Nghiên cứu chẩn đoán và đánh giá kết quả điều trị không phẫu thuật tổn thương vùng chẽ chân răng hàm lớn do viêm quanh răng tại viện răng hàm mặt quốc gia năm 2009 và kết quả điều trị - Pdf 19

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh Viêm quang răng đã tác động đến con người từ thời xa xưa; thời Hy
lạp cổ đại, thời trước khi Columbo tìm ra châu Mỹ cho tới tận bây giờ [44].
Các nghiên cứu từ trước cho tới nay cả trên thế giới và Việt nam cho
rằng bệnh quanh răng luôn cần phải được điều trị.Tổ chức Y tế thế giới đã
khẳng định:”Bệnh quanh răng là bệnh lưu hành rộng rói nhất trong nhõn
loại.Không có một quốc gia,một vùng lónh thổ nào trên thế giới không có
bệnh này.Bệnh chiếm một tỷ lệ rất cao,quá nửa số trẻ em và hầu như toàn bộ
số người lớn tuổi bị bệnh này” [46 ]
Tại Mỹ,nghiên cứu của Glickman (1969) cho thấy tỉ lệ viêm lợi lứa tuổi
12-14 là 75%,ở lứa tuổi 35-45 là 85%[41].J Brown và cộng sự(1996) điều tra
về tình trạng bệnh quanh răng cho thấy có 73% người lứa tuổi 13-17 có biểu
hiện viêm lợi,trung bình cho các nhúm tuổi là 63,9% số người bị viêm lợi,số
người có túi quanh răng sõu trên 5mm là 21,1%:sõu trên 3mm là 42,3%[34].
Tại Việt nam,trong một điều tra riêng rẽ của Nguyễn Cẩn về bệnh
quanh răng ở các tỉnh phớa nam Việt nam và thành phố Hồ Chí Minh,tác giả
và các cộng sự cho biết 1/3 viêm lợi sẽ tiến triển sang viêm quanh răng sau
một thời gian,thường thì sau tuổi 35[31]. Điều tra răng miệng các tỉnh phớa
bắc năm 1991 cho thấy tỉ lệ người bị viêm quanh răng lứa tuổi35-45
là22,33%[19].Gần đõy nhất theo số liệu điều tra sức khỏe răng miệng toàn
quốc năm 2001 của Trần Văn Trường và cộng sự,tỉ lệ người bị viêm lợi là
74,6%,riêng lứa tuổi 35-44,tỉ lệ Viêm quanh răng là 29,7%[28]
Bệnh viêm quanh răng tiến triển theo từng đợt.Bệnh gồm hai quá trình
viêm và thoái húa.Những dấu hiệu chung của bệnh là :Viêm lợi cấp tớnh hoặc
món tớnh,sưng đỏ,chảy mỏu lợi tự nhiên hoặc khi có kích thích,có túi quanh
răng,mất bám dớnh quanh răng,trên hình X quang thấy hình tiêu xương ổ
1
răng.Quá trình viêm món tớnh ở lợi lan tới vùng dõy chằng quanh răng, phá
hủy tổ chức dõy chằng làm tiêu xương ổ răng và làm mất chức năng của
răng.Sự phát triển của bệnh viêm quanh răng,nếu không được giảm đi,thì kết
quả cuối cùng trong mất bám dớnh hoàn toàn sẽ có khả năng tác động tới

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “”Nghiên cứu cứu chẩn
đoán và đánh giá kết quả điều trị không phẫu thuật tổn thương vùng chẽ
chõn răng hàm lớn do viêm quanh răng tại Viện Răng Hàm Mặt Quốc
gia năm 2009và kết quả điều trị”” với hai mục tiêu sau :
1. Nhận xét lõm sàng, X quang tổn thương vùng chẽ chõn răng hàm
lớn trên bệnh nhõn viêm quanh răng
2. Đánh giá kết quả điều trị không phẫu thuật ở những bệnh nhõn này.
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU HỌC RĂNG VÀ TỔ CHỨC QUANHCUNG RĂNG:
[9], [44], [45]
1.1.1.Cung răng và sự sắp xếp răng
Các răng vĩnh viễn cắm vào mỏm huyệt răng xương hàm trên và bờ trờn
thõn xương hàm dưới theo dạng vũng cung kết hợp mà người ta gọi nó là các
cung răng.Hình thể và vị trí của các răng trên các cung răng tạo nêao. Nên
một sự tương thích hết sức tinh vi của hai hàm.

4

Hình 1.1:Cung răng và vị trí răng hàm lớn ởsự sắp xếp trên cung hàm.
Công thức răng vĩnh viễn được tớnh cho cả hai hàm mỗi bên cả trên lẫn
dưới theo công thức:2/2 cửa+1/1 nanh+2/2 tiền cối+3/3 cối.Trên cung
hàm,răng cối(răng hàm )nằm ở sau nhất (Hình 1.1)
1.1.2. Giải phẫu răng hàm lớn hàm dưới:
5
Răng hàm lớn hàm trên
Răng hàm lớn hàm dưới
Răng hàmcối lớn hàm dưới thường chỉ thấy hai chân,thường thấy chõn
gần và chõn xa rừ rệt.Bề mặt trong miệng,phần sát chân răng tương đối khó

chẽ chõn răng,hoặc đến phần chia tách rời của hai chõn răng.
Một vấn đề nhất định xảy ra về nha chu có liên quan tới những chiếc
răng hàm hàm dưới là mất một phần hoặc toàn bộ phần mô quanh răng giữa
hai chõn răng.Bề mặt lành mạnh của vùng giữa hai chõn răng được phủ bằng
xương chõn răng có sợi Sharpey gắn kết.Các sợi liên kết này gắn liền răng với
bờ ổ răng và hướng theo các chiều xiên hoặc vuông góc với bề mặt của răng
(Hình 1.2).
1.1.3.Giải phẫu răng hàm lớn hàm trên
Các răng hàm trên thõn răng có 3 núm, răng hàmcối trên thường có
ba chõn răng Thường có chõn hàm ếch nằm ở mặt trong (mặt vòm) và hai
chõn nằm ở hai phớa gần và xa. Độ dài của cổ răng từ đường nối xương men
răng(CEJ) tới chỗ tách các chõn răng khác nhau giữa các mặt.
Chõn răng gần thuôn,gần giống chõn gần của răng hàm lớn hàm
dưới,mặt xa của chõn này cong hơn.Chõn xa trũn,chẽ chõn răng nằm giữa mặt
vòm và mặt ngoài.Thường thấy chõn xa của răng hàm lớn thứ nhất cong về
phớa chõn răng gần của răng hàm lớn thứ hai.Kết quả là khoảng cách giữa hai
răng hàm lớn rất nhỏ làm tăng mức độ khó khăn của việc kiểm soát mảng
bám và vệ sinh răng miệng (VSRM) của bệnh nhõn. Những bệnh nhõn có
vùng CCR xa và gần với các thương tổn nhiễm trùng có thể gõy ra việc tổn
thương xương giữa hai răng ở những răng gần nhau.
Hình 1.3. Răng hai chõn răng và ba chõn răng
7
1.2. GIẢI PHẪU VÀ TỔ CHỨC HỌC VÙNG QUANH RĂNG: [1], [2], [14]
1.2.1. Lợi :Lợi:
Lợi là phần đặc biệt của niêm mạc được biệt hoá,bám vào cổ răng,một
phần chõn răng(phần trên mào xương ổ răng) và xương ổ răng. Được giới hạn
phớa trên bởi bờ lợi vàf ở phớa dưới là ranh giới lợi niêm mạc.Lợi bình
thường
săn chắc,bóng đều,có mầu hồng nhạt.Màu của lợi phụ thuộc vào mật độ mao
mạch dưới biểu mô và các hạt sắc tố.

chõn răng khoảng 1,5mm gọi là vùng bám dớnh và một phần bám dớnh vào
mặt ngoài xương ổ răng.Mặt ngoài của lợi dớnh cũng như của lợi tự do phủ
bằng một lớp biểu mô sừng hoá
1.2.1.2.Cấu trúc mô học lợi
Lợi được cấuy tạo bởi các thành phần:Biểu mô lợlơi,tổ chức liên
kết,các mạch mỏu và thần kinh.
- Biểu mô lợi:Gồm ba loại là biểu mô sừng hoá,biểu mô không sừng
hoá và biểu mô bám dớnh:
+ Biểu mô sừng hoá là biểu mô phủ mặt ngoài lợi tự do và vùng lợi
dính.Từ sâu ra nông gồm có bốn lớp tế bào:Lớp tế bào đáy,lớp tế bào gai,lớp
tế bào hạt và lớp tế bào sừng hoá.Lớp tế bào hẹp có nhiều lồi hẹp ăn sâu
xuống tổ chức liên kết đệm ở dưới.
+ Biểu mô không sừng hoá là biểu mô phủ mặt trong của lợi viền.
+ Biểu mô bám dính (có tác giả gọi là biểu mô kết nối) là biểu mô ở
đáy khe lợi,không nhìn thấy được từ bên ngoài,bám dính vào cổ răng chỗ nối
xương-men răng.Biểu mô kết nối không bị sừng hoá và không có những lõm
ăn sâu vào mô liên kết ở dưới.
-Tổ chức liên kết:Bao gồm các tế bào sợi và các sợi liên kết.
9
+ Các tế bào
:Chủ yếu là nguyên bào sợi có dạng thoi hay dạng sao.Ngoài ra có chứa các
dưỡng bào,lympho bào thực bào,bạch cầu hạt trung tính,bạch cầu đơn nhân
lớn và các đại thực bào [1]
+ Các sợi liên kết:Gồm nhiều sợi keo và ít sợi chun,xếp với nhau thành
từng bó nối tho các hướng khác nhau tạo nên hệ thống sợi của lợi.Người ta
chia các bó sợi của lợi thành các nhúm sau:
. Các bó răng-lợi:Gồm ba nhóm toả ra từ xương răng trên ổ răng vào lợi
viền và lợi dính.
.Cỏc bó răng- màng xương: Chạy từ xương răng trên xương ổ răng đi về
phía cuống răng trên mào xương ổ răng đến màng xương.

protein huyết tương cú cỏc yếu tố miễn dịch dịch thể như : γ globulin, γA
globulin, albumin, đại thực bào, sợi fibrinogen, men phosphatase. Ngoài ra
cũn cú cỏc vi thể bạch cầu, tế bào biểu mô bong ra. Khi lợi viờm thỡ nồng độ
vi khuẩn và bạch cầu tăng. Khi lợi bình thường thì nồng độ Na
+
thấp hơn
trong huyết tương, nồng độ Ca
++
tương đương, nồng độ K
+
cao hơn 3 lần. Khi
lợi viờm thỡ nồng độ ion Na
+
trong dịch lợi cao tương đương trong huyết
tương, nồng độ Ca
++
và phosphat cao gấp 3 lần.
1.2.2. DÂY CHẰNG QUANH RĂNGDây chằng quanh răng::
Là những bó sợi liên kết, dày khoảng 0,17- 0,25mm. Một đầu bám vào
xương răng, đầu kia bám vào xương ổ răng. Nó giữ răng trong xương ổ răng
và vùng quanh răng, đảm bảo sự liên quan sinh lý giữa xương răng và xương
ổ răng nhờ những tế bào đặc biệt ở trong tổ chức dây chằng. Những tế bào
này có khả năng tạo hoặc phá huỷ xương răng và xương ổ răng.
chằng quanh răng, xương răng và xương ổ răng.
11
1.2.2.1. Thành phần của dây chằng quanh răng: Gồm 3 thành phần sau:
-Các tế bào của dây chằng quanh răng:Gồm có nguyên bào sợi,các tiền
tạo xương răng bào,tiền tạo cốt bào,tạo xương răng bào,tạo cốt bào,hủy cốt
bào,tế bào biểu mô,bạch cầu
-Sợi liên kết của dây chằng quanh răng: chiếm chủ yếu ở dây chằng

− Cỏc nhánh từ động mạch răng: Ngay trước khi đi vào lỗ cuống răng,
chúng tách ra nhánh đi về phớa thõn răng qua dây chằng quanh răng và đến
mô lợi.
− Cỏc nhánh của động mạch liên xương ổ răng và trên chân răng: Đi qua
lỗ phiến sàng (lỗ lamina dura) vào dây chằng quanh răng.
− Cỏc nhánh của động mạch màng xương: Đi về phớa thõn răng qua niêm
mạc mặt ngoài và mặt trong của xương ổ răng để đến lợi và nối với hệ thống
mạch máu quanh răng qua lợi.
1.2.2.3.Mạch bạch huyết: Giống như mạch máu, mạch bạch huyết của
dây chằng quanh răng tạo thành một mạng lưới dày đặc trông như một cái
giỏ, nối tiếp với bạch huyết của lợi và của vách xương ổ răng.
1.2.2.4.Thần kinh: Dây chằng quanh răng chịu sự chi phối của hai
nhóm sợi thần kinh: Một nhóm thuộc hệ thống thần kinh cảm giác và một
nhóm thuộc hệ thống thần kinh giao cảm.
− Nhóm thần kinh cảm giác: Gồm các sợi thần kinh cảm giác đi
vào dây chằng quanh răng, là những nhánh tận của đám rối răng trên và đám
13
rối răng dưới. Chúng có thể thu nhận 2 loại cảm giác (cảm giác về đau và cảm
giác về áp lực).
− Các sợi thần kinh giao cảm đi tới các mạch máu, có tác dụng
điều hoà lượng máu cung cấp tại chỗ thông qua cơ chế vận mạch.
1.2.2.5.Chức năng của dây chằng quanh răng:
− Giữ chắc răng trong ổ răng, đảm bảo sự liên quan sinh lý giữa xương
răng và xương ổ răng.
− Truyền lực nhai từ răng vào xương hàm, giữ thăng bằng, tránh sang
chấn.
− Thụ cảm nhờ những sợi thần kinh thu nhận cảm giác ở vùng dây chằng
quanh răng.
− Dinh dưỡng vùng quanh răng nhờ bó mạch của nó, từ xương ổ răng qua
lỗ lá cứng và từ động mạch trong khe quanh răng xuất phát từ bó mạch thần

Cấu trúc lớp xương vỏ nhìn chung giống như các xương đặc khác, bao gồm
các hệ thống Havers. Lớp xương vỏ hàm dưới dày hơn lớp xương vỏ hàm
trên. Ở cả hai hàm, độ dày của lớp vỏ thay đổi theo vị trí của răng, nhưng nhìn
chung mặt trong dày hơn mặt ngoài.
− Xương xốp: Năm giữa các thành xương ổ răng và giữa cỏc lỏ sàng. Bao
gồm một mạng lưới bè xương mỏng, xen giữa các khoang tuỷ chủ yếu lấp đầy
15
tuỷ mỡ. Vùng lồi củ xương hàm trên và góc xương hàm dưới có thể thấy tuỷ
tạo máu, ngay cả ở người lớn [2].
− Các tế bạo chịu trách nhiệm tái cấu trúc:
. Tạo cốt bào: Hình đa diện lớn, bào tương ưa kiềm, có nhánh bào
tương dài
. Tế bào xương non: Nằm ở phía ngoài vùng xương tân tạo, điều hoà
quá trình trưởng thành và khoáng hoá của khung sườn mới hình
thành.
. Tế bào xương trưởng thành: Có nhiều nhánh bào tương dài nằm trong
các tiểu quản xương tiếp xúc với các nhánh bào tương của tế bào
xương lân cận.
. Huỷ cốt bào: Là những hợp bào, nằm ngay trên bề mặt xương không
có chất dạng xương che phủ. Huỷ cốt bào có ít bào quan, lysosom
phát triển, bề mặt tế bào có nhiều nhung mao.
Bình thường thì mào ổ răng nằm dưới cổ răng giải phẫu 0,5- 1mm. Xương
ổ răng chịu được lực nén sinh lý thích hợp thỡ nú được củng cố và vững chắc.
Khi chịu lực nộn quỏ khả năng sinh lý sẽ có hiện tượng tiờu vụi. Nếu không
có tác dụng của lực nén xương ổ răng cũng có hiện tượng tiờu vụi (loãng
xương) và khoảng dây chằng quanh răng hẹp đi, răng chồi lên. Xương ổ răng
có quá trình tiêu và phục hồi luôn cân bằng thì răng luôn chắc và đảm bảo
chức năng. Nếu mất cân bằng, quá trình tiêu xương lớn phục hồi dẫn đến tiêu
xương gặp ở quá trình bệnh lý quanh răng, sang chấn khớp cắn
16

kích hoạt những tế bào thông thường như nguyên bào sợi và những tế bào
biểu mô. Điều này sảy ra sau khi tiết ra Prostaglandine (ví dụ: PGE2) và
khung metalloproteinases (ví dụ: collagenases), prostaglandine có thể gõy
tiờu xương ổ răng và khung metalloproteinases có thể phá huỷ mô liên kết.
Hơn nữa những yếu tố trung gian khác (ví dụ: interleukin-1 và yếu tố gây
bệnh hoại tử lợi) có liên quan đến việc thoỏi hoỏ mụ quanh răng. Vì vậy
chúng ta có thể thấy rằng phản ứng của ký chủ có thể vừa bảo vệ nhưng lại
vừa phá huỷ. Chu trình tạo xương và tiêu xương được điều hòa một cách chặt
chẽ lại bị gián đoạn khi PGE2 kích thích tạo một số lớn các huỷ cốt bào. Như
là một kết quả, cán cân nghiêng về tiêu xương và sự phá huỷ xương ổ răng bắt
đầu. Những triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm quanh răng chỉ vào lúc này
mới trở lên rõ ràng.
1.3.1. Mảng bám răngẢNG BÁM RĂNG :[8]
Mảng bám răng còn được gọi là mảng bám vi khuẩn, có cấu trúc phức tạp.
Sự phát triển của nó đòi hỏi một môi trường sinh lý thích hợp, nhiệt độ, sự có
mặt của các chất nuôi dưỡng và vi khuẩn. MBR được coi là tác nhân ngoại lai
quan trọng nhất trong bệnh sinh của viêm quanh răng. Trung bình 1mm
3

10
8
vi khuẩn gồm 200 loại khác nhau. Sự hình thành mảng vi khuẩn thường
trải qua 2 giai đoạn: gGiai đoạn đầu là hình thành màng vô khuẩn khoảng 2
giờ sau khi chải răng, màng này có nguồn gốc nước bọt do men Carbohydrate
hay men Neuraminidase tác động lên acid Sialic của mucin nước bọt làm cho
nó kết tủa lắng đọng trên bề mặt răng. Giai đoạn tiếp theo, vi khuẩn đến ký
18
sinh trên màng vô khuẩn, hình thành và phát triển mảng bám vi khuẩn. Hai
ngày đầu, trên mảng bám chủ yếu là các cầu khuẩn, trực khuẩn Gr (+). Các
ngày tiếp theo mảng bỏm cú cỏc thoi xoắn khuẩn, vi khuẩn hình sợi Gr (-),

mất chỗ bỏm dớnh gõy tụt lợi. Vi khuẩn trên bề mặt cao răngCR đi vào lợi,
rãnh lợi gõy viờm Cao răng . CR chia làm 2 loại theo vị trí bám:
Cao răngCR trên lợi: Dễ nhìn thấy, màu vàng hoặc nõu xỏm, Thường
xuất hiện ở những răng cạnh lỗ tuyến nước bọt như :Mặt ngoài răng 6,7 hàm
trên, mặt trong răng cửa dưới và răng 6 dưới.
Cao răng
CR dưới lợi: Có thể nhìn thấy rõ khi lợi bong ra khỏi cổ răng, hoặc
nhìn qua lợi dưới ánh đèn soi, bám chắc vào răng, có màu xám hoặc đen.
1.3.3. Vi. VI khuẩn trong mảng bám răngKHUẨN TRONG MẢNG BÁM
RĂNG [36]
Vai trò gây bệnh của vi khuẩn đã được chứng minh từ những công trình
nghiên cứu của Loở (1965) gõy viờm thực nghiệm. Vai trò vi khuẩn của
MBR là nguyên nhân chủ yếu gây nên các bệnh QR. Qua nhiều năm nghiên
cứu trờn cỏc quần thể khác nhau trên thế giới đã chứng tỏ rằng có sự liên
quan chặt chẽ giữa MBR (mảng bám vi khuẩn) với tỉ lệ bệnh QR và mức độ
trầm trọng của bệnh. Theo Page và Schroaler (1992), các thể bệnh QR phải
được coi là bệnh nhiễm khuẩn mà mỗi thể bệnh được đặc trưng bởi sự chiếm
ưu thế của một hay nhiều vi khuẩn đặc hiệu. Người ta đã tìm thấy nhiều loại
vi khuẩn đặc hiệu gây bệnh VQR, nguy hiểm cho răng. Cho đến nay người ta
20
đã thống nhất là sự có mặt của những vi khuẩn có thể nói là đặc hiệu gây
VQR:
− Bacteroides Intermedium.
− Bacte roides gingivalis.
− Actinobacillus Actinomycetemcomitan.
− Eikenella corrodents
− Capnocytopharga.
− Campolybacter recten.
− Fusobacterium nucleatum.
− Prevoella và Poiphyromonas.

tiếp bệnh từ viêm lợi sang VQR phụ thuộc vào hai yếu tố chính [21] :
− Vai trò của vi khuẩn trong MBR, trong đó có những chủng vi khuẩn đặc
hiệu chiếm ưu thế.
− Sự đáp ứng miễn dịch của từng cá thể.
1.3.5. . YẾU TỐ BỆNH CĂN CỦA TỔN THƯƠNG VÙNG Yếu tố bệnh
căn của tổn thương vùng CCR[44]:
Yếu tố bệnh căn chủ yếu trong sự phát triển của tổn thương vùng CCR
là mảng bám vi khuẩn và hậu quả của nhiễm trùng kéo dài đã được biết từ lâu
nay.Sự tiến triển của mất bỏm dớnh đưa đến kết quả tổn thương khác nhau
vùng CCR và có liên quan đếén những yếu tố giải phẫu tại chỗ như: độ dài cổ
22
răng,hỡnh thỏi chân răng và những sự phát triển bất thường tại chỗ cũng như
sự hở cổ răng.Yếu tố tại chỗ có thể tác động đến tỉ lệ tập trung mảng bám
hoặc làm phức tạp cho việc vệ sinh răng miệng do đó làm tăng thêm sự phát
triển của bệnh viêm quanh răng và mất bỏm dớnh.Cỏc nghiên cứu chỉ ra rằng
tỉ lệ mắc bệnh và tính nghiêm trọng của sự mất bỏm dớnh vựng CCR tăng lên
theo tuổi.Bệnh sâu răng và hoại tử tủy cũng có thể tác động đến răng, đến sự
bỏm dớnh ở vùng CCR.Tất cả những yếu tố này nên được cân nhắc đến khi
chẩn đoán, đưa ra kế hoạch điều trị và phương pháp điều trị cho bệnh nhân
tổn thương vùng CCR .
Những điều đièu kiện nha chu và các yếu tố liên quan tới giải phẫu
răng bị tổn thương và các răng lõn cận phải luôn được cõn nhắc đến khi chẩn
đoán và điều trị tổn thương vùng CCR.Luôn tồn tại một vấn đề là không có sự
ngăn cách giữa phức hợp của vùng CCR và chõn răng liên quan với răng kề
cận
1.3.6. CÁC YẾU TỐ TẠI CHỖ LIÊN QUAN TỚI VÙNGCác yếu tố tại
chỗ liên quan tới vùng CCR[ 9] [44 ]:
Các yếu tố giải phẫu không chỉ cá biệt hóa tổn thương mà còn tác động
đến kết quả điều trị tổn thương vùng CCR.Những yếu tố tại chỗ quan trọng là:
1.3.6.1. Răng:

chỉnh hình răng mặt.
1.3.6.3. Hở men cổ răng
Hở men cổ răng(Cervical Enamel Projections-CEJs) được báo cáo đã
tỡm thấy ở 8,6% đến 28,6% của răng hàm lớn
- Hay gặp ở răng hàm lớn hàm trên và răng hàm lớn thứ hai hàm dưới.
- Độ lan rộng của hở men cổ răng được Master và Hoskin[44] phõn loại
năm 1964:
Độ I:Hở men cổ răng lan rộng từ đường nối xương-men răng đến chỗ vào của
vùng CCR
Độ II:Hở men cổ răng tiếp cận lối vào của vùng CCR.Không vào được vùng
CCR nên không thấy tiêu xương ngang
Độ III:Hở men lan rộng theo chiều ngang vào trong vùng CCR
1.4. PHÂN LOẠI BỆNH VIấM QUANH RĂNG:
Có nhiều cách phân loại khác nhau về bệnh VQR, trước đây dựng cỏch
phân loại phổ thông là viêm lợi và VQR. Gần đây, cách phân loại của viện
hàn lâm Mỹ(AAP) được dùng nhiều hơn vỡ nú đơn giản nhưng đầy đủ và rất
có ích trong thực hành lâm sàng.
1.4.1. TheoHEO Page và SchroalerAGE VÀ SCHROALER: (1982) Phân bệnh
VQR thành 4 loại như sau: [24]
− Viêm quanh răng ở người lớn
− Viêm quanh răng tiến triển nhanh
− Viêm quanh răng ở người trẻ
25

Trích đoạn Điều trị phẫu thuật: [3], [11]
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status