MỤC LỤC
1
ỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đã biết trong nền kinh tế quốc dân, xã hội ngày một phát triển, chất
lượng cuộc sống ngày càng nâng cao. Mong muốn của con người không chỉ dừng lại
ở những nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở… mà thêm vào đó những nhu cầu mới về
một cuộc sống hoàn thiện hơn đòi hỏi phải có trình độ khoa học công nghệ phát
triển hơn. Một yếu tố được xem là quan trọng hàng đầu đó là hoàn thiện công tác
phân công và hiệp tác lao động trên tất cả các lĩnh vực ngành nghề. Phân công và
hiệp tác lao động trong một tổ chức là vấn đề hết sức quan trọng, các tổ chức đứng
vững, muốn khẳng định trong giai đoạn hiện nay, ngoài các công tác hoạt động
khác như về tài chính, maketing thì vấn đề phân công và hiệp tác lao động luôn
luôn giữ một vai tṛò hết sức quan trọng và được đặt trên hàng đặt trên hàng đầu,
nói về phân công và hiệp tác lao động là nội dung có bản chất nhất của tổ chức lao
động. Nó chi phối toàn bộ nội dung c̣òn lại của tổ chức lao động khoa học trong Xí
nghiệp . Do phân công lao động mà tất cả các cơ cấu lao động trong Xí
nghiệp được hình thành tạo nên bộ máy ví tất cả các bộ phận, chức năng cần
thiết, với những tỷ lệ tương ứng và theo yêu cầu sản xuất. Hiệp tác lao động là sự
vận hành của cơ cấu lao động này trong không gian và thời gian. Phân công và
hiệp tác lao động hợp lư là điều kiện để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả
sản xuất.
2
CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUÁ TRÌNH PHÂN CÔNG
VÀ HIỆP TÁC LAO ĐỘNG
1. Cơ sở lý thuyết.
1.1 Phân công và hiệp tác lao động.
Phân công lao động trong doanh nghiệp là sự chia nhỏ toàn bộ các công việc
của doanh nghiệp để giao cho từng người hoặc nhóm người lao động thực hiện. Đó
chính là quá trình gắn từng người lao động với những nhiệm vụ phù hợp với khả
năng của họ. Theo C.Mác thì phân công lao động: “là sự tách rẽ các hoạt động lao
động hoặc là lao động song song, tức là tồn tại các dạng lao động khác nhau”. Trong
nghiệp, giữa các lao động trong một tổ sản xuất.
Hiệp tác về mặt thời gian : Là việc tổ chức các ca làm việc trong ngày và đêm. Do
yêu cầu của sản xuất và tận dụng năng lực của thiết bị máy móc nên phải bố trí các ca
làm việc một cách hợp lý, đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.
1.2 Ý nghĩa của phân công và hiệp tác lao động.
Phân công lao động hợp lý chính là điều kiện để nâng cao năng suất lao
động và hiệu quả của sản xuất. Do phân công lao động mà có thể chuyên môn hoá
được công nhân, chuyên môn hoá được công cụ lao động, cho phép tạo ra được
những công cụ chuyên dùng có năng suất lao động cao, người công nhân có thể
làm một loạt bước công việc, không mất thời gian vào việc điều chỉnh lại thiết bị,
thay dụng cụ để làm các thiết bị khác nhau.
Hiệu quả mà hiệp tác lao động mang lại là những thay đổi có tính chất cách
mạng điều kiện vật chất của quá trình lao động, nó mang lại những kết quả lao
động cao hơn hẳn so với lao động riêng lẻ, đặc biệt là với những lao động phức
tạp. Nó cũng làm tăng khả năng làm việc cá nhân của từng người lao động do sự
xuất hiện tự phát tinh thần thi đua giữa những người cùng tham gia quá trình sản
xuất.
Hiệp tác lao động chặt chẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động. kích thích
tinh thần thi đua trong sản xuất, tiết kiệm được lao động sống và lao động vật hoá.
Phân công và hiệp tác lao động là nội dung cơ bản nhất của tổ chức lao động. Do
phân công lao động mà tất cả các cơ cấu về lao động trong doanh nghiệp được
hình thành, tạo nên một bộ máy với tất cả các bộ phận, chức năng cần thiết, với
những tỉ lệ tương ứng về theo yêu cầu của sản xuất. Hiệp tác lao động là sự vận
hành của cơ cấu ấy trong không gian và thời gian. Hai nội dung này liên hệ với
nhau một cách mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau, củng cố và thúc đẩy nhau
một cách biện chứng. Phân công lao động càng sâu thì hiệp tác lao động càng
rộng.
2. Cơ sở khoa học của quá trình phân công và hiệp tác lao động.
2.1. Tâm lý học và giới hạn tâm lý với phân công và hiệp tác lao động.
Xét dưới góc độ tâm lý học, việc phân công lao động sẽ ảnh hưởng đến tính súc tích
ảnh hưởng xấu tới người lao động: Mất hứng thú đối với công việc, sự mệt nhọc
xuất hiện sớm trong ngày làm việc, cảm giác ngày làm việc dài hơn.
Nhiều nhà tâm lý lại cho rằng việc chia nhỏ quá trình lao động không phải bao giờ
cũng có lợi và không phải bao giờ cũng có hại. Nhiều công trình nghiên cứu củacác
5
nhà tâm lý học đã khẳng định phải xác định giới hạn cho phép của tính đơn
điệuđến đâu là có lợi và đến đâu là có hại.
Một số biện pháp ngăn ngừa ảnh hưởng xấu của công việc đơn điệu:
Hợp nhất nhiều thao tác ít súc tích thành những thao tác phức tạp, đa dạng
hơn.
Luân phiên người lao động làm các thao tác lao động khác nhau.
Thay đổi nhịp độ của các động tác.
Đưa chế độ lao động và nghỉ ngơi có cơ sở khoa học và lao động và sử dụng thể
dục trong lao động sản xuất.
Sử dụng các phương pháp lao động thẩm mĩ khác nhau trong thời gian lao động
sản xuất, nhất là âm nhạc.
Nghiên cứu sử dụng các hệ thống khen thưởng vật chất và tinh thần 1 cách chính
xác.
Tâm lí học với hiệp tác lao động: Bằng quá trình chuyên môn hóa và phân công lao
động, hoạt động lao động quy định việc thiết lập một số quan hệ trực tiếp hoặc
gián tiếp giữa các thành viên để thực hiện các nhiệm vụ sản xuất. Ngay cả khi quá
trình sản xuất buộc những người lao động phải làm việc cách xa nhau, không thể
tiếp xúc trực tiếp, thì để đạt được các mục tiêu của xí nghiệp, đòi hỏi phải có sự
hiệp tác lao động.
Tâm lí học với quá trình hiệp tác lao động là mối quan hệ giữa người với người
trong hoạt động lao động, có tác động qua lại đến hành vi của nhau. Những mối
quan hệ này do các yếu tố khách quan( như nhiệm vụ sản xuất và các điều kiện lao
động chung) và các yếu tố chủ quan( mục đích, động cơ lao động) quy định.
Tùy theo trọng lượng mối quan hệ người- đối tượng lao động, các tiêu chuẩn chính
thức của xí nghiệp và tính động cơ của các quan hệ nguời- người, có 2 loại quan hệ
Hoạt động lao động của con người bao giờ cũng nhằm đạt được một mục đích
nhất định do họ tự đặt ra.
Đối với những công việc đơn điệu, lặp đi lặp lại đều đều, người lao động thường có
tâm lí nhàm chán, mệt mỏi, mất hứng thú trong công việc, có cảm giác ngày làm
việc dường như dài hơn. Một số kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, thái độ lao động
của người lao động phần lớn phụ thuộc vào tính chất và nội dung của bản thân
công việc, và 1 phần nhỏ được quyết định bởi những nhân tố nằm ngoài quá trình
lao động ( những điều kiện lao động; tiền lương; các nhân tố sinh hoạt )
Nhưng mặt khác, người lao động lại có xu hướng chọn những công việc có lương
cao, điều kiện làm việc, cơ chế đãi ngộ tốt, công việc nhàn hạ… Độ tuổi lao động
càng cao thì nhân cách càng hoàn thiện, có xu hướng suy nghĩ chín chắn, sống và
làm việc có trách nhiệm hơn. Người lao động có hứng thú mạnh mẽ và ổn định đối
7
với nghề nghiệp sẽ ít gặp sự cố và tai nạn lao động so với những người không thích
nghề hoặc hoàn toàn không hứng thú với công việc.
Người có vị trí cao trong tổ chức thường có ý thức trách nhiệm hơn trong hoạt
động lao động; người có vị trí và vai trò thấp thường có tính ỷ lại, ý thức trách
nhiệm thường không ổn định.
Bản sắc của lao động nam là logic, hợp lí, năng động, bạo gan, sử dụng chiến lược,
độc lập, thích cạnh tranh, là người dẫn đường và quyết định. Bản sắc của lao động
nữ là trực giác, tình cảm, phục tùng, khả năng nhận xét người khác, tự phát, tình
mẫu tử, hợp tác, người ủng hộ và đệ tử trung thành.
8
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUÁ TRÌNH PHÂN
CÔNG VÀ HIỆP TÁC LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ
THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ MẶT TRỜI ĐỎ
1. Quá trình hình thành và phát triển.
Tên công ty: Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Thương Mại Quốc Tế Mặt Trời Đỏ.
Hoạt động chính: Kinh doanh nhà hàng
Công ty Cổ phần Đầu Tư Thương Mại Quốc Tế Mặt Trời Đỏ (Red Sun ITI Corp)
Trung hoà, Hà Nội
660.000
6.600.000.0
00
4 PHAN BÁ NGỌC
Tổ 42, phường Hoàng
Văn Thụ, Quận Hoàng
Mai, Hà Nội
241.160
2.411.600.0
00
9
5 PHẠM CAO VINH
Phòng1402, nhà 17T2,
KĐT mới Trung hoà –
Nhân Chính, phường
Trung hoà, Hà Nội
203.070
2.030.700.0
00
Hội đồng quản trị Công ty:
1. Ông Phạm Cao Vinh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị
Ông Vinh đã tốt nghiệp Thạc sĩ Kinh Doanh Đại Học Tổng Hợp Irvine (USA) và
Cử nhân kinh tế trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, đã có hơn 15 năm kinh nghiệm
trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh bao bì và đồ gia dụng, hiện Ông Vinh là Chủ
tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Goldsun.
2. Bà Phan Thị Kim Chi – Tổng Giám đốc Công ty.
Bà Chi đã tốt nghiệp Thạc sĩ Kinh Doanh Đại Học Tổng Hợp Irvine (USA) và là
cử nhân kinh tế trường đại học kinh tế quốc dân, đã có hơn 15 năm kinh nghiệm
trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh đồ gia dụng và bếp gas. Trước đây Bà Chi đã
nhánh của Công ty trong thành phố Hồ Chí Minh, đăng ký trụ sở văn phòng tại
792A Nguyễn Kiệm, P.3, Q.Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh, và tại đây đã nhanh chóng phát
triển nhà hàng The Scoop’s chuyên cung cấp các loại kem cao cấp của Mỹ và New
Zealand.
Năm 2009, Công ty đã mua thương hiệu Seoul Garden của tập đoàn Zingrill –
Singapore và phát triển thành công thương hiệu này tại Việt Nam, với hệ thống 3
nhà hàng được khai trương vào tháng 11 năm 2009. Trong đó, có 2 nhà hàng
được mở tại Hà Nội là 33 Trần Hưng Đạo và tầng 5 tòa nhà Vincom, 191 Bà Triệu,
còn nhà hàng thứ 3 của thương hiệu này thuộc Chi nhánh công ty được mở tại 208
Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.6, Q.3, Tp.Hồ Chí Minh. Đây là chuỗi nhà hàng buffet nướng
và lẩu không khói hiện đại, với các món ăn mang hương vị Hàn Quốc, đã mang lại
kết quả kinh doanh đáng kể cho Công ty trong năm 2010.
Năm 2010, ngoài việc củng cố phát triển nâng cao chất lượng của các nhà
hàng hiện có, Công ty không ngừng triển khai thêm các dự án mở rộng mạng lưới
nhà hàng với các thương hiệu nổi tiếng đến từ các nước Châu Âu để thực hiện vào
năm 2011.
11
2. Cơ cấu bộ máy tổ chức, chức năng, nhiệm vụ.
- Tổng giám đốc: là người đứng đầu bộ máy quản lý, chịu trách nhiệm trước pháp
luật về hình thức kinh doanh của công ty và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất
kinh doanh của công ty. Ngoài ủy quyền cho các giám đốc của các phòng ban, tổng
giám đốc còn trực tiếp chỉ đạo các phòng ban.
12
- Giám đốc điều hành: Có nhiệm vụ giám sát và theo dõi quản lý, điều hành các
công việc chính thay tổng giám đốc về một số lĩnh vực như nhân sự, tổ chức nhân
sự, ngoại giao công tác hành chính.
- Giám đốc các nhà hàng: trực tiếp chỉ đạo giám sát các hoạt động diễn ra hàng
ngay của nhà hàng, rồi báo cáo tình hình cho phó giám đốc công ty.
- Phó giám đốc đại diện cho giám đốc giám sát và quản lý chặt chẽ mọi hoạt động
của công ty, trực tiếp tiếp nhận các kết quả do nhà hàng báo về.
thực hiện những công việc chuyên môn có liên quan tới các bộ phận chức năng.
- Phó phòng kế toán: Chịu trách nhiệm về công việc của các kế toán bộ phận, về
chất lượng, tiến độ làm việc và giờ giấc của các ké toán thành phần.Phó tròng lấy
dữ liệu tổng hợp báo cáo từ các kế toán thành phần rồi báo cáo với trưởng phòng
KT.
- Kế toán NVL,CCDC: Có nhiệm vụ hàng ngày nhận các chứng từ từ các nàh hàng
gửi lên, từ đó nhập dữ liệu vào các phần hành kế toán để theo dõi trên các bảng kê,
bảng phân bổ làm cơ sở cho việc tính chi phí giá thành sản phẩm.Đồng thời kế
toán cũng theo dõi cả phần CCDC, Phụ liệu.Kiểm tra tình hình nhập xuất tồn kho
NVL cho các nhà hàng.
- Kế toán thanh toán và đối chiếu công nợ: Chịu trách nhiệm thanh toán với
tất cả các khách hàng các nhà cung cấp.Đối chiếu công nợ của các nhà cung
cấp.Sau khi kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của chứng từ gốc, kế toán thanh toán
viết phiếu thu chi.
14
- Kế toán Doanh thu: Chịu trách nhiệm tính toán doanh thu của các nhà
hang.Hàng ngày lấy Bill từ các nhà hang gửi lên. Theo dõi lượt khách ,các suất
giảm giá, …… của các nhà hàng cuối ngày tổng hợp báo cáo cho phó phòng và
trưởng phòng.
- Kế toán thuế : Chịu Trách nhiệm phần thuế, Chế Bill, Kê Khai thuế, tổng
hợp….Báo cáo cho phó phòng và trưởng phòng.
- Kế toán ngân hàng: có nhiêm vụ nộp tiền rút tiền tại các ngân hàng,viết ủy
nhiệm chi,chuyển khoản. Làm thủ tục vay vốn,hàng tháng lấy sổ phụ tại các nhà
hàng về để hạch toán…
Bộ máy kế toán của công ty được tổ chức theo mô hình tập chung . Các nghiệp
vụ kế toán tài chính phát sinh được tập chung ở phòng kế toán của công ty thuộc
dẫy nhà văn phòng tại địa chỉ 251 Âu cơ- Tây Hồ -Hà Nội. Tại đây thực hiện việc tổ
chức hướng dẫn và kiểm tra thực hiện toàn bộ phương pháp thu thập xử lý thông
tin ban đầu, thực hiện đầy đủ việc ghi chép ban đầu, chế độ hạch toán và chế độ
quản lý tài chính theo đúng quy định của Bộ tài chính, cung cấp một cách đầy đủ
khiển, điều chỉnh cho toàn bộ hoạt động của con người, trong đó có hoạt động của
lãnh đạo quản lý Từ đó người lãnh đạo quản lý nắm vững hệ thống tri thức khoa
học về tâm lý và có thể vận dụng, ứng dụng vào để chẩn đoán và am hiểu tâm lý
các đối tượng của mình, giải thích được các hành vi, hành động của mọi người, dự
đoán thái độ, phản ứng của các cá nhân làm cơ sở đánh giá sắp xếp lao động phù
hợp.
Những kiến thức tâm lý học có ý nghĩa thực tiễn và lý luận rất lớn trong công
tác lãnh đạo quản lý xã hội cũng như lãnh đạo các tổ chức, các tập thể lao động
khác. Cũng như trong quá trình phân công và hiệp tác lao động.
Quá trình phân công lao động hình thành nhiều phòng, ban khác nhau trong tổ
chức, mỗi phòng đảm nhận 1 vai trò khác nhau, như kế toán, hành chính, nhân
sự,
Với sự phân công lao động của công ty đã giúp cho mỗi cá nhân có điều kiện thực
hiện chuyên môn hóa công việc của mình, góp phần nâng cao chất lượng công tác,
nâng cao chất lượng lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. Từ sự
chuyên môn hóa mà công ty giảm được chi phí đào tạo, người lao động nhanh
chóng tích lũy được kinh nghiệm trong sản xuất, giúp công ty có điều kiện thiết kế
và sử dụng các máy móc thiết bị chuyên dùng thêm vào đó người lao động còn có
thể làm một loạt các bước công việc, không mất thời gian vào việc điều chỉnh hay
thay các thiết bị dụng cụ. sự phân công rất rõ ràng, giúp mỗi cá nhân có thể phát
huy được tính sáng tạo và khả năng tiềm ẩn ở mỗi người, tạo động lực cho mỗi cá
16
nhân hoàn thành phần việc của mình một cách chủ động, tự giác và làm tăng sự nỗ
lực để hoàn thành nhiệm vụ.
đối với hiệp tác lao động, bên cạnh phân công mạng lưới hiệp tác trong công ty là
rất hiệu quả. các cá nhân có thể liên hợp lại để cùng làm việc,nhưng không phá vỡ
tính tự chủ tự lập trong phân công. mô hình hiệp tác của công ty cũng giúp các cá
nhân dễ dàng nhìn nhận, đánh gá và so sánh lẫn nhau, từ đó làm tăng sự học hỏi,
tìm tòi và thúc đẩy cá nhân phải thi đua, phấn đấu để không bị tạo khoảng cách.
mô hình hiệp tác này còn cho thấy sự liên kết, đoàn kết trong công ty, tạo thành
kiện và xu thế phát trển chung của ngành như:
Cần hoàn thiện các hình thức tổ, đội sản xuất tại doanh nghiệp. Lãnh đạo của các
tổ, xưởng phải là người có uy tín và khả năng tổ chức, tinh thần trách nhiệm và
làm chủ cao, sôi nổi, đi đầu trong lao động và hoạt động các phong trào đoàn thể.
Việc phân công và hiệp tác lao động cho một số tổ sản xuất, công tác còn chưa
thực sự bám sát với nhu cầu cần có. Vì thế khi phân công lao động cho các tổ cần
tính đến thực tế sản xuất và khả năng đáp ứng của đơn vị.
Khi khối lượng công việc nhiều doanh nghiệp có thể tăng cường lao động làm việc
bằng cơ cấu nhóm nhân lực mềm (Lao động bán thời gian, lao động thời vụ…)
Linh hoạt chuyển dịch lao động trong tổ hỗ trợ phù hợp với mức độ tăng giảm lao
động linh hoạt đảm bảo lưu thoát hết nhu cầu thông tin của khách hàng.
18
Trước hết là hoạt động tổ chức, hướng dẫn, sử dụng, điều khiển côn người. Trong
hoạt đông này nhà quản trị phải phối hợp hoạt động của các thành viên, tổ chứ cho họ
hoạt động nhằm đạt được mục đích của đơn vị. Hoạt động quản trị kinh doanh cũng
là hoạt động sử dụng, đánh giá điều khiển con người.
Nhà quản trị cần hiểu được tính chất về đạo đức, tài năng, tính tình và các đặc điểm
khác của thành viên để sử dụng học vào đúng công việc phù hợp với họ phát huy khả
năng của họ cũng như đem lại lợi ích cao nhất cho tập thể. Nhà quản trị phải đánh giá
đúng khả năng của họ từ đó có những cách đối xử khéo léo, phù hợp.
Đặc biệt hoạt động kinh doanh còn phức tạp hơn, Đó là hoạt động liên quan đến
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, giao tiếp,kinh tế, văn hóa quân
sự…. Đó là hoạt động phụ thuộc vào kinh tế thị trường nhưng cũng dễ bị chi phối bởi
những may mắn rủi ro,là hoạt động đảm bảo có lợi nhuận nhưng cũng phải mang tính
nhân bản. Hoạt động này cũng luôn luôn phải tuân theo quy luật tâm lý con người
nhưng lại phải đảm bảo chữ tín trong mọi quan hệ giao dịch. Nhà quản trị cần rất
nhạy cảm tinh tế,linh hoạt,năng động, phải giàu kinh nghiệm từng trải, hiểu đời và
nắm vững kiến thức kinh doanh thương mại
Mặt khác trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận và vị thế cạnh tranh trên thị trường
là mục tiêu của hầu hết các doanh nghiệp luôn luôn phải tìm mọi biện pháp để giảm
Tân nói riêng. Hoàn thiện công tác phân công và hiệp tác lao động một cách khoa
học không những đảm bảo nâng cao vai trò, chức năng chủ đạo trong sản xuất
kinh doanh mà còn là nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp. Qua những điểm phân tích về tình hình công tác phân công và hiệp
tác lao động tại doanh nghiệp, nhận thấy rằng việc phân công lao động đã thể hiện
sự coi trọng và đạt được những thành công nhất định trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình tâm lý học lao động- NXB Đại học quốc gia- 2011
2. Giáo trình quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp- chủ biên Ths. Hà Văn
Hội
3. và một số sách, báo, tạp trí khác.
21