Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với tiến bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 12

12 Tạp chí Y tế Công cộng, 1.2010, Số 14 (14)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
Bại não là một tình trạng khiếm khuyết mãn tính với hậu quả nặng nề ảnh hưởng tới đời sống của
trẻ bại não. Việc PHCN cho trẻ bại não đòi hỏi sự kiên trì của cha mẹ và gia đình. Nghiên cứu được
thực hiện nhằm đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ trẻ bại não đối với tiến bộ về vận động thô trên
trẻ bại não tại Uông Bí. Phương pháp nghiên cứu là phương pháp can thiệp với cỡ mẫu là 43 trẻ
bại não được phát hiện và chẩn đoán bởi các bác sỹ PHCN chuyên ngành trong tổng số trên 500
trẻ khuyết tật huyện Uông Bí. Kết quả cho thấy 65,1% trẻ bại não có tiến bộ trong đó 41,9% trẻ có
điểm vận động thô tăng từ 1-10%. Trong những trẻ có tiến bộ, điểm vận động ở các mốc phát triển:
nằm lẫy, ngồi, bò, quỳ, đứng, đi và chạy đều tăng lên sau can thiệp, cao nhất là mốc đi và chạy.
Đồng thời tỷ lệ trẻ có tiến bộ đạt cao nhất ở những trẻ đạt điểm vận động thô trên 80% trong đánh
giá ban đầu.
Từ khóa: Bại não, vận động thô, GMFM, tập huấn cha mẹ, phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Result of parental training on the gross motor
improvement of 43 CP children
in Uong Bi district, Quang Ninh province
Nguyen Thi Minh Thuy (*), Nguyen Hien Nghia (**)
Cerebral Palsy (CP) is a chronic impairment that causes a heavy consequence affecting the life of
cerebral palsied children. Rehabilitation for CP children requires parents' patience. The study aims
at assessing the result of parental training to the gross motor function of CP children in Uong Bi
district, North of Viet Nam. The study method is an intervention design with a sample size of 43 CP
children identified in the house-to- house survey and diagnosed by national rehabilitation doctors.
The gross motor function was measured with GMFM scale at the beginning of the parental training
and 9 months after that. The result of study shows that 65,1% of CP children have been improved
with gross motor function while 41,9% of CP children have GMFM to be increased from 1 to 10%.
Among the improved CP children, GMFM scores at milestones such as: Lying and crowning; sitting;
crawling and kneeling; standing; walking and running have been increased after nine months with
the highest one in walking and running. On the other hand, the rate of children with the best GMFM
Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với
tiến bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não
tại Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Quốc cho thấy phục hồi chức năng cho người tàn tật
tại cộng đồng giúp 90% người có khó khăn về vận
động có tiến bộ sau 2 năm [11]. Tại Vónh Phúc
59,2% người tàn tật hoà nhập xã hội sau 3 năm [6].
Tại Hà Tây, 90,8 % người tàn tật có tiến bộ về chức
năng sau 5 năm và có 30% trẻ bại não hoà nhập xã
hội sau 2 năm [9]. Trong PHCN dựa vào cộng đồng,
huấn luyện trang bò kiến thức và kỹ năng về phục
hồi chức năng cho các thành viên trong gia đình đặc
biệt là người chăm sóc người khuyết tật, để từ đó gia
đình tập luyện cho người khuyết tật được đặc biệt
chú ý. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu đề cập đến vấn
đề này. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu: "Đánh giá kết quả tập huấn cha mẹ đối với tiến
bộ về vận động thô trên 43 trẻ bại não tại Uông Bí,
tỉnh Quảng Ninh".
2. Phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
43 trẻ bại não tuổi từ 6 tháng đến 16 tuổi cư trú
trong đòa bàn huyện Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
trong giai đoạn nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu can thiệp có
so sánh trước - sau.
Cỡ mẫu và cách chọn: Toàn thể 43 trẻ bại não
được phát hiện trong điều tra 521 trẻ khuyết tật <16
tuổi huyện Uông Bí. Những trẻ này được các bác sỹ
chuyên ngành PHCN của bệnh viện Bạch Mai
khám phát hiện.
Tiêu chuẩn chẩn đoán bại não: (1) có rối loạn

+ Mức 1: Bắt đầu thực hiện hoạt động (<10%)
+ Mức 2: Thực hiện được một phần hoạt động
(10-90%)
+ Mức 3: Thực hiện được hoàn toàn hoạt động
(>90%)
Cách tính điểm GMFM như sau: cho điểm từng
mục, sau đó cộng tổng điểm của các mục trong từng
lónh vực chia cho tổng số điểm của các mục trong
lónh vực đó để tìm được tỷ lệ phần trăm của từng
lónh vực.
- Tập huấn cha mẹ: Người chăm sóc chính trẻ
bại não (chủ yếu là mẹ) được các chuyên gia PHCN
bệnh viện Bạch Mai và Viện Nhi Quốc gia tập huấn
các kỹ thuật tạo thuận đơn giản của Bobath và các
kỹ thuật tập vận động cho trẻ theo hướng dẫn của
TCYTTG. Tập huấn diễn ra một tuần trong đó các
bà mẹ được chia làm nhiều nhóm nhỏ (khoảng 3
người) theo mức độ vận động của con. Các bà mẹ
luân phiên mang con của mình đến lớp tập huấn và
việc thực hành đánh giá cũng như kỹ thuật PHCN
được hướng dẫn ngay tại lớp. Do vậy, các bà mẹ đều
được chuyên gia PHCN tư vấn và học được cách tập
vận động con mình.
Cách thu thập số liệu: Các thông tin về trẻ bại
não được các bác sỹ chuyên ngành PHCN khám và
chẩn đoán. Đo chức năng vận động thô trước và 9
tháng sau khi can thiệp do một kỹ thuật viên VLTL-
PHCN huyện Uông Bí đảm nhận.
- Xử lý kết quả nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu
được nhập vào máy vi tính bằng phần mềm EPI

Quảng Ninh. Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với tỷ
lệ đã được công bố tại Khánh Hoà là 25,1% trên
tổng số trẻ khuyết tật [8]. Nguyên nhân có thể là do
quan niệm về khuyết tật trong nghiên cứu đã dẫn
đến tỷ lệ khuyết tật ở trẻ em tại hai vùng khác nhau.
Trong nghiên cứu tại Khánh Hoà, tỷ lệ trẻ khuyết
tật chỉ chiếm khoảng 0,24% dân số, bằng 1/12 tỷ lệ
trẻ khuyết tật tại Uông Bí (khoảng 3%). Điều này
có thể do điều tra tại Khánh Hoà đã bỏ qua nhiều
trẻ khuyết tật mức độ vừa và nhẹ, dẫn đến tỷ lệ bại
não trong tổng số trẻ khuyết tật rất cao (trẻ bại não
thường là trẻ khuyết tật nặng).
Sau khi cha mẹ được tập huấn cách tập luyện
cho trẻ, cả 43 trẻ bại não được PHCN tại nhà. Kết
quả cho thấy sau 9 tháng, số trẻ được phục hồi về
khả năng vận động thô so với trước can thiệp là 28
(chiếm 60,5%). Điểm trung bình vận động thô của
trẻ bại não (điểm GMFM) sau 9 tháng đã tăng lên
đáng kể từ 55,9+35,1 điểm lên 62,0+36,6 điểm
(Bảng 1). Mức độ tiến bộ vận động thô so với trước
can thiệp của trẻ bại não thường gặp là tiến bộ với
số điểm vận động thô tăng từ 1 -10%, chiếm tỷ lệ
41,9%, mức độ tiến bộ tăng trên 20% chỉ có tỷ lệ
7%, sự khác biệt giữa các mức có ý nghóa thống kê
p<0,05 (Biểu đồ 3). Điểm trung bình theo các mốc
phát triển cũng tăng lên sau can thiệp, trong đó tăng
cao nhất là mốc vận động đi và chạy với sự khác
biệt có ý nghóa thống kê p<0,05 (Bảng 2).
Kết quả trên chứng minh rằng khi trẻ bại não
được tập luyện PHCN đúng phương pháp và thường

%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
Không
tiến bộ
33
76,7
30
69,8
30
69,8
28
65,1
23
53,5
Từ 1-10 %
4
9,3
6
14,0
3
7,0
1
2,3

100
43
100
43
100

Bảng 2. Mức tiến bộ về vận động thô theo các mốc
phát triển sau khi can thiệp
Bảng 3. Phân bố số trẻ bại não có tiến bộ trước và
sau khi can thiệp theo mức vận động thô
16 Tạp chí Y tế Công cộng, 1.2010, Số 14 (14)
| TỔNG QUAN & NGHIÊN CỨU |
hợp với kết quả thu được trong nghiên cứu của
chúng tôi.
Theo một số tác giả khác nghiên cứu về PHCN
cho nhóm khó khăn vận động thì cho kết quả cao
hơn trong nghiên cứu của chúng tôi. Nghiên cứu
của tác giả Trần Trọng Hải thì tỷ lệ tiến bộ của
nhóm KKVĐ sau 3 năm phục hồi là 91,8% [5], của
tác giả Cao Minh Châu và cộng sự là 90% [4], của
tác giả Lê Văn Cấp tại Hoà Bình tỷ lệ tiến bộ sau 8
tháng phục hồi là 79% [3]. Sự khác biệt về kết quả
với nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn có thể là do
đối tượng trong các nghiên cứu trên có những trẻ
không phải bò bại não mà bò những dạng tật nhẹ hơn
như bại liệt, bàn chân khoèo Những trẻ này
thường không có các khiếm khuyết khác kèm theo
như động kinh, chậm phát triển tinh thần nên khả
năng PHCN có thể tốt hơn.
Tiến bộ về khả năng vận động thô của trẻ bại

từ động tác thấp đến cao cũng đòi hỏi phải có thời
gian và có sự trợ giúp của người khác. Cho nên ở trẻ
bại não do có khó khăn về vận động thì cần phải có
sự cố gắng và trợ giúp tối đa mới có thể thực hiện
được các động tác ở mức cao hơn. Điểm vận động
thô của trẻ từ 80% trở lên có mức tiến bộ vận động
cao nhất (39,3%). Đây là điều hợp lý vì trẻ có mức
vận động này tương đương với trẻ có thể đi, chạy và
nhảy. Trẻ đã có thể di chuyển được khỏi vò trí của
mình bằng chân, có thể làm được các động tác bằng
tay. Tập luyện phục hồi để giúp cho trẻ thực hiện
được khả năng di chuyển từ thấp đến cao và phải
làm từng bước một. Đối với trẻ có mức vận động cao
cần được tập luyện thường xuyên đúng cách để trẻ
có thể đạt được khả năng vận động như trẻ bình
thường, tránh được các khuyết tật khi trẻ trưởng
thành. Cần cung cấp và chế tạo cho trẻ những dụng
cụ hỗ trợ di chuyển và tập luyện như khung song
song, nạng, nẹp để hỗ trợ cho trẻ đứng được và tập
đi. Kết quả phục hồi tiến bộ về vận động cho trẻ bại
não là kết quả sự vận dụng sáng tạo nguyên lý kích
thích và vận động của các kỹ thuật PHCN gắn liền
với các điều kiện sinh hoạt, môi trường sống với con
người và đồ vật ngay tại cộng đồng nơi trẻ sống.
Đây chính là cơ sở thực tiễn của PHCNDVCĐ mà
chúng tôi đã áp dụng để tập luyện cho trẻ bại não.
Tóm lại, sau 9 tháng tập huấn cha mẹ về cách
tập luyện PHCN cho cha mẹ trẻ bại não, trên 60%
trẻ có tiến bộ về vận động thô. Số trẻ có điểm vận
động thô tăng từ 1-10% chiếm tỷ lệ cao nhất

6. Nguyễn Văn Lý (2001). Kết quả bước đầu triển khai và
thực hiện chương trình PHCNDVCĐ tỉnh Vónh Phúc giai
đoạn 1997 – 2000. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học
- Hội phục hồi chức năng Việt Nam, số 7, NXB Y Học, Hà
Nội, 119-124.
7. Nguyễn Hồng Phúc, Đoàn Thò Minh Xuân và cộng sự
(2001). Tình hình và kết quả PHCN tại Trung tâm PHCN trẻ
tàn tật Thừa Thiên Huế 5 năm 1996-2000. Kỷ yếu công trình
nghiên cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, Số
7, NXB Y học, Hà nội, 52-160.
8. Hoàng Trung Thông (2001). Tình hình trẻ em bại não tại
tỉnh Khánh Hoà. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học,
Hội phục hồi chức năng Việt Nam, Số 7, NXB Y học, Hà nội,
277-281.
9. Nguyễn Minh Thuỷ (2004). Nghiên cứu đặc điểm dòch tễ
học bại não và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp phục
hồi chức năng cho trẻ bại não tại cộng đồng tỉnh Hà Tây.
Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 91-100.
10. Nguyễn Thò Minh Thuỷ (2001). Phục hồi chức năng cho
trẻ bại não. Báo cáo chuyên đề luận văn tiến sỹ, Trường Đại
học Y Hà Nội, 10 - 30.
Tiếng Anh
11. Baolin C, Huang G (1999). Primary health care and
community-based rehabilitation in the Peoples Republic of
China. Disability and rehabilitation, 21, pp 479 – 483.
12. Murphy C.C; Yaergin-Allsopp-M; Deccouple-P; Drews-
CD (1993). Prevalence of cerebral palsy among ten-year-
old children in meppopolitan Atlanta, 1985 through 1987.
Journal of Pediatrics, pp 123 -127.
13. Stanley F.J, Blair E, Hockey A, Peterson B, Watson L


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status