TỬ VONG DO NGẠT TRONG GIÁM ĐỊNH Y PHÁP - Pdf 11


TỬ VONG DO NGẠT TRONG
GIÁM ĐỊNH Y PHÁP
Ths. Nguyễn Văn Luân

MỤC TIÊU
1. Nắm được định nghĩa - phân loại ngạt.
2. Dấu hiệu bên ngoài và bên trong, các xét
nghiệm trong giám định y pháp những
trường hợp tử vong do ngạt.Trong y học, ngạt (Asphyxia): là thuật ngữ
để chỉ tình trạng thiếu ôxy, có thể từng
phần (ischemic lack of oxygen) hoặc toàn
bộ cơ thể (anoxia) tùy thuộc nguyên nhân
gây ngạt. 
Ngày nay, định nghĩa: “Ngạt là hậu quả của rối
loạn hoạt động hô hấp làm cản trở sự trao đổi
khí ôxy và carbonic trong cơ thể.

Trong giám định Y pháp, thuật ngữ Asphyxial,
Suffocation được áp dụng chủ yếu trong những
trường hợp tử vong do giảm ôxy máu không tự
nhiên bởi những tác động vật lý, hóa học, môi

nhanh, sau chậm dần, rời rạc, huyết áp giảm).
- Giai đoạn 4: nhịp tim chậm dần, huyết áp không đo được,
mất phản xạ, đồng tử giãn, cơ mềm, thở ngáp và ngừng
thở. Tim có thể còn tiếp tục đập trong thời gian từ 10 -
15 phút sau khi đã ngừng thở, giai đoạn này hồi sức
không kết quả. Cơ chế gây tử vong
+ Giảm O2 và tăng CO2 máu.
+ Giảm lưu lượng máu lên não (chèn ép
vùng cổ).
+ Tình trạng ức chế thần kinh.
+ Tổng hợp.2. Phân loại ngạt theo pháp y:
Theo tính chất y pháp của vụ việc:
F.E. Camps chia ngạt thành 3 nhóm chính là:
+ Ngạt thở: thiếu không khí, ngạt trong thủ dâm, bịt mũi, miệng, lấp
tắc đường thở.
+ Ngạt do chẹn cổ: treo cổ, chẹn cổ bằng dây, chẹn cổ bằng tay.
+ Ngạt do khí độc: ngạt CO, ngạt CO2.
Werner.U.Spitz chia ngạt thành 4 loại chính sau:
+ Do đè ép vào vùng cổ: treo cổ, chẹn cổ
+ Lập tắc đường thở trong các trường hợp: bịt mũi miệng, dị vật
đường thở, phù nề niêm mạc vùng hầu họng trong các trường
hợp dị ứng, hít phải không khí nóng hoặc sau khi bị đánh vào cổ,
khích thích xoang cảnh và ngạt do tư thế.
+ Đè ép vào ngực: làm các cử động hộ hấp không có hiệu quả.

rõ nhất ở niêm mạc mắt, củng mạc, vùng mi mắt, trong
ống tai. Đường kính của chấm chảy máu trung bình từ
1mm đến 2mm hoặc có thể lớn hơn.Cơ chế hình thành chấm xuất huyết
Do 4 yếu tố sau:
1.Tăng áp lực trong lòng tĩnh mạch do hậu quả chèn
ép, cản trở tuần hoàn trở về kết hợp với áp lực
động mạch tăng liên tục.
2.Giảm sự liên kết của các tế bào nội mô ở thành
mạch do thiếu oxy.
3.Tăng huyết áp đột ngột trong giai đoạn nạn nhân
giãy giụa.
4.Tác động tại chỗ, hoặc có sự đè ép kết hợp.
Chảy máu ở niêm mạc mũi và ống tai ngoài:
trường hợp bị chẹn cổ các tĩnh mạch bị chèn ép
còn động mạch bị đè ép không hoàn toàn làm
cho máu liên tục dồn lên vùng đầu mặt làm áp
lực trong hệ tĩnh mạch tăng cao, nếu vỡ thành
mạch sẽ tạo nên những vùng chảy máu. Dấu
hiệu này ít gặp nhưng nếu có, rất dễ nhầm với
chấn thương.

Dấu hiệu thoát tinh dịch, nước tiểu, phân:
hình thành do giãn cơ vòng trong lúc hấp hối,
gặp trong phần lớn các trường hợp chết tự

ngắn hay dài.
4. Phù phổi: mức độ khác nhau rất hay gặp trong các
trường hợp tử vong có liên quan đến ngạt thở, dấu hiệu
này có giá trị trong những trường hợp có thời gian tử
vong không nhanh.
5. Phù não: là dấu hiệu hay gặp, tuy nhiên cũng có thể
thấy trong các trường hợp tử vong không do ngạt, do đó
phù não không phải là dấu hiệu để chẩn đoán tử vong
do ngạt.4. Giãn tim phải: các trường hợp tử vong do
ngạt thì tim phải bao giờ cũng giãn căng, còn tim
trái thì rỗng hoặc co nhỏ (dấu hiệu của tim ngạt).
5. Chảy máu thành sau họng: hay gặp trong
những trường hợp phần mềm vùng hầu họng bị
tác động trực tiếp của cuống lưỡi hoặc bị đè ép
vào mặt trước của đốt sống cổ gây những đám
chảy máu ở lớp dưới niêm mạc.
6. Tổn thương thanh quản: điển hình nhất là
gẫy xương móng hoặc dập vỡ sụn giáp do tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp vào vùng cổ. Tỷ lệ
tổn thương các xương, sụn ở thanh quản hay
gặp ở người già hơn người trẻ tuổi do xương bị
cali hóa.Xét nghiệm mô bệnh học
Xét nghiệm mô bệnh học chỉ có giá trị nhất định để bổ
sung cho chẩn đoán nguyên nhân tử vong do ngạt vì

các trường hợp chết do ngạt.
Một số tác giả nghiên cứu về sinh lý bệnh học cho rằng
trong các trường hợp bị chẹn cổ, hormon tuyến giáp
tăng đột ngột trong máu là do đè ép vào tuyến giáp làm
lượng hormon này trong máu đặc biệt ở khu vực vùng
đầu và cổ.
Sự khác biệt về nồng độ phospholipid trong máu cũng
được ghi nhận nhưng thực ra cho dù vì bất cứ nguyên
nhân gì thì các mô tạng cũng bị phá hủy ở mức tế bào
do hậu quả của thiếu ôxy và gây nên những biến đổi
như nhau về sinh hóa.Giám định pháp y
Cần được tiến hành theo các bước sau:
1. Khám nghiệm hiện trường

Nắm được những thông tin ban đầu về hoàn cảnh bản
thân, gia đình, bệnh tật của đối tượng giám định (từ cơ
quan điều tra, người biết sự việc, người thân ).

Tham gia khám nghiệm hiện trường để tìm hiểu những
vấn đề liên quan đến sức khỏe, tinh thần của nạn nhân (đồ
dùng cá nhân, thuốc, hồ sơ y tế, những dấu hiệu chấn
thương, bệnh lý ).

Mô tả tỷ mỉ, chính xác vị trí, tư thế tử thi, tang vật liên
quan.

Chụp ảnh nạn nhân ở nhiều góc độ khác nhau (tại hiện

dấu vết dịch sinh học trên quần áo và trên cơ
thể nạn nhân.
Kiểm tra tinh dịch ở lỗ miệng sáo, lỗ hậu
môn, âm đạo, trong khoang miệng, và các
vùng khác trên cơ thể nạn nhân là điều
bắt buộc. Dùng gạc sạch để thu giữ mẫu,
phơi khô tự nhiên hoặc bảo quản lạnh.

Đảm bảo nguyên tắc khám đầy đủ toàn
diện, tránh sai sót và không để lỗi phẫu
tích.

Thu thập đủ các mẫu bệnh phẩm để làm
xét nghiệm cần thiết.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status