BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------------- CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2010”
TÊN CÔNG TRÌNH:
BÀI HỌC TỪ GÓI KÍCH CẦU –
HƢỚNG ĐI CHO VIỆT NAM ĐỐI PHÓ VỚI
KHỦNG HOẢNG
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
THÁNG 06/2010
1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
trong giai đoạn Đại suy thoái và cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, “mổ xẻ” gói kích cầu; đƣa
ra các biện pháp nên kích cầu ở đâu cho hợp lý; rồi đến đo lƣờng tác động các chính sách phản
2
ứng trên thế giới, phân tích những mặt tích cực và tiêu cực của gói kích cầu, tất cả chỉ nhằm mục
đích duy nhất: Mục tiêu đƣa ra những đề xuất để Việt Nam chống khủng hoảng thành công
trong tƣơng lai, hoặc nếu bị tác động bởi cuộc khủng hoảng toàn cầu thì cũng chỉ ở mức độ
nhẹ; đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang gia nhập vào thị trƣờng tài chính một cách
mạnh mẽ. Để đạt đƣợc mục tiêu quan trọng trên, ngoài việc chúng tôi tiến hành phân tích gói
kích cầu của những nƣớc khác để thấy đƣợc triết lý hiện đại trong biện pháp chống suy thoái,
chúng tôi đặc biệt nhận thấy rằng chính phủ cần phải đặc biệt giải quyết triệt để một số “căn
bệnh” để xây dựng nền kinh tế hiện đại, vững chắc. Đây mới chính là nền tảng vững chắc để nền
kinh tế Việt Nam ít chịu tác động từ cuộc khủng hoảng. Và khi bị tác động đến nền kinh tế thì sẽ
có những biện pháp kịp thời, hợp lý để chống khủng hoảng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu bao gồm: các chỉ tiêu đặc trƣng của nền kinh tế Việt Nam phản
ánh tác động của cuộc Khủng hoảng kinh tế thế giới; chính sách kích cầu của Chính phủ Việt
Nam đối phó với khủng hoảng; và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới đã đối phó với
khủng hoảng nhƣ thế nào để từ đó đƣa ra bài học và hƣớng đi hiệu quả cho Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu: giai đoạn từ những tháng cuối năm 2008 đến những tháng đầu năm
2009 đối với các chỉ tiêu kinh tế chịu tác động từ Khủng hoảng; và giai đoạn từ tháng 12 năm
2008 đến những tháng cuối năm 2009 đối với gói kích cầu của Chính Phủ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp phân tích, thống kê mô tả đóng vai trò chủ đạo trong
suốt quá trình nghiên cứu đề tài này.
6. Kết cấu của bài nghiên cứu
Lời mở đầu
Chƣơng 1: Khủng hoảng kinh tế thế giới và ảnh hƣởng tới Việt Nam – Sự cần thiết của
gói kích cầu
Chƣơng 2: Các phản ứng chính sách của Chính Phủ đối phó với khủng hoảng
1.3.2.7 Tác động khác .......................................................................................................... 22
1.4 Sự cần thiết của gói kích cầu .............................................................................................. 22
CHƢƠNG 2: CÁC PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI PHÓ VỚI KHỦNG
HOẢNG ................................................................................................................. 24
2.1 Xu hƣớng các phản ứng chính sách chính phủ các nƣớc thế giới đối phó với khủng hoảng
– một bƣớc tiến mới từ bài học Đại suy thoái ......................................................................... 24
2.2 Các phản ứng chính sách của Chính Phủ Việt Nam đối phó với khủng hoảng.................. 25
2.2.1 Chính sách tiền tệ ........................................................................................................ 26
2.2.2 Chính sách tài khóa ..................................................................................................... 27
2.2.2.1 Chi tiêu của chính phủ .............................................................................................. 27
2.2.2.2 Chính sách giảm thuế ............................................................................................... 34
CHƢƠNG 3: KÍCH CẦU VÀO ĐÂU LÀ HỢP LÝ .................................................................. 39
3.1 Xem xét ảnh hƣởng về kích cầu trong thành phần tổng cầu ............................................. 39
3.2 Xem xét ảnh hƣởng về kích cầu theo ngành kinh tế ......................................................... 39
3.3 Xem xé
t
ảnh hƣởng v
ề
k
í
ch cầu
t
heo vùng ....................................................................... 40
3.4 Xem xé
t
ảnh hƣởng v
ề
k
í
ch cầu theo đối tƣợng ................................................................ 42
PHỤ LỤC 1 ............................................................................................................................... 91
PHỤ LỤC 2 ............................................................................................................................. 109
5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ
Hình 1: Sản lƣợng công nghiệp Mỹ
Hình 2: Sản lƣợng công nghiệp Thế giới
Hình 3: Sản lƣợng Thế giới 1929 – 1938 (1929=100)
Hình 4: Mậu dịch Thế giới 1929 – 1938 (1929=100)
Hình 5: Khối lƣợng mậu dịch Thế giới
Hình 6: Khối lƣợng mậu dịch Thế giới theo bình quân gia quyền
Hình 7: Thị trƣờng chứng khoán Thế giới
Hình 8: Tăng trƣởng GDP thế giới và Việt Nam
Hình 9: Diễn biễn tăng trƣởng kinh tế Việt Nam năm 2008-2009
Hình 10 : Tình hình xuất – nhập khẩu Việt Nam
Hình 11: Xuất khẩu Việt Nam tháng 11/2007 và 11/2008
Hình 12: Tỷ trọng các thị trƣờng xuất khẩu chính của Việt Nam 2008
Hình 13: Lƣợt khách quốc tế đến Việt Nam
Hình 14: Nguồn vốn FDI đầu tƣ vào các nƣớc đang phát triển và tỷ lệ giải ngân FDI thực tế của
Bảng 1: Cơ cấu gói kích cầu của chính phủ
Bảng 2: Ảnh hƣởng
c
ủa k
íc
h
c
ầu đố
i
vớ
i
c
á
c
nhân tố
Bảng 3: Ch
ỉ
số
l
an toả và độ nhạy
Bảng 4: Hiệu quả của chính sách kích cầu
Bảng 5: Mức độ lan tỏa theo ngành của 8 vùng
Bảng 6: Panel Regressions. Dependent variable: change in log real GDP
Bảng 7: Panel Regressions. Dependent variable: real GDP 8
GÓI KÍCH CẦU
1.1 Xu hướng tác động của khủng hoảng thế giới – So sánh mức độ tác
động của Đại suy thoái và Khủng hoảng toàn cầu hiện nay
Hình 1 (phụ lục 1) cho thấy các chỉ số sản lƣợng công nghiệp tiêu chuẩn Hoa Kỳ cho hai
giai đoạn1. Đƣờng liền nét thể hiện sản lƣợng công nghiệp tại đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng
ở Mỹ trong tháng bảy năm 1929, trong khi đƣờng có dấu chấm thể hiện sản lƣợng công nghiệp
tại đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ trong tháng 12 năm 2007. Mặc dù sản lƣợng
công nghiệp Mỹ giảm sâu, nhƣng nó đã không giảm nhanh nhƣ sau tháng 6 năm 1929. Kết luận
hợp lý là cuộc khủng hoảng mà nền kinh tế đối mặt trong mùa xuân năm ngoái dù khốc liệt
nhƣng không phải là cuộc đại suy thoái. Nhƣ Krugman đã đặt tên cho nó là "Một nửa cuộc đại
suy thoái".
Bây giờ chúng tôi sẽ cho thấy rằng quan điểm chính của Mỹ là quá lạc quan. Hình 2
(phụ lục 1) so sánh sự dịch chuyển sản lƣợng công nghiệp toàn cầu trong suốt hai cuộc khủng
hoảng
2
. Vì chúng tôi chỉ chú trọng sự sụt giảm sản lƣợng công nghiệp thế giới trong hai thời kỳ,
chúng tôi vẽ hai chỉ số này từ 2 đỉnh, thời điểm mà chúng tôi cho là tháng 6 năm 1929 và tháng 4
năm 2008
3
. Nhƣ có thể thấy, trong năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng, sản lƣợng công nghiệp
toàn cầu giảm nhanh nhƣ trong năm đầu tiên của cuộc đại suy thoái
4
. Sau đó sản lƣợng dƣờng
nhƣ chạm đáy vào mùa xuân và từ đó có dấu hiệu hồi phục trở lại. Điều này trái ngƣợc với cuộc
đại suy thoái: mặc dù có hai giai đoạn hồi phục (giai đoạn hai vào năm 1931 là khá đáng kể),
nhƣng sản lƣợng vẫn giảm trung bình trong ba năm liền.
Một khác biệt giữa hôm nay và 80 năm trƣớc liên quan đến sản lƣợng công nghiệp và địa
điểm của sự sụt giảm sản lƣợng công nghiệp. Tám thập kỷ trƣớc đây, ngành công nghiệp chủ yếu
tập trung ở Châu Âu và Bắc Mỹ
5
sản xuất nông nghiệp và sản xuất sơ cấp khác thống trị, thì lại ổn định hơn. Tƣơng tự, trao đổi
ngoại thƣơng hàng công nghiệp sụt giảm nhanh hơn các sản phẩm sơ cấp (xem thêm Hình 4 phụ
lục 1). Do vậy, giá thƣơng mại của Miền Nam đã sụt giảm, vì giá cả hàng hóa cơ bản giảm nhanh
hơn giá của hàng công nghiệp. Đây là một cơ chế quan trọng làm giảm thu nhập ở phía Nam mặc
dù sản lƣợng của nó ổn định hơn. (Chuyện tƣơng tự đã xảy ra cho các nền kinh tế sản xuất dầu
trong cuộc khủng hoảng năm 2008-2009.)
Ngƣợc lại, ngày nay, ngành công nghiệp phân bổ rộng khắp trên thế giới, và do vậy sản
lƣợng đã sụt giảm nhanh chóng ở khắp mọi nơi trong năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng
6
.
Nhìn chung, sản lƣợng công nghiệp giảm nhanh trong mƣời hai tháng đầu tiên bắt đầu
vào tháng Tƣ 2008, giống nhƣ đã từng xảy ra trong giai đoạn đầu của cuộc Đại khủng hoảng. Có
thể lập luận rằng, sự sụt giảm ban đầu này không nên xem là đáng báo động bởi vì ngày nay
ngành công nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ trong GDP và việc làm so với hơn 80 năm trƣớc
đây. Mặc dù điều này có thể đúng cho các nền công nghiệp phát triển sớm nhƣ Anh, Pháp, Đức
và Hoa Kỳ, nhƣng lại không đúng đối với các nền công nghiệp hóa mới ở châu Âu sau này nhƣ
Phần Lan, Hungary, Ireland, Ba Lan và Bồ Đào Nha
7
. Nó thậm chí còn đúng ít hơn đối với cả
thế giới nhƣ một tổng thể, dựa trên sự nghiệp công nghiệp hóa nhanh chóng diễn ra ở các nƣớc
đang phát triển trên thế giới trong nửa thế kỷ qua
8
.
Còn về khối lƣợng mậu dịch thì nhƣ thế nào? Theo số liệu theo quý về khối lƣợng mậu
dịch thế giới
9
, cung cấp bởi số liệu của Hội Liên Hiệp các nƣớc, nó đã giảm 36 phần trăm từ quý
6
Điều này cũng có ý nghĩa quan trọng đối với sự hiểu biết về sự sụp đổ của thƣơng mại.
lƣợng trong cuộc khủng hoảng hiện tại cao hơn, bao gồm sự tăng trƣởng trong chuyên môn hóa
theo ngành dọc (Yi 2008, 2009 Freund, Tanaka 2009) và khó khăn trong việc huy động nguồn
tài trợ cho thƣơng mại trong cuộc khủng hoảng tín dụng (Auboin 2009a, b). Cả hai đều có vấn
đề. Bằng chứng về hiệu ứng bậc nhất (first-order effect) từ sự gián đoạn cho việc cung cấp tín
dụng thƣơng mại là tối thiểu (nhớ rằng các bên và các quốc gia xuất nhập khẩu đã nhanh chóng
đƣa ra các khoản tín dụng khẩn cấp)
12
. Và dù tốc độ tăng trƣởng của việc chuyên môn hóa theo
ngành dọc có thể giải thích cho một sự sụt giảm mậu dịch trong cuộc khủng hoảng tài chính lớn
hơn về giá trị tuyệt đối, nhƣng tự nó không thể giải thích tại sao có một sự sụt giảm lớn hơn tính
theo giá trị tƣơng đối hoặc hệ số co dãn của mậu dịch so với sản lƣợng lớn hơn
13
.
Chúng tôi xin đƣa ra những giải thích trực tiếp hơn, cụ thể là sự thay đổi thành phần của
thƣơng mại. Năm 1929, 44% của thƣơng mại thế giới là hàng hoá sản xuất công nghiệp (Liên
Hiệp Quốc năm 1962, Bảng 1), tỷ lệ đó đã tăng lên tới 70 phần trăm trong 2007
14
. Nhƣ chúng ta
đã thấy ở phần trƣớc, sản xuất công nghiệp thì biến động nhiều hơn so với các ngành còn lại của
nền kinh tế, và nó là kết quả tại sao sản lƣợng và thƣơng mại hàng hóa công nghiệp sụt giảm
mạnh hơn so với hàng hóa sơ cấp trong cuộc Đại suy thoái.
Hình 6 (Phụ lục 1) thể hiện tác động của việc thay đổi thành phần này. Các dãy số có ký
hiệu “trọng số 1929” là giá trị trung bình có trọng số của dãy số liệu về khối lƣợng thƣơng mại
hàng công nghiệp và phi công nghiệp - đã đƣợc Đánh dấu trong hình 4 (các trọng số này là tỷ
10
Biểu đồ cobweb nổi tiếng cho thấy rằng thƣơng mại thế giới ký hợp đồng bằng 69% giữa Tháng 4 năm 1929 và tháng Hai năm
1933, âm mƣu chuyển động trong giá trị danh nghĩa của thƣơng mại thế giới, nhƣng sau đó nhƣ bây giờ, giá trị danh nghĩa của
thƣơng mại đã phần lớn thúc đẩy bởi giá cả giảm (Francois và Woerz 2009).
11
phƣơng diện toàn cầu, thị trƣờng cổ phiếu trong năm đầu tiên của cuộc khủng hoảng tín dụng đã
lao dốc nhanh hơn so với giai đoạn đầu của cuộc Đại suy thoái. Với triển vọng hồi phục mà bắt
đầu từ tháng 3/2009, cho đến nay, nó chỉ đƣa chúng ta quay lại việc so sánh cùng kỳ với cuộc
Đại suy thoái.
Tóm lại, thông qua so sánh mức độ trầm trọng của cuộc Đại suy thoái và cuộc khủng
hoảng toàn cầu hiện nay dựa trên 3 tiêu chí: sản lƣợng công nghiệp, mậu dịch thế giới và thị
trƣờng chứng khoán chúng tôi nhận thấy rằng cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay có mức độ
trầm trọng ngang bằng mà còn thậm chí nặng hơn so với cuộc Đại suy thoái. Tuy nhiên mức độ
trầm trọng này chỉ kéo dài 18 tháng. Sau 18 tháng thì sản lƣợng công nghiệp, mậu dịch thế giới
và thị trƣờng chứng khoán chạm đáy và bắt đầu đi lên. Điều này cho thấy rằng cuộc khủng hoảng
toàn cầu hiện nay có mức độ tác động trầm trọng không kéo dài và sâu nặng nhƣ thời Đại suy
thoái. Lý do chính cho nguyên nhân này chính là do các phản ứng chính sách của chính phủ hiện
nay để chống khủng hoảng tốt hơn. Vậy thì xu thế Việt Nam bị tác động khủng hoảng thế giới
nhƣ thế nào?
1.2 Tác
động
c
ủ
a kh
ủ
ng ho
ả
ng kinh t
ế
th
ế
gi
ớ
i đ
Ta có thể sử dụng một đẳng thức căn bản trong kinh tế học vĩ mô để xem xét tác động
của cuộc suy thoái kinh tế thế giới tác động thế nào tới nền kinh tế của Việt Nam. Đẳng thức có
dạng nhƣ sau:
Y = C + I + G + (EX-IM) (1)
Trong đó, Y là tổng cầu (hoặc còn đƣợc biết tới là thu nhập quốc dân), C là tiêu dùng, I là
đầu tƣ, và G là chi tiêu của khu vực chính phủ, EX là xuất khẩu, IM là nhập khẩu. Số chênh lệch
giữa EX-IM là thâm hụt/thặng dƣ thƣơng mại. Qua đẳng thức này, ta có thể thấy suy thoái kinh
tế thế giới ảnh hƣởng trực tiếp tới tổng cầu của Việt Nam qua các kênh sau:
- Suy giảm đầu tƣ nƣớc ngoài (là một phần của I ↓)
- Suy giảm cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam – trong đó bao gồm cả xuất khẩu tại chỗ
nhƣ khách du lịch sang Việt Nam giảm, qua đó làm giảm tổng cầu (EX ↓)
- Giảm nhập khẩu làm đầu vào cho xuất khẩu và FDI (IM↓) làm tăng tổng cầu (Y)
Tuy nhiên, do mức độ thâm dụng lao động của xuất khẩu của Việt Nam cao hơn so với
nhập khẩu, nên suy giảm kinh tế thế giới thông qua kênh xuất nhập khẩu cũng nhƣ kênh đầu tƣ
nƣớc ngoài còn có tác động giảm việc làm và qua đó giảm thu nhập ở Việt Nam. Giảm thu nhập
sẽ dẫn tới tiêu dùng của các hộ gia đình thấp đi (C ↓), và đầu tƣ của khu vực tƣ nhân cũng sẽ
giảm theo (I ↓). Qua đó, tổng cầu sụt giảm hơn nữa (trong nhiều năm qua, kiều hối đóng một vai
trò khá quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Với sự sụt giảm kinh tế tại
hầu khắp các nƣớc, lƣợng kiều hối chuyển về Việt Nam có thể cũng sẽ sụt giảm, dẫn tới sụt giảm
cầu tiêu dùng cũng nhƣ đầu tƣ trong nƣớc) (tuy nhiên, mức độ sụt giảm này có thể đỡ một phần
nào nếu ngƣời dân cắt giảm tiêu dùng hàng ngoại, tức là giảm nhập khẩu (IM↓)). Sự sụt giảm
này còn tiếp tục bị khuyếch đại bởi yếu tố tâm lý trong bối cảnh doanh nghiệp và ngƣời dân cảm
thấy rủi ro ngày một gia tăng ở cấp độ toàn cầu, dẫn đến sự điều chỉnh giảm tiêu dùng và đầu tƣ
một cách thái quá, không phù hợp với mức điều chỉnh tối ƣu (Hành vi của ngƣời dân Mỹ hiện
nay là một ví dụ điển hình: Khi nền kinh tế suy thoái, cầu suy yếu càng bị khuyếch đại bởi sự
thay đổi hành vi của ngƣời dân Mỹ, đang từ chi tiêu vƣợt mức thu nhập lại chuyển sang có mức
tiết kiệm dƣơng – hiện tƣợng xảy ra lần đầu tiên trong nhiều năm). Điều này tạo cơ sở lý thuyết
cho sự can thiệp của Chính phủ để khôi phục lại các hành vi kinh tế ở mức tối ƣu, với nguyên tắc
14
Tổng sản phẩm trong nƣớc (GDP) quý I/2009 ƣớc tính tăng 3,1% so với cùng kỳ năm
2008, bao gồm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,4%; khu vực công nghiệp và xây
dựng tăng 1,5%; khu vực dịch vụ tăng 5,4%. Trong tốc độ tăng trƣởng chung của toàn nền kinh
15
tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,1 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và
xây dựng đóng góp 0,7 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ đóng góp 2,3 điểm phần trăm. Tốc độ
tăng tổng sản phẩm trong nƣớc quý I năm nay tuy thấp hơn nhiều so với mức tăng cùng kỳ của
một số năm gần đây, nhƣng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hầu hết các nền kinh tế
trên thế giới bị suy giảm mạnh mà nền kinh tế nƣớc ta đạt đƣợc tốc độ tăng nhƣ trên là một cố
gắng rất lớn. (Xem thêm Hình 8, Hình 9 ở phụ lục 1)
1.3.2.2 Xuất khẩu
Nền kinh tế nƣớc ta chủ yếu dựa vào xuất khẩu, thêm vào đó, thị trƣờng xuất khẩu chủ
yếu của Việt Nam là Mỹ và EU (chiếm khoảng gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu) - là những
nền kinh tế rơi vào suy thoái nặng nề nhất, nên xuất khẩu sẽ bị thu hẹp, tác động xấu tới tốc độ
tăng trƣởng kinh tế. Điều này sẽ dẫn đến hệ lụy là cầu đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt
Nam sẽ giảm, trong khi cung đối với các mặt hàng nhập khẩu sẽ tăng do các nhà sản xuất bị
giảm thị trƣờng ở các nƣớc phát triển sẽ tìm cách mở rộng các thị trƣờng khác. Nhƣ vậy, khả
năng xuất khẩu bị giảm mạnh là rất cao trong khi nhập khẩu nếu có giảm cũng sẽ giảm ít hơn so
với xuất khẩu. Điều này sẽ làm cho thâm hụt ngoại thƣơng của Việt nam sẽ gia tăng, nhất là
trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đã rất mở với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã vƣợt quá
160% GDP. Cũng có thể một số mặt hàng của Việt Nam thuộc loại hàng khiếm dụng có nghĩa là
khi thu nhập giảm xuống thì cầu sẽ gia tăng. Tuy nhiên, có lẽ loại này không nhiều lắm.
Nền kinh tế nƣớc ta phát triển lệch, thiên về xuất khẩu nên thị trƣờng nội địa bị sao
nhãng. Khi xuất khẩu khó khăn, thị trƣờng nội địa không đóng đƣợc vai trò là “phao” đỡ cho các
doanh nghiệp xuất khẩu. Trong thời gian xuất khẩu gặp khó khăn, các doanh nghiệp lại cùng đẩy
mạnh phát triển thị trƣờng nội địa, trong khi doanh thu nội địa cũng giảm do sức mua của ngƣời
tiêu dùng kém, thu nhập thực tế giảm, thất nghiệp tăng; xu hƣớng tiêu dùng hàng giá rẻ tăng
nhanh và, hàng nƣớc ngoài giá rẻ có điều kiện thuận lợi tràn vào, gây sức ép cạnh tranh lớn đối
Theo Tổng cục thống kê, những dấu hiệu đáng ngại của sự suy giảm kim ngạch xuất khẩu
thể hiện rõ bắt đầu từ tháng 8 năm 2008 đến những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009. Kim
ngạch tháng 10 (5,044 tỷ USD) giảm 3,3% so với tháng 9, tháng 11 (4,3 tỷ USD) giảm 14,8% so
với tháng 10, tháng 12 (4,67 tỷ USD) tăng nhẹ 8.6% so với tháng 11. Kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam trong tháng 1/2009 đã sụt giảm nghiêm trọng theo đà giảm của những tháng cuối năm
2008. Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 1/2009 ƣớc tính chỉ đạt 3,8 tỷ USD – mức thấp nhất
trong vòng một năm kể từ tháng 4/2008 đến tháng 4/2009, giảm 18,6% so với tháng 12/2008 và
giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trƣớc. Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực kinh tế trong
nƣớc đạt 1,7 tỷ USD, giảm 21,9% so với tháng 01/2008; khu vực có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
không kể dầu thô đạt 1,7 tỷ USD, giảm 13,7%. Sau đó, sang tháng 2 kim ngạch xuất khẩu đã có
dấu hiệu gia tăng trở lại (4,3 tỷ USD) tăng 13,15% so với tháng 1.
So với cùng kỳ năm 2008, hầu hết các mặt hàng đều cho thấy có sự giảm sút kim ngạch
trong tháng 1/2009, trong đó hàng dệt, may đạt 550 triệu USD, giảm 33,2%; dầu thô đạt 424 triệu
USD, tƣơng đƣơng 1,4 triệu tấn, tuy tăng 12,4% về lƣợng nhƣng giảm 52,4% về kim ngạch do giá
17
xuất khẩu dầu thô giảm 57,7%; giày dép đạt 350 triệu USD, giảm 26%; thủy sản đạt 250 triệu USD,
giảm 18,6%; cà phê đạt 217 triệu USD, giảm 30,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 200 triệu USD, giảm
31,8%. Bên cạnh những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm, kim ngạch xuất khẩu gạo đạt 130
triệu USD, gấp 2,5 lần tháng 01/2008 (lƣợng gấp 2,3 lần).
(Xem thêm Hình 10 phụ lục 1).
Xét riêng xuất khẩu tháng 11/2008 là tháng có kim ngạch xuất khẩu thấp nhất so với
các tháng còn lại của năm 2008 do ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu:
Kim ngạch xuất khẩu của tháng 11/2008 đã giảm 7% so với cùng kỳ năm trƣớc, chủ yếu
là do sự sụt giảm của giá dầu thô. Giá các hàng xuất khẩu cơ bản khác của Việt Nam cũng sụt
giảm mạnh đã xuất hiện những bằng chứng cho thấy đơn đặt hàng suy giảm nhanh đối với các
sản phẩm chế biến nhƣ may mặc, giày dép và đồ gỗ, đồng thời ngành thủy sản cũng đang phải
chịu sức ép suy giảm. Theo chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh của Liên đoàn Lao động Việt Nam,
khoảng 30.000 lao động của thành phố trong những ngành kể trên đã mất việc. Với kim ngạch
xuất khẩu bằng 70% GDP. (Xem thêm Hình 11 phụ lục 1)
thị trƣờng do đây là những mặt hàng tiêu dùng cần thiết hàng ngày nên lƣợng cầu
giảm nhẹ, không đáng kể.
Nhận xét: Các nhóm ngành xuất khẩu chủ chốt trên ( đặc biệt là các mặt hàng chủ lực xuất
khẩu vào thị trƣờng Mỹ, EU, Nhật Bản nhƣ giầy dép, hàng dệt may, hải sản, dầu thô và các sản
phẩm về gỗ…) đa phần đều là các khu vực kinh tế thâm dụng lao động cao, ít thâm dụng vốn. Vì
thế, khi khủng hoảng kinh tế thế giới tác động đến các ngành hàng này làm chúng sụt giảm mạnh,
nghĩa là cuộc khủng hoảng càng gây ra tác động nặng nề hơn đối với vấn đề dƣ thừa lao động so
với các ngành hàng thâm dụng vốn.
Tác động của việc sụt giảm xuất khẩu đối với nền kinh tế:
Thứ nhất, cầu hàng xuất khẩu trên thị trƣờng thế giới sụt giảm sẽ làm cho các doanh
nghiệp xuất khẩu kinh doanh khó khăn hơn, lợi nhuận của các doanh nghiệp xuất khẩu giảm đi
đáng kể dẫn đến thu hẹp quy mô, sa thải bớt nhân công ảnh hƣởng tới việc làm của ngƣời lao động
trong các khu vực này. Ngƣời lào động mất việc làm, dĩ nhiên hậu quả tất yếu là sẽ cắt giảm chi
tiêu tiêu dùng nhiều hơn, ảnh hƣởng đến sức tiệu thụ hàng hóa trong nƣớc cũng sẽ sụt giảm mạnh.
Thứ hai, nguồn thu chính phủ cũng giảm đi đáng kể từ việc thu thuế của các doanh nghiệp
xuất khẩu này.
Du lịch
Một ngành công nghiệp xuất khẩu mới nổi của Việt Nam là ngành du lịch cũng bị ảnh
hƣởng nghiêm trọng. Du lịch là một trong những nguồn thu ngoại tệ và nguồn tạo việc làm quan
trọng của Việt Nam. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến lƣợng khách du lịch quốc tế đến
Việt Nam cũng giảm sút buộc ngành du lịch phải giảm giá phòng và giá dịch vụ du lịch hàng
loạt. Trong khi đó, các ngân hàng Việt Nam đã cho vay hàng tỷ đồng đầu tƣ vào các dự án xây
dựng khách sạn và phát triển du lịch, nếu những dự án này thất bại, ngân hàng sẽ đối mặt với rất
nhiều khó khăn.
19
Trong tháng 1/2009, khách quốc tế đến nƣớc ta ƣớc tính đạt 370 nghìn lƣợt ngƣời, giảm
11,9% so với cùng kỳ năm trƣớc, trong đó khách đến với mục đích du lịch đạt 231,5 nghìn lƣợt
ngƣời, giảm 10,5%; đến vì công việc đạt 65 nghìn lƣợt ngƣời, giảm 17,6%; thăm thân nhân đạt
lƣợng vốn này thực sự đƣợc giải ngân (giải ngân 11,5 tỷ USD, chiếm khoảng 18% tổng số vốn
20
FDI đăng ký). Không những thế, do tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong các dự án mới đăng ký trong
năm 2008 rất thấp, chỉ khoảng 28% (so với 43% của giai đoạn 1988 – 2007) và hơn 70% còn
lại là vốn vay nên tình trạng khan hiếm tín dụng toàn cầu sẽ khiến nhiều dự án bị chậm
tiến độ, thậm chí không đƣợc thực hiện. Tốc độ thu hút FDI trung bình mỗi tháng trong năm
2008 đã lên trên 5,3 tỷ USD/tháng, cao nhất từ trƣớc tới nay. Thế nhƣng, lƣợng vốn FDI đã sụt
giảm ngay trong tháng đầu tiên của năm 2009. Cụ thể là trong tháng 1/2009, Việt Nam chỉ thu
hút đƣợc chƣa đến 200 triệu USD vốn FDI. Mặc dù con số này đƣợc cải thiện một cách ngoạn
mục trong tháng 2 (đạt 5,2 tỷ USD), nhƣng FDI trong năm 2009 vẫn còn rất nhiều bất ổn. Cả
quý I/2009 tổng vốn FDI cam kết mới chỉ đƣợc 6 tỷ USD và sau 2 quý mới đạt 8,7 tỷ USD cam
kết và 4 tỷ USD giải ngân. (Xem thêm Hình 14, 15, 16 ở phụ lục 1)
Đầu tƣ gián tiếp
Ảnh hƣởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với đầu tƣ gián tiếp thể hiện qua
các hình thức sau:
Thứ nhất, huy động vốn gián tiếp vào thị trƣờng cổ phiếu Việt Nam trong thời gian tới
sẽ rất khó khăn do các nhà đầu tƣ sẽ hƣớng tới các kênh đầu tƣ an toàn. Việc bán tháo chứng
khoán khỏi thị trƣờng Việt Nam là có thể, mặc dù xác suất không cao do tính thanh khoản và
quy mô của thị trƣờng. Điều này sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến thị trƣờng chứng khoán và quá trình
cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nƣớc lớn trong các năm tới. Việc huy động vốn thông qua thị
trƣờng vốn khó khăn trong khi thị trƣờng tín dụng thắt chặt sẽ chặn dòng vốn và đẩy chi phí tài
chính của các doanh nghiệp lên cao.
Thứ hai, thị trƣờng trái phiếu trong nƣớc cũng sẽ suy sụp vì các nhà đầu tƣ không
muốn nắm những khoản đầu tƣ rủi ro. Việc bán tháo của các quỹ đầu cơ cũng đã làm cho trái
phiếu công ty của Châu Á giảm xuống mức kỷ lục trong năm 2008. Chỉ trong vòng vài tháng,
chi phí vay nợ nƣớc ngoài đã tăng đáng kể do chủ nợ đòi hỏi mức chi phí rủi ro cao hơn. Việc
phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trƣờng quốc tế cũng sẽ khó khăn và chi phí tăng
cao. Chính phủ Việt Nam hiện có kế hoạch phát hành 1 tỷ USD và Vinashin có kế hoạch huy
động 400 triệu USD trên thị trƣờng quốc tế vào 2009. Đây sẽ là một thử thách đáng kể.
Khủng hoảng kinh tế xảy ra, dĩ nhiên có tác động ảnh hƣởng trực tiếp đến tất cả các loại
hình doanh nghiệp – đơn vị kinh tế cơ bản của Việt Nam, bao gồm doanh nghiệp sản xuất trong
nƣớc, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nƣớc ngoài… Đối với doanh nghiệp, đây cũng là
một dịp sàng lọc để loại bỏ các doanh nghiệp yếu kém, qua đó làm tăng sức cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Theo số liệu thống kê của Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2008) dự kiến cả năm
2009 về tình trạng doanh nghiệp đứng trƣớc cuộc khủng hoảng thì có thể chia thành 3 nhóm
chính: khoảng 20% đình hoãn sản xuất kinh doanh đang hết sức khó khăn bị phá sản hoặc đứng
trƣớc nguy cơ bị phá sản, 60% gặp khó khăn và 20% ít bị tác động.
1.3.2.6 Lao động
Rõ ràng là từ những tháng cuối năm 2008 và đầu năm 2009, Việt Nam đã chịu phải
những tác động của cuộc suy thoái kinh tế thế giới, mà cụ thể là trong nƣớc sản xuất đình đốn,
22
đầu tƣ tăng thấp, tiêu dùng có dấu hiệu chậm lại, dẫn đến sự dƣ thừa đáng kể năng lực sản
xuất, trong đó đặc biệt nghiêm trọng là dƣ thừa lao động. Hiện nay tình trạng mất việc làm ở
Việt Nam đang gia tăng nhanh, do lĩnh vực xuất khẩu sử dụng nhiều lao động nhƣ dệt may,
giày da, thủy sản, mỹ nghệ và tiểu thủ công nghiệp (khoảng 5 triệu lao động làng nghề đã mất
việc – theo cafef) bị cắt giảm mạnh đơn hàng. Đó là những dấu hiệu cho thấy tình trạng thiếu
việc làm đang tiến dần đến ngƣỡng nhạy cảm có thể đẩy sự suy giảm kinh tế vào vòng xoáy
luẩn quẩn.
Nếu nền kinh tế thu hút thêm lao động, tức là có thêm việc làm, thì chính những ngƣời
lao động bổ sung này sẽ tạo ra lƣợng GDP bổ sung. Trong trƣờng hợp ngƣợc lại, nếu thất nghiệp
gia tăng, số ngƣời lao động giảm đi, thì GDP sẽ bị giảm theo. Chuỗi liên hệ nhân quả: tăng
(giảm) đầu tƣ tăng (giảm) việc làm tăng (giảm) GDP. Theo số liệu từ TCTK, Viện Khoa
học Lao động và Xã hội (2008) và theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), nếu GDP tăng 1% thì sẽ
có 0,33-0,34% lao động có việc làm. GDP năm 2009 dự kiến giảm 1.5% so với GDP 2008
khoảng 400 - 500 nghìn lao động mất việc làm. Do vậy, nếu không tạo ra đƣợc việc làm mới, tỷ
lệ thất nghiệp có thể tăng đến 7% tƣơng ứng với hơn 3 triệu ngƣời thất nghiệp. (Xem thêm Hình
việc giảm lãi suất là đồng tiền Việt Nam sẽ trở nên rẻ hơn (với điều kiện Ngân hàng Nhà nƣớc
cho phép đồng tiền đƣợc biến động nhiều hơn), có thể sẽ hỗ trợ đƣợc xuất khẩu và hạn chế đƣợc
nhập khẩu. Chính sách tài khóa (cụ thể là các gói kích cầu) sẽ làm tăng tổng cầu thông qua việc
(i) làm tăng tiêu dùng (C) qua các biện pháp nhƣ giảm thuế hoặc trợ cấp cho dân chúng; và (ii)
tăng chi tiêu của chính phủ.
Thông thƣờng khi nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống, thì công cụ kích thích kinh tế mà các
chính phủ thƣờng sử dụng trƣớc tiên chính là chính sách tiền tệ, và sau đó mới là chính sách tài
khóa - thông qua các gói kích cầu. Điều này là do trên thực tế các gói kích cầu thƣờng không
đƣợc thực hiện đúng lúc, mất thời gian, và nhiều khi không đƣợc thiết kế tốt, kích cầu không
đúng chỗ, nhiều khi bị lạm dụng kéo dài. Ngƣợc lại, chính sách tiền tệ lại có thể đƣợc thực hiện
nhanh và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, khi nền kinh tế có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng thì các
gói kích cầu lại rất cần thiết khi mà chính sách tiền tệ không tạo ra đủ liều kích thích với nền
kinh tế (Chad Stone and Kris Cox - 2008).
Trong hoành cảnh Việt Nam tại thời điểm này, vai trò của chính sách tiền tệ (giảm lãi
suất) dƣờng nhƣ ít đƣợc đề cập tới, có lẽ vì nhiều nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm của nền
kinh tế nƣớc ta (vấn đề này sẽ đƣợc chúng tôi đề cập đến rõ hơn trong phần tiếp theo của bài
nghiên cứu này). Vì vậy, hiển nhiên là chính sách tài khóa sẽ đƣợc ƣu tiên hơn, và đó chính là
mấu chốt, là biện pháp duy nhất để vực dậy nền kinh tế.
Phần tiếp theo sẽ trình bày cụ thể về việc vận dụng chính sách tài khóa hay biện pháp
kích cầu của Chính Phủ.
24
CHƢƠNG 2: CÁC PHẢN ỨNG CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ
ĐỐI PHÓ VỚI KHỦNG HOẢNG
2.1 Xu hướng các phản ứng chính sách chính phủ các nước thế giới đối
phó với khủng hoảng – một bước tiến mới từ bài học Đại suy thoái
Hai điểm nổi bật trong so sánh lãi suất của các ngân hàng trung ƣơng đƣợc thể hiện ở
Hình 22 (phụ lục 1). Trƣớc tiên, việc cắt giảm lãi suất cực kỳ mạnh mẽ của Ngân hàng Anh và
Fed bắt đầu vào cuối năm 2008, cùng với sự điều chỉnh ban đầu kém tích cực bởi ECB. Thứ hai,
18
Lãi suất chiết khấu đƣợc lấy từ Bernanke và Mihov (2000) cho các giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh và những trang web
liên quan đến ngân hàng trung ƣơng hiện nay (xem Phụ lục 1). Các dữ liệu GDP đƣợc tính trung bình lấy từ Maddison (2009),
tham khảo từ năm 1929 đến năm 2006 (năm mới nhất mà ông cung cấp dữ liệu).
19
Và từ một mức độ ban đầu thấp hơn.
20
Argentina, Úc, Bỉ, Brazil, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ,
Anh và Mỹ. The 1925 và 2004 dữ liệu GDP đƣợc sử dụng để đo lƣờng chuỗi cung tiền của từng nƣớc đƣợc lấy từ Maddison
(2009). Đối với thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh, các nguồn lấy từ các phụ lục dữ liệu: các dữ liệu M1 cho tất cả các quốc gia
trừ Đan Mạch, Phần Lan và Thụy Điển, vì chú những nƣớc này chỉ có M2. Các dữ liệu mới về M1, đƣợc lấy từ Thống kê tài
chính quốc tế của IMF và các chỉ số kinh tế hang tháng của OECD. Các dữ liệu đƣợc thể hiện dƣới dạng chỉ mục, lấy 1925 =
100 và 2004 = 100.
21
Các dữ liệu hiện hành đƣợc lấy từ Kinh tế thế giới Outlook Cập nhật của IMF tháng 10 năm 2009, bao gồm dự báo cho năm
2009 đến năm 2014 từ
Nhƣ trƣớc đó, các dữ liệu giữa hai cuộc chiến tranh là GDP-
trọng số của dữ liệu từng quốc gia riêng biệt, với các nguồn dữ liệu đƣợc liệt kê trong phụ lục. Chúng ta có dữ liệu cho 21 quốc
gia: cùng 17 nhƣ trƣớc, cộng với Bulgaria, Hungary, Ấn Độ và Hà Lan. Các dữ liệu giữa hai cuộc chiến tranh đều có thể bao
gồm cả ngân sách thƣờng và bất thƣờng và các tài khoản đã đóng . Tuy nhiên, Hội Quốc Liên (1934, Chƣơng VII) khuyến cáo
rằng trong khi dữ liệu đó đã cố gắng nắm bắt các tài khoản đặc biệt (chẳng hạn nhƣ những tài khoản của ngành đƣờng sắt, bƣu