ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
BÀI TIỂU LUẬN
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
Giáo viên bộ môn: TS. Nguyễn Hồng Quân
Học viên: Nguyễn Trần Thu Hiền (1280100039)
Nguyễn Thị Tú Quyên (1280100068)
Tp. Hồ Chí Minh, năm 2013
Tiêu chuẩn xả thải cho các nước đang phát triển: kết hợp các phương pháp dựa trên công
nghệ và chất lượng nước
A.M.J. Ragas
1
, P.A.G.M. Scheren
2
, H.I. Konterman
2
, R.S.E.W. Leuven
1
, P. Vugteveen
1
, H.
Lubberding
3
, G. Niebeek
4
và PBM Stortelder
4
1
Khoa Nghiên cứu Môi trường, Đại học Nijmegen, PO Box 9010, 6500 GL Nijmegen,
2
Krueger năm 1992; Rothman và De Bruyn, 1998).
Đối với nhiều nước đang phát triển, việc giải quyết sự gia tăng ô nhiễm vẫn chưa thực hiện được và
sẽ cần rất nhiều thời gian để có đủ khả năng kiểm soát hiệu quả ô nhiễm. Để ngăn chặn kịch bản như
vậy, các giải pháp mới và sáng tạo rất cần thiết để giảm mức độ ô nhiễm và bảo vệ chất lượng nước
ở các nước đang phát triển.
Một công cụ khả thi để kiểm soát ô nhiễm nước là thông qua việc xác định, áp dụng và thực thi các
tiêu chuẩn nước thải đối với việc xả thải (Konterman et al., 2003). Hiện nay, tại hầu hết các nước
đang phát triển đều áp dụng một bộ các tiêu chuẩn xả thải. Tại nhiều quốc gia, các tiêu chuẩn này
được sao chép từ các nước phát triển. Trong điều kiện kinh tế không thuận lợi hiện đang phổ biến ở
hầu hết các nước đang phát triển, các chi phí liên quan đến việc áp dụng tiêu chuẩn nước thải nghiêm
ngặt như vậy thường vượt quá khả năng chi trả của người gây ô nhiễm. Mặt khác, tiêu chuẩn nước
thải lỏng lẽo không đảm bảo tính an toàn cho các mục đích sử dụng nguồn nước. Ngoài ra, công cụ
thể chế để thực hiện và kiểm soát tiêu chuẩn xả thải thường không đầy đủ, dẫn đến kết quả là các
tiêu chuẩn xả thải không có hiệu lực. Do đó, việc áp dụng một công cụ thích hợp cho các công tác
bảo vệ chất lượng nước, phù hợp với kinh tế và công cụ thể chế có sẵn rất quan trọng.
Chương trình liên kết giữa Bộ Giao thông vận tải Hà Lan, Công ty Công trình công cộng và quản lý
nước đã đề xuất một nghiên cứu nhằm phát triển một chiến lược hiệu quả để thiết lập tiêu chuẩn xả
thải có khả năng hạn chế tối đa rủi ro môi trường, với chi phí phù hợp (Konterman et al., 2003).
Theo tài liệu công bố các kết quả của nghiên cứu này, các công cụ nhấn mạnh việc thiết lập tiêu
chuẩn xả thải được kế thừa từ các phân tích về mặt kỹ thuật, kinh tế và thể chế có liên quan. Các
phân tích được minh họa bằng một bản tóm tắt các công tác quản lý nước hiện tại trong Liên minh
châu Âu, Mỹ, Cộng đồng quốc gia mới độc lập (NIS) và Philippines. Sự phù hợp của các công tác
này đối với các nước đang phát triển được đánh giá theo bốn tiêu chí: bảo vệ môi trường, tính khả thi
công nghệ, tính khả thi về kinh tế và công cụ thể chế. Cuối cùng, tiêu chí để đưa ra tiêu chuẩn xả thải
được trình bày đã phù hợp với các phương tiện và nhu cầu của các nước đang phát triển như sau.
2. Các công cụ kiểm soát ô nhiễm
Có hai hướng cơ bản khác nhau để kiểm soát ô nhiễm môi trường, đó là nguyên tắc phòng ngừa ô
nhiễm và nguyên tắc theo khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận (Ragas, 2000). Nguyên tắc
phòng ngừa giả định rằng tất cả các áp lực môi trường đều có hại và cần được ngăn chặn bất cứ khi
nào có thể. Nguyên tắc theo khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận giả định rằng môi trường có
Giá trị giới hạn xả thải trong công cụ kỹ thuật (comm. Scheren, Niebeek)
Hầu hết các quy định về xả thải trong công cụ kỹ thuật được phân theo các loại nguồn xả khác nhau.
Đối với từng loại nguồn xả sẽ áp dụng một bộ tiêu chuẩn ngành hoặc quy định xả thải riêng. Các tiêu
chuẩn này thường được thể hiện dưới dạng các giá trị giới hạn phát thải (ELVs). Điều này cho thấy
việc nắm rõ về quy trình sản xuất và kỹ thuật xử lý nước thải là yêu cầu bắt buộc để tính toán tiêu
chuẩn xả thải trong công cụ kỹ thuật.
ELVs thường được thể hiện như tiêu chuẩn pháp luật quy định tối thiểu cho phép xả thải hoặc có thể
là nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sau quá trình xử lý, hoặc có thể là tải lượng ô nhiễm môi
trường trong một đơn vị thời gian hay quy trình sản xuất. Ngoài ra, nó có thể được thể hiện như một
đặc điểm kỹ thuật của công nghệ xử lý nước thải được áp dụng. Mặc dù thuật ngữ công nghệ hiện có
tốt nhất hàm ý tiêu chuẩn nước thải xây dựng dựa trên những công nghệ khả thi nhưng việc cân nhắc
kinh tế cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc quy định tiêu chuẩn BAT. Thuật ngữ phương
tiện thực tiễn tốt nhất (BPM) hoặc công nghệ hiện có tốt nhất không bao gồm chi phí cao
(BATNEEC) nhấn mạnh sự tham gia của những cân nhắc kinh tế. Hơn nữa, tiêu chuẩn xả thải trong
công cụ kỹ thuật có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất định. Theo thời gian sẽ hình thành
công nghệ xử lý mới và tốt hơn. Điều này thể hiện rằng các tiêu chuẩn xả thải trong công cụ kỹ thuật
cần được cập nhật một cách thường xuyên.
Tiêu chuẩn xả thải dựa trên công cụ kỹ thuật có thể khác nhau đáng kể giữa các cơ quan quản lý. Để
minh họa điều này, Hình 2a cho thấy kết quả của một nghiên cứu so sánh tải lượng chất ô nhiễm tối
đa cho phép đối với một nhà máy chế biến 1.000 tấn Cadmium mỗi năm để sản xuất chất nhuộm
cadmium sunfua, áp dụng các quy định dựa trên công nghệ của Vương quốc Anh, Mỹ, Đức và EU.
Những khác biệt này có thể được giải thích bằng giá trị khác nhau của những cân nhắc kinh tế và số
năm ban hành (ragas và Leuven, 1999).
Tiêu chuẩn chất lượng môi trường
Mục đích của việc thiết lập EQSs là để bảo vệ hoặc đảm bảo chất lượng nước theo các mục đích sử
dụng khác nhau (nước sinh hoạt, nước uống và thủy sản). Ví dụ, chất lượng nước tối thiểu được xác
định cho tất cả các dòng sông được áp dụng để bảo vệ các chức năng cụ thể. EQS chỉ ra mức chất
lượng tối thiểu được duy trì để ngăn chặn các tác động xấu không thể chấp nhận trên hệ thống. Đó là
một đặc điểm kỹ thuật có định lượng mang tính trừu tượng như "phát triển bền vững" hay "bảo vệ
sức khỏe con người và hệ sinh thái". EQS có thể có các hình thức khác nhau, ví dụ mức độ tập trung,
Bước 2: Xác định tiêu chuẩn nước thải thông qua đánh giá xả thải
Mục đích chính của quy trình đánh giá xả thải là đảm bảo nước thải không ảnh hưởng đến chất
lượng của nguồn nước tiếp nhận. Dự báo chất lượng nước trong tương lai dựa trên mức ô nhiễm môi
trường hiện tại và các biện pháp kiểm soát tương lai, so sánh với tiêu chuẩn chất lượng môi trường
(EQSs) và nếu cần thiết, thiết lập giới hạn phát thải bổ sung (ELVs). Hình 3 là sơ đồ trình bày quy
trình đánh giá xả thải. Các thành phần cơ bản là (1) EQSs, (2) một mô hình chất lượng nước, và (3)
dữ liệu đầu vào. Cốt lõi của quy trình đánh giá xả thải là mô hình chất lượng nước. Mô hình này có
thể là một tập hợp các phép toán đơn giản và mô hình máy tính phức tạp (ragas et al., 1997). Nó sử
dụng các dữ liệu từ nguồn nước tiếp nhận, xả thải dự kiến và các dự đoán chất lượng nước khác
5
(trong tương lai). Chất lượng nước được dự đoán (PWQ) sẽ so sánh với EQSs có sẵn. Nếu nó vượt
quá, chất lượng nước trong tương lai được coi là không thể tiếp nhận và giới hạn phát thải bổ sung
cần được áp dụng đối với việc xả thải. Các tính toán của mô hình chất lượng nước được đảo ngược
để lập ra chuẩn nước thải tương thích với các EQSs.
Sự phát triển và thực hiện một quy trình đánh giá xả thải bao gồm một loạt các quy phạm và cân
nhắc thực tế có quan hệ với nhau chặt chẽ:
• Làm thế nào giải quyết với nhiều nguồn xả thải?
• Làm thế nào giải quyết với khu vực đang xáo trộn?
• Làm thế nào giải quyết với sự biến thiên thời gian trong hệ thống xả thải?
• Làm thế nào giải quyết với sự trao đổi chất giữa các đơn nguyên?
• Làm thế nào giải quyết với các độc tính hỗn hợp?
• Làm thế nào giải quyết với sự mất ổn định?
Những vấn đề căn bản này không nhất thiết áp dụng cho tất cả các loại xả thải trong cùng khu vực.
Đối với các chất ô nhiễm thông thường như BOD, Nitơ và Phốt Pho, vấn đề căn bản là phân bổ tải
lượng chất thải trong nhiều nguồn thải, dung sai của một vùng xáo trộn và giải quyết các biến thiên
thời gian trong hệ thống xả thải. Các chất ô nhiễm độc hại như kim loại và các chất ô nhiễm hữu cơ
bền (POP), sự trao đổi chất giữa các đơn nguyên, độc tính hỗn hợp và tác động độc hại cấp tính
trong khu vực xáo trộn cũng rất quan trọng.
Hình 2b cho thấy các tác động có thể có về tiêu chuẩn nước thải dựa trên các EQO. Tải lượng
cadmium tối đa cho phép được tính cho các nhà máy sản xuất thuốc nhuộm, có áp dụng mô hình
300.0
400.0
500.0
600.0
700.0
800.0
Germany UK European
Union
USA
kg Cd / year
6
Hình 2. So sánh tải trọng cadmium cho phép ở các nước khác nhau dựa trên: (a) các tiêu chuẩn dựa
trên công nghệ, và (b) Tiêu chuẩn dựa trên EQO.
Hình 3. Trình bày sơ đồ quy trình đánh giá xả thải
(PWQ = chất lượng nước được dự báo, EQS = Tiêu chuẩn chất lượng môi trường, ELV = Giá trị giới
hạn phát thải)
4. Tính khả thi về kinh tế
Về mặt kinh tế, cả hai phương pháp xác định tiêu chuẩn nước thải đều có ưu điểm và nhược điểm.
Trước hết, chi phí đầu tư và chi phí vận hành để thực hiện và điều hành của phương pháp EQO đòi
hỏi cao hơn so với phương pháp tiếp cận dựa trên công nghệ. Cụ thể, EQSs đòi hỏi một phương pháp
phức tạp hơn, đòi hỏi nhiều dữ liệu, mô hình hóa và các hoạt động giám sát hơn phương pháp có
công nghệ đơn giản. Mặt khác, các tiêu chuẩn dựa trên phương pháp EQO được liên kết trực tiếp để
xác định một số giá trị sử dụng nước (cung cấp sinh hoạt, thủy sản, đa dạng sinh học, ). Trong đó
mục tiêu là để đảm bảo "tăng lợi nhuận" (không nhất thiết thực hiện mục tiêu chất lượng nước và giá
trị sử dụng kèm theo và lợi ích kinh tế có liên quan). Khi áp dụng các tiêu chuẩn dựa trên công nghệ,
trong trường hợp quá khắt khe (phát sinh chi phí cao) để thực hiện các giá trị sử dụng nước mong
muốn, hoặc quá lỏng lẻo sẽ dẫn đến tình huống nhất định là giá trị kinh tế của nước không được thực
hiện.
Theo nhận xét này, cần đánh giá trên cơ sở từng trường hợp để đưa ra phương pháp tiếp cận dựa trên
EQO hoặc cách tiếp cận dựa trên công nghệ, hoặc có thể kết hợp cả hai để tạo hiệu quả kinh tế từ
luật cung cấp khuôn khổ nhưng các phương tiện quy định xác định hiệu quả đối với ngành công
nghiệp (D'Arcy và Frost, 2001). Ưu đãi thị trường và hoạt động tự nguyện của tư nhân xác định một
số tùy chọn điều chỉnh phổ biến. Lệnh và các quy định kiểm soát đề cập trực tiếp đến tiêu chuẩn, bao
gồm các giới hạn định lượng về mức độ ô nhiễm và đặc điểm kỹ thuật công nghệ. Ưu đãi thị trường
liên quan đến công cụ kinh tế như thuế, lệ phí, các khoản trợ cấp và giấy phép thị trường.
Ở các nước đang phát triển, quy định quản lý mới thường không thể thực thi các tiêu chuẩn xả thải
thông thường ở cấp nhà máy. Nhiều nhà quản lý nhận ra rằng các tiêu chuẩn như vậy là không hiệu
quả bởi vì nó đòi hỏi tất cả các nhà máy gây ô nhiễm phải cùng điểm xuất phát, bất kể chi phí xử lý
và điều kiện môi trường địa phương (Ngân hàng Thế giới, 1999). Tuy nhiên, chiến lược thị trường
không chỉ định việc sử dụng bất kỳ công nghệ kiểm soát ô nhiễm đặc biệt nào mà thay vào đó chúng
cung cấp cho người gây ô nhiễm sự linh hoạt và thúc đẩy tìm ra phương tiện hiệu quả nhất để đạt
được mục tiêu kiểm soát ô nhiễm (O'Shea, 2002). Do đó công cụ kinh tế sẽ là công cụ hứa hẹn để
kiểm soát ô nhiễm cho các nước đang phát triển. Một ví dụ về ưu đãi tài chính là tính phí cho mỗi
đơn vị gây ô nhiễm khí thải. Ứng dụng nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền" đã được công
nhận và đạt thành công. Theo kết quả từ các chương trình ở Colombia, Trung Quốc và Philippines
cho thấy, nhiều nhà quản lý lựa chọn sự kiểm soát ô nhiễm khi họ phải đối mặt sự tuộc dốc, thanh
toán quá nhiều cho việc phát thải khí. Hơn nữa, phí ô nhiễm không chỉ cắt giảm khí thải mà còn tạo
ra doanh thu đáng kể cho cộng đồng - do đó có thể hỗ trợ cho địa phương trong việc kiểm soát ô
nhiễm (Ngân hàng Thế giới, 1999).
Thay đổi hành vi gây ô nhiễm có liên quan đến sự thay đổi văn hóa, trong đó giáo dục và nâng cao
nhận thức là điều kiện tiên quyết quan trọng. Ở các nước đang phát triển, giáo dục cộng đồng về
nguồn gốc và tác động của ô nhiễm môi trường có thể đẩy mạnh việc cải thiện cuộc sống của người
nghèo. Người dân có thể phải chịu rất nhiều hậu quả từ khí thải gây ô nhiễm ngay cả khi ngành công
nghiệp giảm cường độ phát triển, nhưng trang bị thông tin tốt, họ có thể làm việc với các cơ quan
môi trường và bầu các lãnh đạo chính trị có khả năng gây áp lực cho các nhà máy để hạn chế khí
thải.
8
Cung cấp thông tin và nâng cao nhận thức là việc sử dụng hệ thống đánh giá đơn giản để cộng đồng
nhận ra các nhà máy có tuân thủ các tiêu chuẩn ô nhiễm quốc gia hay không. Bằng cách phân loại
các nhà máy dựa trên lượng khí phát thải và phát sóng rộng rãi các kết quả này có thể để xác định
lý và chi phí ước tính trung bình. (DCIW, 2000). Tài liệu hướng dẫn và hỗ trợ người sử dụng vẫn
còn đang trong quá trình hoàn thiện. Tại Đức, công cụ kỹ thuật (BAT) được áp dụng rộng rãi trong
9
khi việc xây dựng các công cụ EQO vẫn còn hạn chế. Việc này làm các chi phí liên quan thấp và nhu
cầu thông tin thấp, nhưng cũng hạn chế công tác bảo vệ môi trường.
Ở Mỹ, phương pháp kết hợp được quy định trong Đạo luật nước sạch. Các tiêu chuẩn xả thải hình
thành từ công cụ kỹ thuật là các nhu cầu tối thiểu theo khảo sát và các giới hạn kèm theo có thể được
đưa ra trong quá trình đánh giá phát thải có liên quan đến việc áp dụng các EQS, mô hình chất lượng
nước (vùng hỗn hợp) và các đặc tính của hệ thống. Các tiêu chuẩn xả thải theo kỹ thuật được đặt ra
trong hệ thống quy định (Quy định liên bang). Công cụ EQO được trình bày tốt và dễ hiểu (US-EPA,
1991). Các nhu cầu thông tin của các quy trình nói chung tuân thủ chặt chẽ theo quy định của Mỹ
cũng như các chi phí ước tính. Công cụ này rất tốt đối với việc bảo vệ môi trường.
7. Kinh nghiệm tại các nước đang phát triển
Tại hầu hết các nước đang phát triển, công cụ kỹ thuật được áp dụng, nhưng càng ngày càng có
nhiều trường hợp các công cụ theo EQO (Mục tiêu chất lượng xả thải). Trong đề tài này, một số kinh
nghiệm đặc biệt với công cụ theo EQO đã được nghiên cứu. Ở các nước NIS (Khung 1) công cụ
quản lý ô nhiễm theo EQO được áp dụng nhưng không mang lại nhiều hiệu quả. Hơn nữa, một
trường hợp nghiên cứu ở Philippines (Khung 2) cho thấy rằng các hệ thống chính của biện pháp theo
EQO được áp dụng cho khu vực Laguna de Bay.
Có thể kết luận từ các trường hợp nghiên cứu rằng phương pháp EQO được áp dụng mang lại thành
công khác nhau ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu cho thấy các nước thuộc khối NIS gặp khó
khăn trong việc thiết lập EQSs (Tiêu chuẩn xả thải) thực tế do sự thiếu công cụ thể chế và nguồn lực
tài chính để duy trì hệ thống (quá nhiều EQSs và quá nghiêm ngặt) và trong việc thực thi các tiêu
chuẩn nước thải lập ra. Ngoài ra, hệ thống dường như quá phức tạp và tiêu chuẩn nước thải quá
nghiêm ngặt để có thể thực thi theo các điều kiện kinh tế hiện hành. Tại Philippines, các yếu tố đã
được đề xuất nhưng công tác giám sát còn hạn chế.
10
Trường hợp 1: các nước khối NIS
Cộng đồng Quốc gia mới độc lập (NIS) là những quốc gia Liên Xô cũ ở Đông Âu, vùng Caucasus và
Trung Á đã độc lập tách ra, ví dụ như, Ukraine, Kazakhstan và Kyrgyzstan. Chất lượng nước và các quy
Kẽm, mg/l Zn 0.01 0.01 0.001 0.3
11
Trường hợp 2: Khu vực Laguna de Bay, Philippines
Laguna de Bay là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất của Đông Nam Á. Nó nằm trên đảo Luzon của
Philippin, tạo thành đường biên giới phía Đông của thủ đô Manila. Chính quyền tại Laguna (LLDA) đang
giám sát việc tuân thủ bảo vệ môi trường của các công ty tại Laguna de Bay. Bất kỳ công ty hoặc người
nào xả chất thải lỏng vào khu vực Laguna de Bay cần phải đảm bảo có giấy phép của LLDA. Tiêu chuẩn
nước thải được dựa trên một chương trình quốc gia về phân loại chất lượng nước (DENR AO 34, năm
1990), trong đó phân loại thành năm loại nước ngọt (các cấp AA, A, B, C và D) và bốn loại nước biển (các
cấp SA, SB, SC và SD). Một tập hợp các tiêu chuẩn nước thải được xây dựng cho mỗi loại chất lượng
nước. Những tiêu chuẩn này giới hạn nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải tối đa đối với 12 thông số
thông thường và 8 chất độc hại. Bên cạnh việc hạn chế nước thải, các công ty được yêu cầu trả một khoản
phí hàng năm cho mỗi đơn vị ô nhiễm mà họ đã xả thải. Nó bao gồm một khoản phí cố định phụ thuộc vào
tỷ lệ thể tích xả ($ 191 - $ 573) và một khoản phí biến thiên dựa trên tải lượng ô nhiễm của nước thải. Vi
phạm các tiêu chuẩn nước thải sẽ bị phạt bởi Cơ quan CDO. Quy định được thi hành bởi LLDA thông qua
chương trình giám sát chất lượng nước thải. Có khoảng 120-150 công ty trong chương trình, LLDA đã
giao cho 35 nhân viên để giám sát mỗi cơ sở với tần suất bốn lần một năm. Khi thu phí xả thải, LLDA sẽ
thuê thêm nhân viên và đưa thêm nhiều công ty vào hệ thống. Hơn nữa, chất lượng nước của Laguna được
giám sát bởi LLDA một cách thường xuyên. Hiện tại có 13 trạm giám sát bao gồm nhiều địa điểm, thời
gian và các thông số khác nhau (lý hóa, vi khuẩn và sinh học). Các bên liên quan được thông báo kết quả
giám sát hàng tháng. LLDA tài trợ cho chương trình thông qua lệ phí xả thải nhằm để giảm thiểu ô nhiễm
8. Kết luận: Biện pháp kết hợp cho các nước đang phát triển
Dựa trên các nghiên cứu lý thuyết về các khía cạnh kỹ thuật, pháp lý và thể chế cũng như những
kinh nghiệm rút ra từ các trường hợp nghiên cứu, nội dung tóm tắt về các cơ hội và hạn chế của cả
hai phương pháp và việc kết hợp cả 2 phương pháp được nêu trong bảng 2. Các tiêu chí được sử
dụng trong quá trình so sánh các câu trả lời khác nhau là: (i) công tác bảo vệ môi trường, (ii) tính khả
thi về mặt kỹ thuật, (iii) tính khả thi kinh tế, và (iv) yêu cầu công cụ thể chế.
Cơ hội chính của phương pháp tiếp cận theo EQO là mối liên kết trực tiếp với các yêu cầu về môi
trường và sự nhạy cảm, đảm bảo rằng các biện pháp kiểm soát ô nhiễm không chặt chẽ hơn mức cần
thiết. Hơn nữa, gánh nặng tài chính của các biện pháp có thể được giảm thiểu và sẽ linh hoạt khi tính
lưu vực có giá trị sử dụng kinh tế cao hoặc có ảnh hưởng xấu sức khỏe cộng động. Việc này làm
giảm nhu cầu của công cụ thể chế mà vẫn đảm bảo vệ sinh môi trường.
Theo thời gian, với sự phát triển năng lực của các công cụ thể chế, kỹ thuật, tài chính, tiêu chuẩn
BATNEEC có thể phát triển thành BAT và công cụ EQO có thế được thực hiện trong cả nước. Công
cụ được đề xuất sẽ làm giảm mức độ phức tạp của về kỹ thuật và thể chế trong công tác quản lý chất
lượng nước mà vẫn đảm bảo bền vững môi trường.
13
Bảng 2. Thuận lợi và hạn chế của các công cụ quản lý quy định chất lượng nước, công cụ quản lý
kỹ thuật và công cụ quản lý phối hơp
Thuận lợi Hạn chế
Công cụ quản lý quy
định chất lượng nước
Liên kết trực tiếp đến mục tiêu môi
trường
Biện pháp thực hiện không nghiêm
ngặt hơn so với nhu cầu, giảm thiểu
gánh nặng tài chính và yêu cầu kỹ
thuật cho người gây ô nhiễm
Có thể hoàn thiện khả năng chấp nhận
Sự phức tạp về mặt kỹ thuật và
thể chế, do đó tốn kém trong công
tác quản lý
Tình trạng bất bình đẳng giữa
những người gây ô nhiễm
Công cụ kỹ thuật
Ngăn ngừa phát sinh các ô nhiễm có
thể tránh được
Các yêu cầu về năng lực kỹ thuật và
thể chế giảm, do đó công tác quản lý
dể hơn và rẻ hơn
Ragas, A.M.J. (2000). Uncertainty in environmental quality standards. Ph D thesis, University of
Nijmegen, Nijmegen.
Ragas, A.M.J. and Leuven, R.S.E.W (1999). Modelling of water quality-based emission limits for
industrial discharges in rivers. Water, Science & Technology 39 (4): 185-192.
14
Ragas, A.M.J., Haans, J.L.M. and Leuven, R.S.E.W. (1997). Selecting water quality models for
discharge permitting. European Water Pollution Control 7 (5): 59-67
Rothman D.S. and De Bruyn, S.M. (1998). Probing into the environmental Kuznets curve
hypothesis. Ecological Economics 25, 143–145.
Scheren, P.A., Kroeze, C., Janssen, F.J., Hordijk, L., Ptasinski, K.J. (2004). Integrated Water
Pollution Assessment of the Ebrié Lagoon, Ivory Coast, West Africa, Journal of Marine Systems, 44,
1-17.
Scheren, P.A., Ibe, A.C. (1999). Environmental Pollution in the Gulf of Guinea – A Regional
Approach, In The Gulf of Guinea Large Marine Ecosystem (McGlade, J., Sherman, K., Korangteng,
K. and Curry, P. Eds.) Elsevier Publishers.
Scheren, P.A., Zanting, H.A., Lemmens, A.M. (1998). Estimation of Water Pollution in Lake
Victoria: Application and Elaboration of the Rapid Assessment Methodology, Journal of
Environmental Management, 58, 235-248.
Smeets, E. and Weterings, R. (1999). Environmental indicators: Typology and overview. European
Environment Agency, Copenhagen, p. 4-11.
Stortelder, P. B. M. and Van de Guchte, C., 1995. Hazard assessment and monitoring of discharges
to water: Concepts and trends. European Water Pollution Control 5 (4), 41-47.
United Nations (1992). Agenda 21. Adopted during the Conference on Environment and
Development on 14 June 1992. />United Nations (2002). Report of the World Summit on Sustainable Development, Johannesburg,
South Africa, 26 August-4 September 2002. United Nations publication A/CONF.199/20*, New
York.
US-EPA (1991). Technical support document for water quality-based toxics control. United States
Environmental Protection Agency, Office of Water, Report EPA/505/2-90-001, Washington DC.
15
Whitehouse, P. (2001). Measures for Protecting Water Quality: Current Approaches and Future