn ngoại tệ giúp tạo cơ sở vật chất, các vấn đề về xã hội
cũng đợc giải quyết: đó tạo công ăn việc làm
Cơ cấu thành phần kinh tế
Hiện nay nớc ta có 5 thành phần kinh tế:
- Kinh tế quốc doanh
- Kinh tế hợp tác xã
- Kinh tế cá thể
- Kinh tế t bản t nhân
- Kinh tế t bản Nhà nớc
Trong 5 thành phần kinh tế nêu trên, kinh tế quốc doanh đang chiếm giữ vị
trí quan trọng và có mặt trong nhiều ngành kinh tế và ở nhiều vùng kinh tế lãnh
thổ; kinh tế tập thể cũng ngày càng đợc mở rộng và tồn tại trong các ngành sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp, thơng mại dịch vụ, kinh tế cá thể ngày
một lớn mạnh trên cơ sở tận dụng mọi nguồn lực cả về vốn, lao động và phát
huy vai trò sáng tạo, chủ động của mọi ngời dân.
Cơ cấu vùng lãnh thổ:
Nớc ta gồm có 8 vùng kinh tế lãnh thổ :
- Vùng Tây Bắc
- Vùng Đông Bắc
- Vùng Đồng bằng Sông Hồng
- Vùng Bắc Trung Bộ
- Vùng Nam Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
- Vùng Tây Nguyên
- Vùng Đông Nam Bộ

2.1 Nội dung của cơ cấu hàng xuất khẩu
Cơ cấu hàng xuất khẩu là tỷ lệ tơng quan giữa các ngành, mặt hàng xuất
khẩu hoặc tỷ lệ tơng quan giữa các thị trờng xuất khẩu
Thơng mại là một lĩnh vực trao đổi hàng hoá đồng thời là một ngành kinh
tế kỹ thuật có chức năng chủ yếu là trao đổi hàng hoá thông qua mua bán bằng
tiền, mua bán tự do trên cơ sở giá cả thị trờng. Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu là
một phân hệ của cơ cấu thơng mại, là tổng thể các mối quan hệ chủ yếu, tơng
đối ổn định của các yếu tố kinh tế hoặc các bộ phận của lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất thuộc hệ thống kinh doanh thơng mại trong điều kiện lịch sử
cụ thể. Nếu xem xuất khẩu là một hệ thống độc lập tơng đối, cơ cấu xuất khẩu
bao gồm nhiều phân hệ cơ cấu có liên quan hữu cơ với nhau nh phân hệ cơ cấu
theo ngành và nhóm hàng, theo thị trờng nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam,
theo thành phần kinh tế và theo trình độ kỹ thuật
Khi xem xét cơ cấu hàng hoá, đối với Việt Nam thờng xem xét dới góc độ
nhóm ngành. Vậy cơ cấu hàng xuất khẩu bao gồm những nhóm ngành chủ yếu:
6
Công nghiệp nặng và khoáng sản ; công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp;
nông sản; lâm sản; thuỷ sản;
2.2 ý nghĩa của chỉ tiêu cơ cấu hàng xuất khẩu
Khi nghiên cứu thơng mại quốc tế và hoạt động xuất khẩu của các quốc
gia, ngời ta thờng xem xét đến chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu và sự tăng trởng
các chỉ tiêu này qua các năm. Chỉ tiêu này cho thấy sự phát triển chung, tổng
thể về xuất khẩu của một nớc nhng lại không cho biết trình độ phát triển thật sự
của hoạt động xuất khẩu. Bởi vì thông qua chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu hay tốc
độ tăng của xuất khẩu chỉ đánh giá đợc sự phát triển năm này qua năm khác
trên bề mặt của vấn đề, chứ không thể khẳng định đợc rằng tốc độ xuất khẩu
tăng điều đó là đã đạt đợc hiệu quả cao trong qua trình khai thác các lợi thế sẵn
có. Bên cạnh đó, chúng ta phải thấy rằng các lợi thế không tồn tại cùng với thời
gian, đến một thời điểm nào đó trong tơng lai các lợi thế này sẽ giảm dần giá trị
nhất là các lợi thế truyền thống (tài nguyên và nhân lực). Đối với các nớc đang

ngoài đặc tính tự nhiên, chúng còn có vai trò quan trọng khác nhau đối với nền
kinh tế của mỗi quốc gia. Trên cơ sở phân tích cơ cấu này, ngời ta có thể thấy rõ
sự phát triển và hiệu qủa xuất khẩu của mỗi quốc gia đó. Tuỳ theo mục đích cụ
thể khi nghiên cứu ngời ta có thể lựa chọn tiêu thức để phân loại các mặt hàng
nông sản xuất khẩu.
Theo phân loại của FAO, hàng nông sản hay là tập hợp của nhiều nhóm
hàng khác nhau, nh nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới, nhóm hàng ngũ cốc,
nhóm hàng thịt và các loại sản phẩm thịt, nhóm hàng sữa và các sản phẩm sữa,
nhóm hàng nông sản nguyên liệu, nhóm hàng dầu mỡ và các sản phẩm Trong
mỗi nhóm hàng lại bao gồm nhiều mặt hàng và những tên gọi cụ thể; Ví dụ nh,
nhóm hàng các sản phẩm nhiệt đới, bao gồm các sản phẩm chủ yếu nh cà phê,
cacao, chè, chuối, các loại có múi, hạt tiêu
ở Việt Nam khi đánh giá tình hình cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu thờng
sử dụng các tiêu thức cụ thể sau:
2.3.1.1 Cơ cấu nhóm hàng nông sản xuất khẩu
Cơ cấu nhóm hàng nông sản xuất khẩu là tỷ lệ phần trăm của kim ngạch
các hàng hoá nông sản xuất khẩu chiếm trong tổng kim ngạch hàng nông sản
xuất khẩu hoặc trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế quốc dân
x
i,j
100
Cơ cấu nhóm hàng =
nông sản xuất khẩu f (Kim ngạch các hàng hóa nông sản;
Tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế quốc dân)
Trong đó: x
i j
là kim ngạch của mặt hàng xuất khẩu i ở nhóm j
2.3.1.2 Cơ cấu từng mặt hàng nông sản xuất khẩu
Đó là tỷ lệ phần trăm của kim ngạch từng mặt hàng nông sản xuất khẩu
chiếm trong tổng kim ngạch hàng nông sản hoặc hàng hoá xuất khẩu trong nền

Theo giống lúa có gạo thờng, gạo tám thơm, gạo dẻo
Trong số các mặt hàng nông sản kể trên, những mặt hàng có kim ngạch
lớn, có kim ngạch nhiều là gạo, cà phê, cao su, chè, hạt tiêu
2.3.1.3 Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu theo thị tr ờng
Thực hiện phơng châm đa dạng hoá, đa phơng hoá trong quan hệ Quốc tế.
Trong những năm qua Việt Nam đã đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế: mở rộng mạnh mẽ quan hệ kinh tế song phơng và đa phơng; phát triển quan
hệ đầu t với gần 70 nớc và lãnh thổ; bình thờng hoá quan hệ với các tổ chứcc tài
chính tiền tệ quốc tế nh Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Châu á
(ADB); gia nhập Hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN) và khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA); tham gia sáng lập Diễn đàn á - Âu (ASEM); gia nhập
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC); trở thành quan sát
viên của Tổ chức Thơng mại thế giới (WTO) và đang tiến hành đàm phán để gia
nhập tổ chức này. Nớc ta cũng đã kí Hiệp định khung về hợp tác kinh tế với
9
Liên minh Châu Âu (EU) và Hiệp định Thơng mại song phơng với Hoa Kỳ theo
chuẩn mực của Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). Điều này sẽ tạo điều kiện
thuận lợi cũng nh thách thức đối vơi nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt
động xuất khẩu nói riêng
Cơ cấu thị trờng hàng hóa nông sản xuất khẩu là giá trị kim ngạch hàng
hoá nông sản xuất khẩu vào các nớc ( các thị trờng ) khác nhau và tỷ trọng của
từng thị trờng xuất khẩu chiếm trong tổng số
Về cơ cấu thị trờng ngời ta chia Châu Lục: Thị trờng Châu á - Thái Bình
Dơng, Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Phi
Trong từng Châu Lục lại chia theo vùng, ví dụ Châu á chia ra các nớc
ASEAN, các nớc Đông Nam á, Trung Quốc, nh vậy cũng có thể có những chỉ
tiêu đánh giá thị trờng xuất khẩu
a. Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu nói chung theo thị trờng cụ thể
Ví dụ: Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu vào thị trờng cụ thể nh thị trờng
Châu á, Châu Âu, Châu Mỹ

Trong nông nghiệp có một thời gian dài chúng ta mới chỉ chú ý vào xuất
khẩu các mặt hàng nông sản có nguồn gốc từ trồng trọt nh: gạo, chè, cà phê,
cao su mà sao lãng đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản có nguồn gốc từ
vật nuôi nh: Gia cầm, gia súc trong nông nghiệp
Cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản chăn nuôi và trồng trọt là tỷ trọng xuất
khẩu các mặt hàng có nguồn gốc từ chăn nuôi ( hoặc trồng trọt) trong tổng kim
ngạch hàng nông sản xuất khẩu nói chung
Tóm lại: Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu là một hệ thống các chỉ tiêu có
liên quan qua lại với nhau trong quá trình phân tích cơ cấu xuất khẩu đòi hỏi
phải phân tích cơ cấu xuất khẩu đòi phải phân tích toàn diện, đầy đủ hệ thống
các chỉ tiêu nói trên mới có kết luận cụ thể. Tuy nhiên trong thực tế ngời ta th-
ờng chú ý vào các chỉ tiêu: Cơ cấu nhóm hàng nông sản xuất khẩu; cơ cấu mặt
hàng; cơ cấu thị trờng và cơ cấu mức độ chế biến hàng nông sản là những chỉ
tiêu quan trọng
2.3.2 Chuyển dịch cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu trong điều kiện tự
do hoá thơng mại
Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu hàng hoá nói chung là sự thay đổi các mối
quan hệ đã đợc hình thành giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất, đặc biệt
là quan hệ giữa các ngành hàng toàn bộ hàng hoá xuất khẩu hoặc giữa các thị
trờng xuất khẩu và thay thế vào đó là một cơ cấu xuất khẩu mới thích hợp hơn.
Và trong thực tiễn khi nói đến chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, chúng ta phải nhìn
nhận nh là một cuộc cách mạng về xuất khẩu đòi hỏi sự thay đổi toàn diện, sâu
sắc, tất cả các bộ phận cấu thành của nền kinh tế, liên quan đến sản xuất, chế
biến, xuất khẩu và sự quản lý kinh tế của Nhà nớc. ở đây chỉ xin trình bày vắn
tắt các nội dung
2.3.2.1 Khái niệm về sự dịch chuyển cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu
Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu nh đã trình bày ở trên là cơ cấu động luôn
thay đổi theo từng thời kỳ bởi các yếu tố cấu thành nên cơ cấu này không cố
11
định Chuyển dịch cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu là sự thay đổi một phần

Song xuất khẩu nói chung xuất khẩu hàng nông sản nói riêng chỉ là một khâu
trong quá trình tái sản xuất và là một bộ phận trong tổng thể nền kinh tế nói
chung cho nên một mặt nó giữ vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói
chung theo hớng CNH, HĐH; mặt khác với t cách là chủ thể vừa diễn ra trong
quá trình CNH, HĐH lại vừa diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu trong bản
thân lĩnh vực xuất khẩu
12
Thứ hai, trong quá trình hội nhập vào khu vực và quốc tế muốn nâng cao
hiệu quả của xuất nhập khẩu nói chung và xuất khẩu mặt hàng nông sản nói
riêng cũng đòi hỏi phải thay đổi cơ cấu xuất khẩu. Ví dụ theo tính toán mức gạo
xuất khẩu của Việt Nam chỉ ở khoảng 4,5 5 triệu tấn/năm để nâng cao hiệu
quả đòi hỏi chúng ta phải thay đổi cơ cấu xuất khẩu gạo để tiếp tục nâng cao lợi
ích xuất khẩu
Thứ ba, những thay đổi trong cơ cấu xuất khẩu trên thị trờng quốc tế có
những chiều hớng mới, các xu hớng rõ nét nhất là:
- Xuất khẩu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân
của các quốc gia, thể hiện mức độ mở cửa của các nền kinh tế quốc gia trên thị
trờng thế giới
- Tốc độ tăng trởng của hàng hoá vô hình nhanh hơn các hàng hoá hữu
hình
- Giảm đáng kể tỷ trọng các nhóm hàng, lơng thực, thực phẩm
- Giảm mạnh tỷ trọng của nguyên liệu, tăng nhanh tỷ trọng của dầu mỏ và
khí đốt
- Tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế biến nhất là máy móc
thiết bị
Tình hình trên bắt buộc Việt Nam phải thay đổi cơ cấu xuất khẩu nói
chung và hàng hoá nông sản nói riêng
Thứ t, chỉ có thay đổi cơ cấu xuất khẩu hàng nông sản chúng ta mới phát
huy thế mạnh lợi thế của đất nớc về nguồn lao động dồi dào, tài nguyên thiên
nhiên phong phú và vị trí địa lý thuận lợi đồng thời khắc phục đợc yếu kém về

thuật, quan hệ giữa các nớc trên thế giới ngày càng chặt chẽ, thị trờng thế giới
cũng đã hình thành. Mà giữa thị trờng các nớc với nhau, giữa thị trờng các nớc
với thị trờng thế giới đều có sự chế ức lẫn nhau, ảnh hởng lẫn nhau và không thể
tách rời nhau, nếu một nớc nào đó tự cô lập thì sự phát triển kinh tế sẽ bị trở
ngại. Chính vì điều này, mà xu thế ngày nay là mở cửa hội nhập vào nền kinh tế
thế giới. Đối với nền kinh tế nhỏ bé nh Việt Nam cũng không đi lệch quỹ đạo
chung của thế giới, sự mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam
đợc thông qua xuất, nhập khẩu. Đẩy mạnh xuất khẩu nói chung và chuyển dịch
cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu nói riêng là biện pháp thiết thực để khai
thác những lợi thế của nền kinh tế nớc ta. Theo đánh giá của các nhà kinh tế thì
lợi thế chủ yếu của Việt Nam là:
Thứ nhất, đó là nguồn lao động dồi dào với giá nhân công tơng đối rẻ, t
chất của con ngời Việt Nam thông minh. Nớc ta với quy mô gần 80 triệu ngời,
trong đó những ngời lao động trong độ tuổi lao động chiếm tỷ trọng lớn, số ngời
cha có việc làm và đang tìm việc làm đông. Ngời lao động Việt Nam có tỷ lệ
biết chữ cao, có t chất thông minh, tiếp thu nhanh, cần cù nên đào tạo thành ng-
ời lao động lành nghề có kỹ thuật không tốn thời gia và tiền của, có thể có điều
kiện tham gia tích cực vào phân công lao động Quốc tế
Tuy nhiên, ngời lao động Việt Nam còn hạn chế về thể lực, về trình độ tổ
chức kỷ luật, về khả năng hợp tác với nhau trong công việc
Thứ hai, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú tài nguyên
thiên nhiên Việt Nam rất phong phú và đa dạng bao gồm đất đai, khoáng sản,tài
nguyên rừng, tài nguyên biển. Đất đai, khí hậu cho phép phát triển một nền
14
nông nghiệp nhiệt đới bao gồm các lơng thực, thực phẩm, các loại cây trồng, vật
nuôi có khả năng xuất khẩu cao
Thứ ba, vị trí thuận lợi. Vị trí địa lý của Việt Nam nằm trên các đờng hàng
không và hàng hải Quốc tế quan trọng. Hệ thống cảng biển là cửa ngõ không
chỉ cho nền kinh tế Việt Nam mà cả các quốc gia lân cận, đặc biệt là vùng Tây
Nam Trung quốc, Lào, Đông bắc Thai Lan. Vị trí địa lý thuận lợi tạo khả năng

Sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu theo hớng nâng cao tỷ
trọng chế biến sẽ giúp chúng ta khai thác đợc lợi thế sắn có, đồng thời có thể
15
xâm nhập đợc vào những thị trờng có khả năng thanh toán cao, đặc biệt hạn chế
đợc sự giao động về giá cả của sản phẩm xuất khẩu. Dẫn tới nguồn thu ngoại tệ
ổn định
Ba là: Cải biến cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu góp phần phát huy thế
mạnh của các thành phần kinh tế
Thông qua hoạt động sản xuất sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy các ngành, các
thành phần kinh tế trong nớc cùng tham gia và phát triển. Chẳng hạn, để đẩy
mạnh xuất khẩu hàng hoá nông sản đòi hỏi ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi
của nông nghiệp phải phát triển tạo thành vùng chuyên canh sản xuất ra khối l-
ợng lớn hàng nông sản. Việc cải biến cơ cấu xuất khẩu sẽ đòi hỏi các ngành
phục vụ nông nghiệp: công nghiệp hoá chất phát triển để cung ứng các dịch vụ
trong mùa vụ, đặc biệt công nghệ chế biến hàng nông sản xuất khẩu phải áp
dụng những công nghệ tiên tiến để chế tạo ra những sản phẩm có hàm lợng kỹ
thuật cao, phù hợp với thị hiếu của ngời tiêu dùng
Nh vậy, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá và cải biến cơ cấu hàng xuất khẩu sẽ
tạo điều kiện cho các ngành, các thành phần kinh tế đều phát triển để tạo ra sức
mạnh tổng thể của nền kinh tế quốc dân thống nhất
Bốn là: Chuyển dịch cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu sẽ tăng cờng sức
cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trờng thế giới
Một xu hớng của thị trờng thế giới hiện nay là các sản phẩm có hàm lợng
khoa học và công nghệ cao, sức cạnh tranh mạnh mẽ, trong khi các sản phẩm
nguyên liệu thô ngày càng mất giá và kém sức cạnh tranh. Đây là một kết quả
tất yếu khi khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển, bởi vì chính sự phát triển đó
làm giảm giá thành sản phẩm, sự tiêu hao ít nguyên liệu, dẫn tới nhu cầu về
nguyên liệu ngày có xu hớng giảm.
Hàng hoá nông sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chỉ chủ yếu là
nguyên liệu thô và sản phẩm sơ chế, vì vậy sức cạnh tranh kém, ngời xuất khẩu

xuất khẩu là thiết thực góp phần thực hiện phơng châm đa dạng hoá và đa ph-
ơng hoá quan hệ đối ngoại của Việt Nam thông qua:
- Phát triển khối lợng hàng nông sản xuất khẩu ngày càng lớn ra thị trờng
các nớc, nhất là những mặt hàng chủ lực, những sản phẩm mũi nhọn
- Mở rộng thị trờng xuất khẩu sang những thị trờng mới mà trớc đây ta cha
xuất đợc nhiều
- Thông qua xuất khẩu nhằm khai thác hết tiềm năng của đối tác, tạo ra sự
cạnh tranh nhiều mặt giữa các đối tác nớc ngoài trong làm ăn, buôn bán với
Việt Nam
Bên cạnh đó, xuất khẩu góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. ở
đây chúng ta sẽ xem xét hiệu quả dới góc độ nghĩa rộng bao gồm cả hiệu quả
kinh doanh và hiệu quả kinh tế.
Theo các tính toán của các nhà kinh tế nếu đẩy mạnh xuất khẩu, tăng giá
trị kim ngạch sẽ góp phần tạo mở công ăn việc làm đối với ngời lao động. Nếu
tăng thêm một tỷ USD giá trị kim ngạch xuất khẩu sẽ tạo ra từ 40.000
50.000 chỗlàm việc trong nền kinh tế. Giải quyết việc làm, sẽ bớt đi một gánh
nặng cho nền kinh tế quốc dân, có tác dụng ổn định chính trị, tăng cao mức thu
nhập của ngời lao động. Chuyển dịch cơ cấu hàng hoá xuất khẩu làm cho hàng
hoá xuất khẩu của Việt Nam có sự cạnh tranh lớn hơn trên thị trờng, tăng đợc
17
kim ngạch xuất khẩu, tạo nguồn ngoại tệ cho nhập khẩu những hàng hoá thiết
yếu
Cùng với sự tăng lên qui mô xuất khẩu thì lợi ích lớn nhất do thay đổi cơ
cấu hàng nông sản xuất khẩu là mang lại hiêụ quả xuất khẩu cao hơn. Việc tăng
cờng xuất khẩu những sản phẩm tinh chế sẽ giúp chúng ta thu đợc giá trị xuất
khẩu lớn hơn
Mặt khác cải biến cơ cấu xuất khẩu sẽ hạn chế việc sản xuất và xuất khẩu
những sản phẩm không đáp ứng nhu cầu thị trờng, hạn chế xuất khẩu bằng mọi
giá, bất chấp hiệu quả kinh tế xã hội và lợi ích quốc gia
Tóm lại, xu thế toàn cầu hoá khu vực hoá tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau sâu

nghĩa là cần phải đạt tới một sự hài hoà giữa tăng cờng xuất khẩu với nới lỏng
nhập khẩu. Quá trình tự do hoá gắn liền với những biện pháp có đi có lại trong
khuôn khổ pháp lý giữa các quốc gia
Xu thế này, nó tác động nh thế nào đối với một nền kinh tế nói chung và
thị trờng hàng nông sản thế giới nói riêng?
Trong thực tế cho chúng ta thấy rằng: một trong những yếu tố có ảnh hởng
khá toàn diện và trực tiếp đến xu thế phát triển thị trờng hàng nông sản thế giới
cũng nh đối với Việt Nam là xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá. Không một n-
ớc nào cỡng lại xu thế này mà không phải trả giá đắt. Yếu tố này đã thể hiện cụ
thể thông qua Hiệp định nông nghiệp đợc các thành viên Tổ chức Thơng mại
quốc tế (WTO) ký kết tại vòng đàm phán Uruguay năm 1994, và Hiệp định Ưu
đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nớc tham gia vào khu vực mậu
dịch tự do (AFTA). Riêng đối với khả năng xuất khẩu các sản phẩm nông
nghiệp Việt Nam, trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, do sản phẩm xuất khẩu
chủ yếu dạng thô, ít qua chế biến nên ảnh hởng của CEPT không lớn trong thời
gian ngắn hạn. Tuy vậy, quá trình cải biến cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu
trong điều kiện tự do hoá thơng mại cũng tạo ra những thuận lợi nhất định:
Những mâu thuẫn đang đặt ra cho sự nghiệp phát triển nền nông nghiệp
hàng hoá nh: mâu thuẫn giữa yêu cầu sản xuất hoá tập trung, qui mô lớn với sự
phân tán ruộng đất; mâu thuẫn giữa sản xuất hàng hoá với điều kiện cơ sở hạ
tầng nông thôn; mâu thuẫn giữa sản xuất sản phẩm nông nghiệp với công
nghiệp chế biến Và để giải quyết mâu thuẫn giữa sản xuất sản phẩm với công
nghiệp chế biến, chúng ta không có con đờng nào khác là phải nhập khẩu thiết
bị, công nghệ chế biến khi xu thế hội nhập ngày càng phát triển cả chiều
rộng lẫn chiều sâu, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta tiếp cận thiết bị, máy
móc hiện đại một cách dễ dàng với những mức thuế u đãi
Bên cạnh đó, thị trờng mở rộng, sự cạnh tranh diễn ra gay gắt khi mà sự t-
ơng đồng về cơ cấu xuất khẩu trong khu vực diễn ra càng ngày càng cao. Chính
điều này sẽ là động lực thúc đẩy để cải tiến cơ cấu kinh tế cũng nh cơ cấu xuất
khẩu, nếu không sẽ tự loại mình ra khỏi cuộc chiến. Mặt khác, chính xu thế

hợp để tồn tại và phát triển sau một thời gian chuyển tiếp
- Về hệ thống chính sách kinh tế thơng mại
Chính sách thơng mại ngày càng có tầm quan trọng hơn cho phép nâng
cao năng lực cạnh tranh vừa mở rộng vừa củng cố vị trí của mỗi mặt hàng, và
thị trờng phát triển. Hệ thống chính sách kinh tế thơng mại phải đợc hình thành
một mặt phải đáp ứng đợc các nguyên tắc nền tảng của WTO, nh là một chuẩn
mực chung trên quốc tế, mặt khác có tác dụng hỗ trợ đàm phán mở cửa thị tr-
ờng, là chỗ dựa cho hàng hoá dịch vụ và thơng nhân, trong đó quan trong nhất
là hệ thống chính sách thuế và chính sách phi thuế quan.
Cho tới nay, hệ thống chính sách này đang còn rất nhiều bất cập, kỹ thuật
xây dựng còn thô sơ, hệ thống chính sách cha đồng bộ. Đặc biệt những biện
pháp chính sách tạo lợi thế cho kinh tế thơng mại nớc nhà lại cha có. Chính vấn
đề này sẽ gây bất lợi cho các mặt hàng xuất khẩu trong điều kiện tự do hoá th-
ơng mại
20
Tự do hoá thơng mại là một quá trình tất yếu. Trong quá trình đó chúng ta
vừa có những thuận lợi, vừa phải đơng đầu với những thách thức nghiệt ngã, mà
chìa khoá mở ra thành công, vợt lên tất cả trở ngại là sức cạnh tranh của hàng
hoá nói chung và hàng hoá nông sản nói riêng. Nhìn nhận từ đó để chúng ta có
những chiến lợc cụ thể, khai thác lợi thế sẵn có cũng nh do quá trình này đem
lại một cách hợp lý tạo lên một sức mạnh tổng hợp trong cạnh tranh
3.2 Những nhân tố ảnh hởng đến sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng nông sản
xuất khẩu
Mọi ngời đều thấy sự cần thiết phải thay đổi cơ cấu xuất khẩu hàng hoá
nói chung và nông sản xuất khẩu nói riêng của Việt Nam hiện nay, tuy nhiên
thay đổi ra sao, làm thế nào để thay đổi có cơ sở khoa học và có tính khả thi chứ
không phải dựa trên suy nghĩa chủ quan. Một trong những căn cứ đó phải dựa
vào nghiên cứu các nhân tố khách quan, chủ quan ảnh hởng đến sự thay đổi cơ
cấu hàng nông sản xuất khẩu
3.2.1 Các yếu tố khách quan ảnh hởng đến chuyển dịch cơ cấu mặt hàng

kinh tế và mở rộng ảnh hởng kinh tế, chính trị của minh trên thế giới
+ Ngoài ra còn một số nớc nh ấn Độ, Braxin và các tổ chức kinh tế khu
vực khác nh hiệp hội các nớc Đông Nam á (ASEAN), khu vực tự do Bắc Mỹ
cũng không ngừng lớn mạnh. Các nớc lớn và các tổ chức kinh tế khu vực sẽ chi
phối hầu hết nền kinh tế thế giới nói chung và xuất nhập khẩu hàng nông sản
nói riêng. Chiến tranh thịt bò, chuối là minh chứng hùng hồn cho nhận định
trên.
Nhìn chung, môi trờng thơng mại thế giới trong những năm tới tỏ ra khá
khả quan hơn so với thời kỳ 1997 1999. Và xu hớng toàn cầu hoá và khu vực
hoá, với sung lực chính là tự do hoá thơng mại, sẽ tiếp tục diễn ra trong thời kỳ
tới. Toàn cầu hoá và khu vực hoá làm nội dung phân công lao động quốc tế có
sự thay đổi. Các lợi thế truyền thống sẽ giảm dần giá trị. Nếu chỉ dựa vào tài
nguyên thiên nhiên và lao động rẻ thì xuất khẩu sẽ không thể duy trì đợc tốc độ
tăng trởng cao và bền vững trong thời gian dài. Đây chính là yếu tố mà cần phải
xem xét để xác định hớng chuyển dịch cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu phù
hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trờng thế giới .
3.2.1.2Tình hình cung cầu hàng nông sản trên thị trờng quốc tế có đặc
điểm:
Để chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu nói chung và cơ cấu hàng nông
sản xuất khẩu nói riêng thành công, chúng ta phải kể đến yếu tố cung hay nói
nói một cách khác đó là khả năng đáp ứng sản phẩm là một điều kiện quan
trọng trong vấn đề dịch chuyển. Bởi vì, nếu trên thị trờng tiêu thụ có nhu cầu về
một sản phẩm A, sản phẩm này đem lại lợi ích xuất khẩu rất lớn, trong thực tế
không có khả năng sản xuất thì không thể dịch chuyển cơ cấu mặt hàng theo h-
ớng cuả thị trờng. Nếu nói yếu tố cung là điều kiện chuyển dịch thì yếu tố
cầu sẽ giúp chúng ta xác định đợc hớng chuyển dịch. Từ những nhận định trên,
thông qua đặc điểm của cung cầu hàng nông sản trên thị trờng thế giới sẽ cho
thấy đợc những vấn đề cần giải quyết trong quá trình chuyển dịch cơ cấu. Tình
hình cung cầu hàng nông sản trên thị trờng quốc tế có đặc điểm sau:
22

chế biến các hàng hoá nông sản làm xuất hiện những hàng hoá mới đáp ứng đợc
yêu cầu của ngời tiêu dùng. Nhờ khoa học kỹ thuật chúng ta có thể sản xuất
những hàng hoá có hàm lợng kỹ thuật cao để nâng cao trình độ thoã mãn nhu
cầu thị trờng Quốc tế
ở Việt Nam với trình độ khoa học còn thấp nên chú trọng vào áp dụng
những thành tựu khoa học kỹ thuật trong tạo giống vật nuôi, cây trồng trong bảo
quản chăm sóc thu hoạch các mặt hàng nông sản, đặc biệt phát triển công
23
nghiệp chế biến hàng hó nông sản để nâng cao hiệu quả xuất khẩu. Quan trọng
nhất là đầu t để có những ngời lao động đợc đào tạo chính quy, có khả năng kỹ
thuật cao,có đầu óc tìm tòi sáng tạo là đầu t quan trọng nhất, vì con ngời trở
thành trung tâm của phát triển
3.2.1.4 Quan hệ thơng mại và chính sách của các nớc nhập khẩu hàng hoá
nông sản của Việt Nam
Quan hệ Chính sách ngoại giao, quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và các
nớc trên thế giới là nhân tố quan trọng để mở cửa thị trờng, tăng cờng hợp tác
toàn diện nhiều mặt và đặc biệt tăng trởng khối lợng hàng hoá xuất nhập khẩu
với các nớc, trong đó có hàng nông sản. Đồng thời cũng là một nhân tố góp
phần tạo sự chuyển dịch nhanh trong cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu của
Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử nớc ta đã có quan hệ ở mức độ khác nhau
với tất cả các nớc láng giềng trong khu vực, với hầu hết các nớc lớn, các trung
tâm chính trị kinh tế, các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế để có cơ hội đẩy
mạnh xuất khẩu
Gần đây chúng ta ký kết đợc Hiệp định thơng mại song phơng Việt Nam
Hoa Kỳ, điều dễ dàng nhìn nhận đợc khi hiệp định đợc phê chuẩn và có hiệu
lực thì cơ hội mới mà hàng xuất khẩu của Việt Nam đợc hởng là việc giảm mức
thuế nhập khẩu từ mức trung bình hiện nay khoảng 40% xuống mức thuế MFN
trung bình 3%. Nếu Việt Nam không hởng quy chế nàythì hàng Việt Nam vào
Mỹ phải chịu thuế xuất cao, sẽ kém cạnh tranh thậm chí không xuất khẩu đợc.
Ngoài hàng rào thuế quan còn có hàng rào phi thuế quan nh hạn ngạch, giấy

cơ cấu thị trờng để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập toàn cầu, sử lý đúng đắn
lợi ích giữa ta với các đối tác.
Thực hiện đờng lối đúng đắn trên, Nhà nớc đã từng bớc hoàn thiện Chính
sách để phát triển xuất khẩu :
- Chuyển từ mô hình Nhà nớc độc quyền ngoại thơng sang tự do hoá ngoại
thơng, thông qua Chính sách mở rộng đối tợng kinh doanh xuất nhập khẩu
Các đơn vị chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu đợc Nhà nớc thành lập, thừa
nhận đợc đăng ký kinh doanh những mặt hàng mà Nhà nớc không cấm. Các đơn
vị sản xuất không phân biệt thành phần kinh tế, có đăng ký kinh doanh đợc
quyền trực tiếp xuất khẩu hàng hoá làm ra và nhập nguyên liệu phục vụ sản
xuất
- Nhà nớc thu hẹp số lợng các mặt hàng xuất khẩu có điều kiện, tăng dần
số lợng mặt hàng đợc tự do xuất nhập khẩu
Thực hiện các Chính sách khuyến khích hàng xuất khẩu nh cho vay vốn để
thu gom, sản xuất hàng xuất khẩu, hởng thuế suất u đãi;
- Tuy nhiên việc cụ thể hoá chính sách của các bộ các ngành có liên quan
còn chậm, sự phối hợp của các cơ quan Nhà nớc không ăn khớp, hoàn thuế còn
chậm khiến cho các doanh nghiệp phải bù lỗ khi vay vốn
3.2.2.2 Quy hoạch và kế hoạch phát triển hàng nông sản xuất khẩu
Chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc chỉ là định hớng chiến lợc còn
khả năng thực thi Chính sách phụ thuộc vào qui hoạch, kế hoạch phát triển
trong thời kỳ. Thực tế ở nớc ta do chậm trễ trong việc xây dựng triển khai quy
hoạch, kế hoạch phát triển xuất nhập khẩu nói chung và hàng nông sản nói
25

Trích đoạn Xuất khẩu chè Hàng nông sản xuất khẩu ngày càng có tỷ trọng giảm trong tổng kim ngạch xuất khẩu thể hiện sự phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và có Hàng nông sản xuất khẩu tăng mạnh làm cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân, đã có nét đổi mới sâu sắc, là nền tảng của sự ổn định kinh Cơ cấu thị trờng xuất khẩu hàng nông sản ngày càng đợc mở rộng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status