Nghiên cứu hình thái của chấn thương ngực trên những nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông đường bộ qua giám định y pháp - Pdf 18

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương ngực (CTN) do tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ là tổn thương
nặng, nguy cơ tử vong cao. Trước thế kỷ 20, phần lớn nạn nhân bị CTN là những
người lính trong chiến tranh, một số ít là nạn nhân trong các vụ tai nạn lao động,
rất hiếm gặp CTN do TNGT. Từ năm 1950 đến 1960 của thế kỷ 20, với sự ra đời
của các loại xe ôtô tốc độ cao và hình thành hệ thống đường cao tốc ở các nước
công nghiệp phát triển đã làm số vụ TNGT tăng nhanh, số nạn nhân bị CTN
cũng tăng lên đáng kể [95].
Tại Mỹ, khoảng 70% số người chết do TNGT có CTN trong đó 25% là nguyên
nhân trực tiếp gây tử vong, trung bình mỗi ngày số nạn nhân tử vong vì CTN do
TNGT là 12/1triệu dân, ước tính hàng năm có khoảng 16.000 số người chết do
CTN, hậu quả trực tiếp của tình trạng gia tăng số lượng các loại phương tiện giao
thông tốc độ cao [28].
Tại Việt Nam, từ năm 1989-1998, số vụ TNGT và người bị thương vong tăng
nhanh trên khắp địa bàn cả nước với nguyên nhân chủ yếu là chấn thương sọ
não (CTSN). Những năm gần đây, sự phát triển của hệ thống đường giao thông
và sự tăng đột biến số lượng các loại xe ôtô, xe máy cùng với quy định bắt buộc
đội mũ bảo hiểm đã làm cho đặc điểm chấn thương do TNGT có xu hướng
chuyển dịch từ CTSN sang CTN và các loại hình chấn thương khác [2].
Chức năng của giám định Y- Pháp (GĐYP) trong các vụ TNGT là xác định
nguyên nhân tử vong, cơ chế gây thương tích, dựng lại hiện trường vụ tai nạn và
nghiên cứu đặc điểm tổn thương của những nạn nhân tử vong nhằm tìm ra những
biện pháp phòng tránh TNGT phù hợp nhất, đồng thời giúp các thầy thuốc lâm
sàng trong chẩn đoán, hồi sức cấp cứu, tiên lượng và điều trị những người bị tai
nạn được tốt hơn.
Mặc dù đã có quy định của luật pháp về chức năng GĐYP trong các vụ TNGT,
nhưng trên thực tế ở nước ta việc khám nghiệm tử thi không phải lúc nào cũng
thuận lợi do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, dẫn đến hậu quả có
nhiều vụ việc giám định viên không giải thích được cơ chế hình thành dấu vết
thương tích và nguyên nhân tử vong của nạn nhân, đặc biệt trong những
trường hợp có CTN .

nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho thanh thiếu niên trong độ tuổi 15-19,
trong đó nạn nhân chủ yếu là người đi bộ, xe đạp và xe máy ở các nước châu
Phi, ven Địa Trung Hải và Đông nam Á [102]. Tại Mỹ, trong năm 2004 số người
3
chết và bị thương do TNGT trong độ tuổi từ 16-20 chiếm tỷ lệ cao nhất, lứa tuổi
5-9 có tỷ lệ tử vong thấp nhất, trẻ dưới 5 tuổi ít bị thương nhất [134].
Năm 2002 nạn nhân nam giới chiếm 73% tổng số nạn nhân tử vong do TNGT
trên toàn thế giới, số nạn nhân nam giới tử vong hàng ngày do TNGT ở châu Á
và châu Phi cao nhất thế giới. Năm 2004 tỷ lệ tử vong của nam giới ở Mỹ là 26,7
và 8,4 với nữ giới là (tính trên 100.000 dân) [125].
Thiệt hại kinh tế do TNGT trên thế giới khoảng 518 tỷ đôla/năm, chiếm khoảng
1% GNP với những nước có thu nhập thấp, 1,5% GNP ở các nước có mức thu
nhập trung bình và 2% GNP với các nước có thu nhập cao. TNGT còn tác động
trực tiếp tới lực lượng lao động chính ở các nước đang phát triển. Năm 1998 có
51% số người thiệt mạng và 59% số người tàn tật do TNGT là lao động chính
trong mỗi gia đình và xã hội [102]. Theo Siegel [72] thiệt hại kinh tế do TNGT
gây ra tại nước Mỹ trong năm 2002 chiếm 2,3% tổng ngân sách, tương đương
230 tỷ đôla.
Mặc dù TNGT đã gây ra những tổn thất rất lớn cho mỗi gia đình và xã hội,
nhưng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở những nước có thu nhập trung
bình và thấp, hoạt động nhằm làm giảm thiểu TNGT như giáo dục ý thức chấp
hành luật lệ giao thông, cải tạo hệ thống đường giao thông, xử phạt người vi
phạm, cấp cứu người bị nạn…cũng như chi phí cho nghiên cứu về ATGT còn ở
mức rất thấp so với chi phí cho chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Ước tính thiệt
hại kinh tế do TNGT gây ra với các nước có thu nhập trung bình và thấp mỗi
năm khoảng 100 tỷ USD, vượt xa mức viện trợ hàng năm mà những nước này
nhận được [102].
Trong khi đó, tại nước Anh, chi phí nghiên cứu phòng chống TNGT cho một
trường hợp tử vong tương đương 1.492.910 bảng Anh, chi phí cho một nạn nhân
bị thương tích nặng là 174.520 bảng. Năm 2002, chi phí cho TNGT tại nước Anh

năm 1990, năm 2006 cả nước có 14.161 vụ TNGT làm chết 12.373 người, tăng
10,7% so với năm 2005 ( số liệu của UBATGTQG 2005-2006).
Theo số liệu của một công trình nghiên cứu về tai nạn giao thông tại Việt Nam
của trường đại học Massachusetts ( Mỹ) trong năm 2002, tỷ lệ tử vong do TNGT
ở Việt Nam là 26,7/100.000 dân, trung bình mỗi ngày có 58 người chết vì TNGT,
số người bị thương tật vĩnh viễn gấp 2-3 lần số tử vong[78].
TNGT cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em bằng hoặc lớn hơn
15 tuổi với số lượng trung bình hàng năm là 4750 nạn nhân ( 13 nạn nhân /ngày)
và 275.000 nạn nhân bị thương tích ( 750/ngày). Trẻ em không những là nạn
nhân trực tiếp phải gánh chịu thương tích do TNGT mà còn là những nạn nhân
gián tiếp khi cha mẹ của các em bị chết, bị thương trong các vụ TNGT. Thiệt hại
kinh tế do TNGT ở Việt Nam trong năm 2003-2004 là 900 triệu USD [78].
1.2. Nghiên cứu CTN do TNGT trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Trong thời kỳ từ 3000-1600 năm trước công nguyên, ở Ai Cập cổ đại đã có tài
liệu y học ghi trên giấy cói về cách chữa trị bệnh nhân bị CTN. Tại Trung Quốc,
thời Chiến Quốc (475-221 trước Công nguyên), sách “Lễ ký” và “Lã Thị Xuân
Thu” đã ghi: “ mệnh lý chiêm thương, sát sáng, thị tích, thẩm đoán, quyết ngục
tụng, tất đoan bình”, có nghĩa là “Lý giải về mạng người, quan sát thương tích,
phân tích vết thương, thẩm tra phán đoán để định tội tất sẽ công bằng”. Thời nhà
Tần (220 năm trước Công nguyên) đã có nhiều văn bản viết trên thẻ tre liên
quan đến y pháp, trong đó có nội dung “phong chẩn thức” qui định người gây ra
6
những vết thương nặng nhẹ khác nhau sẽ phải chọn những hình phạt nặng nhẹ
khác nhau [2].
Khoảng đầu thế kỷ thứ V sau Công nguyên, người Đức là dân tộc đầu tiên thời
bấy giờ đề ra việc giám định thương tích để xác minh hung khí, thầy thuốc phải
gửi văn bản giám định cho tòa án. Tại Pháp, dưới thời Vua Hăng-ri đệ tứ luật
pháp qui định các bác sĩ, nội, ngoại, sản sau khi được trưng dụng giám định
những trường hợp chết do thương tích hoặc thai nghén đều phải làm nhân chứng

giữa tổn thương các tạng trong lồng ngực như tim, phổi, quai động mạch chủ
với tốc độ xe chạy và loại hình tai nạn trên những nạn nhân là lái xe hoặc người
ngồi ở ghế trước [61], [130].
Năm 1972 Huelk và cộng sự nêu cơ chế gây tổn thương tim và động mạch chủ
ở người lái xe ô tô là do giảm tốc độ đột ngột, tác giả nhận xét dấu vết thương
tích ở thành ngực nạn nhân không phải là yếu tố quyết định để đánh giá, tiên
lượng mức độ tổn thương nặng hay nhẹ các tạng bên trong lồng ngực [69].
Những năm tiếp theo, rất nhiều nhà khoa học như Pevec (1986), Mattox (1986)
Shorr (1987), McCoy (1989), Brathwaite (1990), Tomczak và Buikstra (1999),
Durak (2001) đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loại hình CTN do TNGT
[34], [87], [89], [90], [104], [114], [124].
Trong thời gian này đã xuất hiện công trình nghiên cứu chuyên sâu về CTN do
TNGT ở nhiều quốc gia trên thế giới như :
8
Tại Mỹ : Nghiên cứu của Locicero và Mattox (1989) đã ghi nhận trung bình
hàng năm ở nước Mỹ có 150.000 người chết vì chấn thương, trong đó CTN là
nguyên nhân gây tử vong cho khoảng 25% tổng số nạn nhân tử vong do tai nạn
thương tích, CTN cũng là yếu tố phối hợp gây tử vong của 50% tổng số nạn
nhân tử vong do chấn thương [79]. Nghiên cứu của Devitt năm 1991 cho kết quả
tỷ lệ tử vong ở những nạn nhân phải nhập viện vì CTN là 62,5% [50].
Nghiên cứu của Siegel và cộng sự đã ghi nhận trong năm 2002, nước Mỹ có
42.815 nạn nhân tử vong do TNGT, hơn 5 triệu người bị thương trong đó
356.000 người bị thương nặng cần phải có can thiệp của y học. Trung bình cứ 1
triệu người thì có 12 người tử vong do CTN mỗi ngày, tương đương với số người
chết vì CTN trong 1 năm là 16.000 người [57]
Số liệu của trung tâm hồi sức cấp cứu tại Maryland ghi nhận 70,9% số nạn nhân
bị CTN do TNGT, trong số này chỉ có 16,3% số nạn nhân có CTN đơn thuần,
47,5% số nạn nhân có nhiều chấn thương phối hợp với CTN [44]. Sawyer nhận
xét 25% số nạn nhân bị TNGT có CTN và 50% số nạn nhân bị CTN có tổn
thương thành ngực, trên 80% số nạn nhân CTN nặng có tổn thương khác phối

Số liệu thống kê tại khoa phẫu thuật lồng ngực thuộc khoa Y trường đại học tổng
hợp Ondokuz Mayis (Thổ Nhĩ Kỳ) ghi nhận trong thời gian từ 9/1997 đến
8/2002 có 521 bệnh nhân bị CTN phải vào điều trị tại viện, nguyên nhân do
TNGT chiếm 62%, trong đó 56% số nạn nhân có đa chấn thương phối hợp với
CTN [95].
10
Nghiên cứu của Liman và cộng sự trên 1490 nạn nhân được cấp cứu tại trung
tâm cấp cứu chấn thương của Ankara - Thổ Nhĩ Kỳ cũng ghi nhận 67% số nạn
nhân bị chấn thương ngực do TNGT, trong số này có 482 nạn nhân phải nhập
viện do CTN nặng [77].
Nghiên cứu của Pathak và cộng sự trên những nạn nhân tử vong do TNGT tại
Varanasi và Adjoining (Ấn Độ) cho thấy có 61,76% số nạn nhân có CTN trong
đó chủ yếu là tổn thương ở phổi(81,3%) và ở tim (43,08%), tổn thương mạch
máu lớn 21,95% [100].
Tại Nhật Bản : TNGT tăng cao nhất trong những năm 1970-1979, trong khoảng
thời gian này số nạn nhân TNGT bị chấn thương sọ não (CTSN) chiếm tỷ lệ cao
nhất nhưng từ năm 1992 trở lại đây số vụ TNGT có xu hướng giảm dần, tỷ lệ
CTSN cũng giảm nhưng số nạn nhân bị CTN lại tăng lên một cách đáng kể [73].
Nghiên cứu của Than và cộng sự trên 1018 nạn nhân được cấp cứu tại bệnh viện
Tan Tock Seng(Singapore) do bị TNXM trong thời gian từ 01/12/1998 đến
31/5/1999 đã kết luận tỷ lệ CTN nặng là 79,2% [121].
1.2.2. Tại Việt nam
Môn học Y Pháp được đưa vào giảng dạy tại trường đại học Y khoa Hà Nội từ
năm 1919 dưới thời Pháp thuộc, hơn hai tháng sau ngày tuyên bố độc lập, nhà
nước ta đã có sắc lệnh về công tác giám định y pháp (GĐYP), những năm đầu
sau hoà bình lập lại, các vụ việc cần phải có GĐYP như án mạng, tai nạn…
được cố giáo sư Vũ Công Hòe, người đầu tiên xây dựng nền móng cho chuyên
ngành Giải Phẫu Bệnh-Y Pháp ở Việt Nam thực hiện. Sau đó bác sỹ Trương Cam
Cống, giáo sư Nguyễn Như Bằng, giáo sư Nguyễn Vượng và nhiều thế hệ tiếp
tục thực hiện công việc giám định và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành Y

chiếm tỷ lệ cao nhất tại bệnh viện Việt Đức (73,9%) gấp 3 lần so với con số tử
vong do bệnh lý [11], [13], [15], [16].
1.3. Phân loại chấn thương ngực
1.3.1. Định nghĩa
Chấn thương ngực là mọi tổn thương của thành ngực và các tạng trong lồng
ngực, bao gồm chấn thương ngực kín và vết thương ngực hở [1].
1.3.2. Phân loại
1.3.2.1. Lâm sàng :
Nhiều tác giả đã phân loại tổn thương giải phẫu của CTN như sau [1], [7], [25]:
1.3.2.2. Giám định Y Pháp :
Chấn thương ngực được chia thành hai nhóm chính là thương tích do vật tày, vật
sắc nhọn và tổn thương do sóng nổ . Mọi tổn thương của thành ngực và các tạng
Gãy xương sườn.
Mảng sườn di động.
Gãy xương ức.
Tràn máu màng phổi.
Tràn khí màng phổi.
Xẹp phổi.
Vết thương ngực hở.
Vết thương ngực bụng.
Máu cục khoang màng phổi.
Tổn thương tim.
Vỡ thực quản.
Vỡ cơ hoành.
Tổn thương mạch máu lớn .
Vỡ phế quản.
13
trong lồng ngực được phân loại theo tổn thương bên ngoài và bên trong [2], [21],
[25], [30] bao gồm:
Tổn thương bên ngoài :

Lồng ngực bao gồm thành ngực và khoang ngực, hình nón cụt, hẹp ở trên và
rộng ở dưới, hơi dẹt theo chiều trước sau, thành sau cao hơn thành trước. Lồng
ngực có 4 thành và 2 lỗ[9].
Thành trước : Được tạo nên bởi xương ức và các sụn sườn.
14
Thành sau : Được tạo bởi cột sống ngực cong lồi ra phía trước và phần sau của
các xương sườn lõm thành 2 rãnh sâu và rộng ở hai bên tạo thành hai rãnh phổi
nằm ở hai bên cột sống đoạn ngực
Thành bên : Hai thành bên được tạo nên bởi các xương sườn và sụn sườn ngăn
cách nhau bởi các khoang gian sườn. Có 11 khoang gian sườn được lấp kín bởi
các cơ gian sườn và màng gian sườn
Lỗ ngực trên : Được giới hạn bởi mặt trước đốt sống ngực 1, xương sườn 1 và
khuyết tĩnh mạch cảnh của xương ức.
Lỗ ngực dưới : Được giới hạn bởi thân đốt sống ngực XII, xương sườn XII,
cung sườn và góc xương ức.
1.4.1.Thành ngực
Theo phân loại giải phẫu bề mặt, từ ngoài vào trong thành ngực có 3 lớp :
1.4.1.1. Lớp ngoài : Bao gồm
Da : Dày và rất di động, trừ vùng mặt trước xương ức.
Lớp mỡ : Phía trước xương ức hầu như không có, ở các nơi khác lớp mỡ dày hay
mỏng tuỳ theo vị trí, ở phụ nữ còn có 2 tuyến vú phát triển.
Lớp mô liên kết dưới da và mạc nông ( màng liên kết mỏng).
Các cơ : ở phía trước có cơ ngực to ở nông, các cơ dưới đòn, cơ ngực bé và một
phần nguyên ủy cơ thẳng bụng ở sâu. Phía sau có cơ thang, cơ lưng rộng, cơ
nâng vai, cơ trám, cơ răng sau trên và dưới và các cơ lưng đích thực.
15
Phần trên của thành ngực được bao phủ bởi nhiều lớp cơ và mô mỡ tạo thành lớp
đệm có tác dụng bảo vệ các tạng trong lồng ngực, vì vậy khi có chấn thương, dấu
vết thương tích trên da ít khi rõ ràng, rất khó đánh giá bằng quan sát bên ngoài vì
không tương xứng với tổn thương bên trong, có khi dấu vết bên ngoài chỉ là vết

bật ra trước (hay gặp ở người nhiều tuổi). Gãy xương ức là dấu hiệu chỉ điểm
cho tổn thương tim phổi hoặc các thành phần trong trung thất [10], [28], [47.]
Xương sườn
Có 12 đôi xương sườn, là xương dài, dẹt và cong, trong đó các xương sườn từ số
I đến số VII tiếp khớp với xương ức bằng sụn sườn riêng (được gọi là các xương
sườn thật). Các đôi xương sườn VIII đến X không có sụn sườn riêng để tiếp
khớp với xương ức nên được gọi là các xương sườn giả. Các xương sườn XI-
XII không tiếp khớp với xương ức được gọi là xương sườn cụt.
Về hình thể, mỗi xương sườn có 1 chỏm, 1 cổ và 1 thân. Chỏm sườn nằm ở đầu
sau của thân xương, có mặt khớp để tiếp khớp với thân đốt sống ngực. Cổ sườn
là chỗ thắt giữa chỏm và thân xương sườn. Thân sườn dẹt và cong, có rãnh sườn
để thần kinh và mạch máu đi bên trong. Đầu sau của thân sườn có củ sườn, trên
củ sườn có mặt khớp củ sườn để tiếp khớp với mỏm ngang đốt sống ngực. Đầu
trước của thân sườn tiếp giáp với sụn tương ứng.
17
Các xương sườn trên từ số 1-3 được các cơ vùng vai cánh tay và cánh tay, xương
bả vai và xương đòn và các cơ đi kèm bao bọc phía ngoài có tác dụng như một
lớp đệm, vì vậy nếu các xương sườn này tổn thương chứng tỏ ngực nạn nhân bị
tác động với lực rất lớn, có thể gây tổn thương cho các vùng giải phẫu liên quan
như đầu mặt cổ, khí quản, phổi, mạch máu lớn và đám rối thần kinh cánh tay [1],
[4], [9], [27].
Hay gặp nhất là tổn thương các xương sườn từ số 4 đến số 9 do các xương có
chiều dài và độ cong lớn, lớp cơ thành ngực không dày nên khi bị tác động vị trí
gãy thường ở điểm xương sườn có độ cong nhất. Khi bị gãy, đầu xương sườn có
xu hướng chọc vào trong khoang ngực làm rách màng phổi, gây tụ máu hoặc
đụng dập nhu mô phổi, tràn máu tràn khí màng phổi [136].
Do những đặc điểm về vị trí giải phẫu nên khi bị gãy các xương sườn từ số 8-10
ít khi gây tổn thương phổi mà chủ yếu liên quan đến chấn thương gan, lách hoặc
các tạng trong ổ bụng. Rất hiếm gặp gãy xương sườn số 11,12 [5], [7], [10].
Ở trẻ em : Gãy xương sườn hiếm gặp hơn so với người lớn tuổi do lồng ngực

Khi các đầu gãy xương sườn gài vào nhau đủ chặt làm cho mảng sườn không di
động được, khung sườn vẫn cứng nên không có rối loạn đặc biệt. Khi thở mạnh,
hắt hơi hoặc thay đổi tư thế, các đầu gãy rời nhau sẽ tạo thành mảng sườn di
động thứ phát.
19
Mảng sườn bán di động hình thành khi có một đầu gãy thực sự và một đầu gãy
không di lệch, còn nằm trong màng xương hoặc vị trí gãy ở phần sụn sườn sẽ tạo
thành bản lề và hình thành nên nửa mảng sườn [1].
Tổn thương sụn sườn : Nguyên nhân giống như gãy xương sườn. Sụn sườn có
thể bị gãy, bị tách rời 1 phần hoặc rời hoàn toàn khỏi khớp sụn sườn. Thường
khó phát hiện trên phim chụp X quang vì tổ chức sụn không cản quang [10] .
Các đốt sống ngực
Đặc điểm chung là có hõm sườn ngang ở mỏm ngang để tiếp khớp với củ sườn
và các hõm sườn trên và dưới trên thân đốt để tiếp khớp với chỏm sườn tạo
thành khung xương vững chắc bảo vệ các tạng trong lồng ngực.
Chấn thương cột sống hay gặp nhất ở nạn nhân bị TNGT và ngã cao với cơ chế
chủ yếu là các đốt sống bị uốn cong, soắn vặn hoặc bị đè ép mạnh và đột ngột
gây trật gãy, lún xẹp thân đốt sống.
Trong GĐYP, nạn nhân bị trật gãy thân đốt sống thường có nhiều tổn thương
nặng các tạng ở ngực, bụng, hay gặp ở những nạn nhân bị bánh xe ôtô đè qua
ngực bụng, lưng nạn nhân [2], [56].
Cơ hoành
Là cơ hô hấp quan trọng nhất, cấu trúc hình vòm, ngăn cách khoang ngực với
khoang bụng. Cơ hoành gồm phần cơ ở xung quanh và phần gân ở giữa, được
chia thành 3 phần ức - sườn - thắt lưng dựa trên các vùng bám ở ngoại vi bắt
nguồn từ 6 đôi xương sườn dưới cùng phía cung sau, mặt sau của xương ức
( mũi ức) và hai trụ phải và trái bám vào dây chằng cung sau của cột sống thắt
lưng. Trên cơ hoành có nhiều lỗ để các tạng, mạch máu và thần kinh đi qua.
20
Nơi ĐMC đi qua là vị trí thấp nhất và ở sau cùng của vòm hoành, ngang mức

Do trung thất chứa các tạng quan trọng như tim, mạch máu lớn, thực quản, khí
quản, phế quản, ống ngực… nên khi có tổn thương của bất kỳ thành phần nào
trong trung thất cũng có thể gây tụ máu hoặc tràn máu, tràn khí trung thất.
Tụ máu trung thất hay gặp ở nạn nhân bị chấn thương ngực nặng, là dấu hiệu
của tổn thương tim, động mạch chủ, khoang màng tim hoặc các thành phần
trong trung thất. Tụ máu đơn thuần ở cuống phổi do cơ thể nạn nhân bị ngã, lực
văng quật mạnh hoặc do tăng và giảm tốc độ đột ngột [36], [117].
1.4.2.2. Tim và mạch máu lớn
Là khối cơ rỗng, hình tháp, có 3 mặt, một đỉnh và một nền, trục tim chếch xuống
dưới, sang trái và ra trước. Các mạch máu đi vào và ra khỏi tim có tác dụng như
dây chằng treo tim trong màng tim bao gồm tĩnh mạch chủ trên và chủ dưới đổ
vào nhĩ phải, tĩnh mạch phổi đổ vào nhĩ trái. Động mạch chủ và động mạch phổi
xuất phát từ tâm thất trái và phải.
Tim được treo lơ lửng ở trung thất giữa, được bảo vệ rất tốt bởi các xương thành
ngực và tổ chức phần mềm bao quanh, tuy nhiên ở những nạn nhân bị TNGT tim
vẫn có thể bị tổn thương khi thành ngực bị tác động mạnh theo chiều trước sau
sẽ làm cho tim bị đè ép giữa xương ức và cột sống. Hay gặp nhất là những nạn
22
nhân là lái xe ngực bị va đập, đè ép vào vòng tay lái, trong thi đấu thể thao, bóng
đá, khúc côn cầu…Ngoài ra tim cũng dễ bị tổn thương theo cơ chế tăng và giảm
tốc độ đột ngột [9], [26], [35], [123].
Parmley và cộng sự cho rằng tim có thể bị tổn thương do lực tác động truyền qua
cơ hoành theo cơ chế “búa thủy lực” hay gặp ở những nạn nhân là lái xe có xử
dụng dây an toàn, khi xảy ra tai nạn, dây an toàn tác động vào thành bụng làm
tăng áp lực đột ngột trong khoang bụng và gây tổn thương tim qua cơ hoành.
Đụng dập cơ tim ở thất phải hoặc mỏm tim được hình thành do tim bị va đập
mạnh vào mặt sau thành ngực trước là tổn thương hay gặp ở nạn nhân bị CTN do
TNGT [98].
Tổn thương mạch máu lớn trong lồng ngực: Hay gặp nhất là rách động mạch chủ
làm đứt rời hoàn toàn hoặc rách một phần thành mạch. Nếu chỉ bị rách lớp cơ và

Khí ở trung thất cũng có thể ngấm vào mô liên kết sau phúc mạc hoặc các
khoang ngoài phúc mạc khác, khi áp lực tại trung thất quá lớn có thể gây rách
màng phổi ở gần sát trung thất và gây tràn khí màng phổi [2], [7], [10].
Tổn thương thành ngực và mô phổi là nguyên nhân gây chảy máu vào trong
khoang màng phổi với số lượng nhỏ. Nếu có mảng sườn di động thường gây tràn
24
máu màng phổi với số lượng lớn do gây tổn thương mạch máu gian sườn đồng
thời gây suy hô hấp.
Đụng dập nhu mô phổi, tràn máu và tràn khí màng phổi là những tổn thương có
mối liên quan chặt chẽ với nhau trên nạn nhân bị CTN nặng. Trong các vụ va
chạm xe ở tốc độ cao, áp lực trong khoang màng phổi tăng đột ngột có thể gây
rách nhu mô phổi hoặc làm đứt ngang một nhánh phế quản chính gây xẹp phổi
và tràn máu, tràn khí dưới da [115], [117], [118].
Với những người trẻ tuổi, do xương sườn có khả năng đàn hồi nên chịu đựng
tốt lực đè ép và uốn cong vì vậy ít khi bị gãy, nhưng vẫn có thể gặp tổn thương
mô phổi nếu lực va đập đủ mạnh gây áp lực trong khoang màng phổi tăng cao
đột ngột. Ở người già do xương dòn, dễ gãy nên tổn thương đụng dập mô phổi
chủ yếu do đầu gãy xương chọc vào [133].
Tổn thương rách vỡ khí phế quản do TNGT hiếm gặp, khoảng dưới 1% tổng số
nạn nhân bị CTN nặng. Phế quản được bảo vệ rất tốt bởi các lớp cơ vùng cổ, cột
sống do đó có thể chịu đựng được với những chấn thương nhẹ, lực va đập nhỏ
[32]. Theo Devitt và cộng sự [50] cơ chế của vỡ phế quản trong chấn thương
ngực kín là :
− Áp lực trong lòng phế quản tăng đột ngột khi nắp thanh quản đang ở thì đóng
gây tổn thương rách phần màng phế quản gốc.
− Thành ngực bị va đập, đè ép mạnh theo chiều trước – sau sẽ đẩy phổi ra hai
bên gây rách, đứt khí quản hoặc phế quản gốc.
− Do tăng và giảm tốc độ đột ngột làm cho hai phổi bị rung lắc mạnh, có thể
gây rách đứt phế quản ở những vị trí cố định và di động như xung quanh trạc
ba khí phế quản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status