Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
LỜI MỞ ĐẦU
Là một quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, nhu cầu về năng lượng sử dụng cho các ngành công nghiệp và cho sinh
hoạt ở Việt Nam ngày càng tăng. Trong khi các nguồn năng lượng truyền thống
(thủy điện, than đá, dầu mỏ...) đang ngày càng khan hiếm. Theo dự báo, trữ
lượng dầu thô của thế giới sẽ cạn kiệt vào khoảng năm 2050 – 2060. Sự phụ
thuộc quá nhiều vào năng lượng hoá thạch gây ra những vấn đề: an toàn nguồn
năng lượng, hiệu ứng nhà kính do khí thải và sự bất ổn về chính trị và chủ nghĩa
khủng bố thế giới.
Những tiến bộ về khoa học và công nghệ của nhân loại đang đặt ra cho các
nước trên thế giới phải quan tâm đến việc sản xuất và sử dụng các nguồn năng
lượng tái tạo (NLTT) và quan tâm đến bảo vệ môi trường. Một trong số các
nguồn NLTT đó là năng lượng sinh khối. Năng lượng sinh khối (NLSK) là
nguồn năng lượng cổ xưa nhất đã được con người sử dụng khi bắt đầu biết nấu
chín thức ăn và sưởi ấm.
Ngành nông nghiệp của Việt Nam có vị trí vô cùng quan trọng với tỷ trọng
chiếm 20,3% trong toàn bộ nền kinh tế, 70% dân số làm nông nghiệp. Hiện nay,
Việt Nam luôn nằm trong tốp các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Trong
quá trình canh tác nông nghiệp, bên cạnh các sản phẩm chính luôn tạo ra một
lượng lớn phụ phẩm. Nếu không được quản lý tốt nguồn phụ phẩm này chúng
sẽ biến thành lượng rác thải rất lớn và gây ô nhiễm môi trường.
Việc áp dụng đưa nguồn NLSK vào sử dụng không chỉ thay thế nguồn
năng lượng hoá thạch mà còn góp phần xử lý chất thải rắn trong môi trường
hiện nay.
Mặc dù ngành điện lực đã có rất nhiều cố gắng để cải thiện nhu cầu năng
lượng phục vụ sinh hoạt và sản xuất, nhưng tình trạng thiếu điện trên toàn quốc,
ở Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Do đó, việc nghiên cứu và đưa ra phương án hợp lý để sử dụng hiệu quả
các phụ phẩm sinh khối trong nông nghiệp làm nguồn năng lượng là rất cần
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
2
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu chung
1.1.1. Khái quát sinh khối và năng lượng sinh khối
Sinh khối (SK) là các vật liệu hữu cơ có nguồn gốc từ sinh vật có khả năng
tái tạo như cây cối, phân gia súc, … khi được đốt cháy năng lượng sinh học này
được giải phóng dưới dạng nhiệt. SK được xem là một phần của chu trình
cacbon. Cacbon từ khí quyển được biến đổi thành vật chất sinh học qua quá
trình quang hợp của thực vật. Khi phân giải hoặc đốt cháy, cacbon quay trở lại
khí quyển hoặc đất. Vì vậy cacbon khí quyển được giữ ở mức tương đối ổn
định.
Năng lượng sinh khối (NLSK) là năng lượng được sản sinh từ nguồn SK.
Bản chất của NLSK là năng lượng Mặt trời được lưu giữ trong SK thông qua
quá trình quang hợp của cây cối để biến đổi CO
2
thành hiđratcacbon (đường,
tinh bột, xenlulô) là những hợp chất cấu tạo nên SK. Khi sử dụng các SK này
xảy ra quá trình giải phóng năng lượng tích trữ trong các hiđratcacbon và phát
thải CO
2
vào khí quyển.
SK bao gồm nhiều dạng như thức ăn động vật, rơm rạ, vỏ trấu, gỗ vụn,
chất thải từ thực phẩm ... và được phân thành 3 loại như trong Bảng 1.1
Bảng 1.1. Phân loại và các dạng sinh khối [3]
Phân loại Dạng
Nguồn từ mùa màng Thức ăn nuôi đông vật và cây tinh bột
Sinh khối chưa sử dụng Rơm, vỏ trấu, gỗ vụn và chất thải từ gỗ
Chất thải sinh khối
Chất thải từ giấy, phân động vật, chất thải từ
HỌC
NHIÊN
LIỆU
§èt ch¸y trùc tiÕp
Động cơ nhiệt
Biến đổi Đốt cháy
Động điện, máy phát điện
Pin nhiªn liÖu
Hình 1.1. Sơ đồ biến đổi nhiên liệu sinh khối [3]
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
Hình 1.2. Các con đường biến đổi sinh khối thành nhiên liệu [2]
Quá trình vật lý:
Thường sử dụng chất thải SK ở dạng gốc (vỏ dừa, chất hữu cơ phơi khô:
mùn cưa, vỏ trấu…) đóng bánh với đường kính viên ép là 55 ÷ 65 mm, trọng
lượng mỗi bánh từ 5 ÷ 50 kg. Chất lượng cháy, hiệu suất thu hồi nhiệt cao hơn
khi đốt củi hoặc đốt than hầm.
Về phương diện kinh tế giá thành vẫn còn cao so với đốt vật liệu trước khi
ép. Tuy nhiên, quá trình này tạo thuận lợi cho việc vận chuyển vì thể tích chất
phế thải được thu nhỏ.
Quá trình nhiệt hoá
- Đốt cháy: Đốt là quá trình xử lý biến đổi SK hoặc chất thải thành nhiệt và
hơi nước. Năng lượng được sản xuất ra thường chỉ là một sản phẩm thứ cấp bên
cạnh quá trình này. Mặt khác nhiệt và hơi nước sản xuất ra có thể biến đổi sang
điện hoặc được trực tiếp sử dụng như nguồn năng lượng. Các hệ thống đốt SK
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
5
Viên,bó, bánh
Đốt
nghiệp phát triển, chất thải rắn cũng được đốt để giảm lượng chất thải và sử
dụng năng lượng được tạo ra. Đây là công nghệ hiện đại vì vậy chi phí đầu tư
cao;
- Khí hoá: Nhiệt độ trong quá trình khí hoá tương đối cao. Lượng không
khí cung cấp vào quá trình này hạn chế (oxy hoá một phần) sẽ biến SK thành
nhiên liệu khí (50% là N, 20% là CO và 15% H
2
). Khí tạo ra với nhiệt trị thấp,
được sử dụng trong làm khô, kéo tuốcbin khí hoặc làm nhiên liệu cho động cơ
đốt trong;
- Nhiệt phân: Là quá trình biến đổi SK thành 3 phần: nhiên liệu lỏng, hỗn
hợp khí gọi là “khí phát sinh” và các chất thải rắn. Quá trình nhiệt phân SK với
nhiệt độ cao, mức độ oxy hoá thấp, không được cháy hoàn toàn do nhiệt phân
nhanh và phát sáng.
Quá trình sinh học
- Lên men rượu: Đường, cặn và các chất hữu cơ xenlulô được biến đổi nhờ
vi khuẩn và chuyển sang các sản phẩm có gốc rượu cồn. Sản phẩm êtanol tương
đối tinh khiết sau khi được chưng cất. Công nghệ này phát triển rộng vì rượu
được dùng phổ biến . Do đòi hỏi vốn đầu tư lớn và cần nhiều nguyên liệu đầu
vào nên công nghệ lên men chưa có hiệu quả cao;
- Phân giải yếm khí: Ủ chất thải trong hầm là một quá trình vi sinh tự nhiên
làm phân huỷ chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí (thiếu oxy). Điều này xảy ra
ở các hệ thống không được kiểm soát như trong các đống phế thải, các bãi rác
hoặc trong điều kiện có kiểm soát (như các lò khí sinh học, các bãi rác có kiểm
soát v.v…). Mục đích chính của công nghệ yếm khí là tạo ra khí năng lượng
cao (chứa đến 70% khí CH
4
); tạo ra phân và làm giảm ô nhiễm môi trường. Quá
trình yếm khí được sử dụng rộng rãi để xử lý nước thải công nghiệp và các chất
thải dạng bùn sệt, phân dùng trong nông nghiệp. Việc xử lý chất thải rắn (các
Hạn chế:
- Hiệu suất sinh năng lượng thấp (7 ÷ 11%) do công nghệ sản xuất cũng
như bản thân khả năng sinh năng lượng của các phụ phẩm SK;
- Phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, khí hậu;
- Việc thu gom tập trung và lưu trữ gặp khó khăn;
- Quá trình chuyển đổi năng lượng phức tạp;
- Chịu sức ép từ các nhu cầu sử dụng SK khác.
1.1.4. Hàm lượng nước và năng suất nhiệt của sinh khối
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
7
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
1.1.4.1. Hàm lượng nước của sinh khối và lựa chọn quá trình chuyển đổi
sinh khối
Hàm lượng nước trong SK được lấy từ polime tự nhiên. Giá trị hàm lượng
nước khác nhau rất lớn phụ thuộc vào loại SK (giấy: 20%, chất thải động vật,
chất cặn bã lên men rượu và bùn cống: 98 ÷ 99%).
Mối quan hệ giữa hàm lượng nước và năng suất nhiệt của SK được thể
hiện trên Hình 1.3. Hàm lượng nước trong gỗ tươi khoảng 50%, khi phơi khô
còn khoảng 30% và đến mức tối đa lượng nước còn khoảng 20%.
Hình 1.3. Hàm lượng nước và năng suất nhiệt của sinh khối [16]
Các SK có hàm lượng nước khác nhau có các quá trình chuyển đổi năng
lượng khác nhau (Hình 1.4). Đối với những SK khô (dưới 50%) có thể đốt trực
tiếp bằng lò hơi tạo hơi nước nóng để phát điện. Những SK có chứa hàm lượng
nước cao (trên 75%) như: chất thải động vật, chất cặn bã lên men rượu và bùn
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
8
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
cống hiệu quả sinh nhiệt thấp, nên phương pháp phổ biến hiện nay là quá trình
lên men êtanol và khí mêtan.
Hình 1.4. Lựa chọn quá trình chuyển đổi SK theo hàm lượng nước [15]
14 Vỏ dừa 40 9,8 2.341
15 Sọ dừa 13 17,9 4.276
16 Phân gia súc đóng thành bánh 12 12,0 2.867
17 Rơm rạ
12 ÷ 20 14,6 ÷ 15,0 3.488 ÷ 3.583
18 Mùn cưa (gỗ)
12 ÷ 20 18,5 ÷19,0 4.420 ÷ 4.778
19 Vỏ hạt điều
11 ÷12 24,0 ÷ 25,0
5.056
Nhiên liệu hoá thạch
1 Than antracie
5 ÷ 6
31,4 7.502
2 Than bitum
5 ÷ 6
29,3 7.000
3 Than nâu - 11,3 2.700
4 Than đá - 25 5.972
5 Khí đốt (gas) - 40 9.555
6 Dầu diezen - 35 8.361
Dưới đây là hình dạng và kích cỡ một số vật liệu sinh khối (Hình 1.6)
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
10
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
Hình 1.6. Hình dạng và kích cỡ một vài vật liệu sinh khối
1.2.Tình hình nghiên cứu và sử dụng sinh khối trên thế giới
Những nước phát triển trong nhiều năm qua đã và đang thực hiện những
chương trình rộng lớn về lĩnh vực phát triển các nguồn NLTT. Theo dự báo của
cơ quan năng lượng thế giới đến năm 2020 tỷ lệ các nguồn NLTT trong cân
đốt cháy khác nhau đối với hàng loạt nhiên liệu với các đặc tính cơ lý khác biệt
nhau và nhiệt trị khác nhau.
Tình hình sản xuất điện sinh học trên thế giới
Do sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ điện năng đồng thời dần cạn kiệt các nguồn
năng lượng như than, dầu mỏ ..., các nước trên thế giới đều hết sức quan tâm
đến các nguồn NLTT. Tại Hội nghị quốc tế về các nguồn năng lượng mới tổ
chức tại Bon (Đức), tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của LHQ (FAO) cho
rằng nên sử dụng các nguồn năng lượng sinh học (than củi, bã mía, rơm rạ, vỏ
trấu, các chất dư thừa không dùng đến của nông nghiệp và lâm nghiệp..) nhằm
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
12
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
tạo ra nhiệt lượng, khí gas, dầu sinh học, điện sinh học và gas sinh học. Ước
tính tới năm 2020, sản lượng điện sinh học của thế giới là hơn 30.000 MW.
Hiện nay, trên thế giới có 3 phương pháp biến đổi thành điện sinh khối:
1. Sản xuất điện SK là việc sử dụng SK (biomass) để tạo ra điện năng.
Phần lớn các nhà máy điện sinh học trên thế giới sử dụng hệ thống đốt SK trực
tiếp để tạo hơi nước làm quay tuốc bin và sản sinh thành điện nhờ máy phát
điện;
2. Loại sản xuất điện SK thứ hai cũng được quan tâm nhiều do có thể sử
dụng các hệ thống đồng đốt cháy liên quan tới việc sử dụng SK như một nguồn
năng lượng bổ sung trong các nồi hơi hiệu quả cao cho các nhà máy điện đốt
than;
3. Loại thứ ba được quan tâm là hệ thống khí hoá sử dụng nhiệt độ cao và
môi trường hiếm oxy để biến SK thành khí sinh học (hỗn hợp gồm hydro, CO
và metan) để cung cấp nhiên liệu cho tuốc bin khí để sản xuất điện năng. Cũng
có một số nhà máy điện sử dụng chu trình khác. Chẳng hạn, như nhiên liệu SK
được biến thành các loại khí đốt điều áp, nóng với không khí trong buồng khí
hoá và sau đó được đưa vào tuốc bin để sản xuất điện.
Mỹ hiện đang là nước sản xuất điện từ SK lớn nhất thế giới. Hơn 350 nhà
10.000 tấn rơm làm vật liệu cách nhiệt. Có tới 50% sản lượng rơm của Trung
Quốc được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất giấy. Có những thời kỳ, trấu cung
cấp tới 80% năng lượng cho các hệ thống sấy nông sản của Trung Quốc (1 kg
trấu tương đương với 0,23 lít dầu diesel), 50% sản lượng trấu được nghiền nhỏ dùng
làm phối liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Trung Quốc.
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
14
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
1.3.Tình hình nghiên cứu sử dụng sinh khối trong nước
1.3.1. Tiềm năng SK của Việt Nam
Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi với khí hậu nhiệt đới gió mùa,
đây là điều kiện tốt cho sự phát triển của các loài thực vật. Việt Nam cũng là
một nước nông nghiệp nên nguồn SK từ phụ phẩm nông nghiệp phong phú, dồi
dào (Bảng 1.4 và Bảng 1.5).
Bảng 1.4. Tiềm năng năng lượng từ gỗ
Nguồn cung cấp
Tiềm năng
(triệu tấn)
Dầu tương đương
(triệu toe)
Tỷ lệ
(%)
Rừng tự nhiên 6,842 2,390 27,2
Rừng trồng 3,718 1,300 14,8
Đất không rừng 3,850 1,350 15,4
Cây trồng phân tán 6,050 2,120 24,1
Cây công nghiệp & ăn quả 2,400 0,840 9,6
Phế liệu gỗ 1,649 0,580 6,6
TỔNG 25,090 8,780 100,0
( Nguồn: Viện năng lượng Việt Nam, 2005)
Năng lượng cuối cùng Tổng tiêu thụ (koe) Tỷ lệ (%)
Nhiệt
Bếp đun 10667 76,2
Lò nung 903 6,5
Lò đốt 2053 14,7
Điện Đồng phát 377 2,7
Tổng 14000 100,0
Việc sử dụng SK ở Việt Nam đang ngày càng được quan tâm và phát
triển trong một số lĩnh vực như:
o Sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ: hầu hết dùng các lò tự thiết kế
theo kinh nghiệm, đốt bằng củi hoặc trấu, chủ yếu ở phía Nam;
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Năm
Tổng tiêu thụ
năng lượng
trong năm (koe)
Tiêu thụ năng
lượng (koe)
Tỷ lệ trong tổng
năng lượng (%)
Gỗ củi Tổng SK Gỗ củi Tổng SK
1985 14.286 4.748 10.766 33 75
1986 14.976 5.086 11.069 34 74
1987 15.929 5.280 11.492 33 72
1988 15.683 5.355 11.655 34 74
1989 15.904 5.532 12.039 35 75
1990 16.879 5.693 12.390 34 73
1991 17.108 5.830 12.678 34 74
1992 18.026 6.339 12.938 35 71
1993 19.312 7.030 13.564 36 70
Lúa xuân-Lúa mùa-Ngô đông (Bắc Giang, Hà Tây, Nghệ An) và (2)
Lúa đông xuân-Lúa xuân hè-Lúa hè thu (Khánh Hoà, Cần Thơ). Vùi
phụ phẩm nông nghiệp đã cải thiện độ phì nhiêu đất (hàm lượng chất
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
17
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
hữu cơ, đạm, lân và kali dễ tiêu, dung tích hấp thu, thành phần cơ giới,
độ xốp, độ ẩm, vi sinh vật tổng số, vi sinh vật phân giải xenlulô, vi sinh
vật phân giải lân và vi sinh vật cố định đạm), đã tăng năng suất 6-12%
so với không vùi. Vùi phụ phẩm nông nghiệp có thể thay thế lượng
phân chuồng cần bón cho cây trồng trong cơ cấu có lúa; giảm được
20% lượng phân đạm, lân và 30% lượng phân kali mà năng suất vẫn
không giảm so với không vùi phụ phẩm. Hiệu quả kinh tế tương đương
với bón đầy đủ phân chuồng và phân khoáng NPK và cao hơn 5% so
với chỉ bón phân khoáng NPK, lợi nhuận tăng 5-12% so với không vùi
phụ phẩm. Trước khi vùi cho lúa xuân, thân lá ngô phải cho vào máy
cắt dài 5 cm và truớc khi ủ cần bổ sung thêm 20 kg vôi và 1 kg urê/tấn
thân lá ngô tươi. Thân lá ngô tươi được ủ với chế phẩm vi sinh trong
thời gian 25 ngày sau đó mới đem vùi. Vùi kỹ sau 20-25 ngày thì có
thể cấy lúa. Cũng như phụ phẩm của cây ngô nếu vùi rơm rạ cho lúa thì
cũng cần bón thêm 20 kg vôi + 1 kg urê/1 tấn rơm rạ tươi khi gặt. Vùi
kỹ sau 20-25 ngày có thể cấy. Vùi rơm rạ cho ngô đông cần thêm chế
phẩm vi sinh vật +20 kg vôi + 1 kg urê/1 tấn rơm rạ tươi khi gặt.
Dự kiến, Việt Nam sẽ phấn đấu để tỷ lệ NLTT chiếm khoảng 3% tổng
công suất điện năng tới năm 2010 và 6% vào năm 2030.
Hiện cả nước có trên 250.000 cơ sở chế biến nông, lâm, thủy sản. Tuy
nhiên, kinh phí cho đầu tư phát triển năng lượng dùng trong khâu làm khô, chế
biến nông – lâm - thuỷ sản còn rất khan hiếm. Hàng năm ngành lâm nghiệp
nước ta khai thác, chế biến 1,4 triệu m
3
khách hàng trong khu công nghiệp theo hệ thống đường ống phi 300 dài
3.000m. Giai đoạn 2 hoàn thành cuối năm 2009, phát thêm 2 MW điện. Giai
đoạn 3 hoàn thành năm 2010, nâng sản lượng điện lên 70 MW.
Năm 2008, Công ty Topec BV thuộc Tập đoàn Pon của Hà Lan và Trung
tâm Nghiên cứu – Phát triển về tiết kiệm năng lượng Thành phố Hồ Chí Minh
vừa báo cáo về Dự án nghiên cứu khả thi xây dựng nhà máy đốt bằng trấu tại
huyện Thốt Nôt. Theo đó, các đơn vị đề nghị Thành phố Cần Thơ chọn địa bàn
huyện Thốt Nốt để xây dựng nhà máy điện từ trấu với công suất 10 MW, sau đó
mới tiến hành xây dựng thêm một nhà máy khác ở Thái Lai, vì những khu vực
này có nhiều trấu và cần nhiều điện năng để phát triển sản xuất. Dự kiến, việc
đầu tư xây dựng nhà mày này cần từ 11 triệu đến 14 triệu euro và mặt bằng
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
19
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
rộng khoảng 5 ha và sẽ hoàn vốn sau 6,5 năm đi vào hoạt động nhờ việc bán
điện, bán tro trấu và bán chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính theo Nghị định
thư Kyoto. Tuy nhiên, do bối cảnh nền kinh tế bị lạm phát nên dự định năm
2008 chưa được thực hiện.
1.4. Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển nguồn NLSK ở Việt Nam
1.4.1. Cơ hội
Tiềm năng lớn chưa được khai thác
• Việt Nam là một nước nhiệt đới nhiều nắng và mưa nên SK phát triển
nhanh;
• Ba phần tư lãnh thổ là đất rừng nên tiềm năng phát triển gỗ lớn;
• Là một nước nông nghiệp nên nguồn phụ phẩm nông nghiệp phong
phú. Nguồn này ngày càng tăng trưởng cùng với việc phát triển nông
nghiệp và lâm nghiệp.
Nhu cầu ngày càng phát triển
• Cùng với sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước, nhu cầu ứng
dụng các công nghệ NLSK ngày càng phát triển;
Một trong những điều không biết chắc được khi phát triển NLSK là sự
cạnh tranh về nguyên liệu. Thí dụ:
• Rơm rạ còn làm thức ăn cho trâu bò;
• Giấy phế liệu có thể tái chế;
• Gỗ phế liệu và mùn cưa có thể làm gỗ ép;
• Ngô khoai, sắn để sản xuất etanol, đậu tương, lạc, vừng, dừa... để sản
xuất biođiezen còn dùng làm lương thực, thực phẩm cho người và gia
súc.
Sự cạnh tranh về chi phí của các công nghệ
• Hiện nay nhiều công nghệ SK còn đắt hơn công nghệ truyền thống sử
dụng nhiên liệu hoá thạch cả về trang thiết bị lẫn nguyên liệu;
• Việt Nam còn là một nước nghèo nên thiếu kinh phí đầu tư phát triển
công nghệ mới. Thí dụ bếp đun cổ truyền hiệu suất thấp nhưng đầu tư
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
21
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
không đáng kể, đôi khi bằng không, trong khi đầu tư để có một bếp cải
tiến phải tốn vài chục nghìn đồng.
Trở ngại về môi trường
NLSK có một số tác động môi trường:
- Khi đốt, các nguốn SK phát thải vào không khí bụi và khí sunfurơ
(SO
2
). Mức độ phát thải tuỳ thuộc vào nguyên liệu SK, công nghệ và
biện pháp kiểm soát ô nhiễm;
- Việc phát triển quy mô lớn các cây năng lượng để sản xuất nhiên liệu
sinh học (biofue) có thể dẫn tới gia tăng sử dụng thuốc trừ sâu và phân
bón, gây tác hại đối với động vật hoang dã và môi trường sống;
- Sản xuất năng lượng từ gỗ có thể gây thêm áp lực cho rừng…
Đây là tất cả những vấn đề cần xem xét kỹ lưỡng khi phát triển NLSK.
’
độ vĩ Bắc, 106
0
03
’
đến 106
0
38’ độ kinh
Đông.
Hình 1.7. Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương
1.5.2. Điều kiện tự nhiên
Hải Dương là một tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc với
tổng diện tích tự nhiên 165.185 ha, được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng
đồng bằng. Vùng đồi núi chiếm 11% diện tích, gồm 13 xã thuộc huyện Chí
Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; đây là vùng đồi núi thấp phù hợp với
việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày. Vùng đồng
bằng còn lại chiếm 89% diện tích (trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm
63,1%); đất đai ở đây màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng.
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
23
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ, lượng
mưa, số giờ nắng và độ ẩm tương đối trung bình hàng năm tương ứng là: 23
0
C;
1.500 ÷ 1.700 mm; 1.524 giờ và 85 ÷ 87%. Khí hậu thời tiết của Hải Dương
thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Tài nguyên khoáng sản của Hải Dương không đa dạng về chủng loại,
nhưng có một số loại trữ lượng tương đối lớn, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu
phát triển công nghiệp như: đá vôi ở huyện Kinh Môn (trữ lượng 200 triệu tấn,
từ 21 ÷ 26,6%) , SiO
2
từ 6,4 ÷ 8,9%).
1.5.3. Đặc điểm kinh tế - x ã hội của tỉnh Hải Dương
1.5.3.1. Dân số, lao động
Bảng 1.9. Dân số trung bình tỉnh Hải Dương giai đoạn 1998
÷
2007 [22]
Năm 1998 1999 2000 2001 2002
Dân số (nghìn người) 1.641,3 1.651,0 1.663,1 1.670,8 1.684,2
Năm 2003 2004 2005 2006 2007
Dân số (nghìn người) 1.689,2 1.698,3 1.710,6 1.722,2 1.732,8
Do có nhiều khu công nghiệp được xây dựng, nên nhu cầu nhân lực ở
Hải Dương ngày càng tăng.
1.5.3.2. Thực trạng chung về kinh tế, xã hội
Tăng trưởng kinh tế của Hải Dương luôn duy trì ổn định ở mức cao, đạt
bình quân cả giai đoạn 1996 – 2000 là 9,2%, giai đoạn 2001 – 2005 là 10,5%.
Trong đó nông nghiệp, lâm, thuỷ sản tăng 4,8%; công nghiêp – xây dựng tăng
21,30%/năm và dịch vụ tăng 11,80%/năm (Bảng 1.10).
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
24
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
Bảng 1.10. Tăng trưởng GDP giai đoạn 1996
÷
2005
Đơn vị: %
Chỉ tiêu
1996 – 2000 2001 – 2005
Cả nước Hải Dương Cả nước Hải Dương
Tổng GDP 6,95 9,20 7,40 10,50
25