Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Phân loại và các dạng sinh khối......................................................3
Bảng 1.2. Năng lượng sinh khối so với các nguồn năng lượng tái tạo khác...7
Bảng 1.3. Năng suất sinh nhiệt của nhiên liệu SK và nhiên liệu hoá thạch....10
Bảng 1.4. Tiềm năng gỗ năng lượng..............................................................15
Bảng 1.5. Tiềm năng phụ phẩm nông nghiệp.................................................15
Bảng 1.6. Vai trò của năng lượng sinh khối trong tổng tiêu thụ năng lượng......16
Bảng 1.7. Sử dụng sinh khối theo lĩnh vực....................................................16
Bảng 1.8. Sử dụng sinh khối theo năng lượng cuối cùng...............................16
Bảng 1.9. Dân số trung bình tỉnh Hải Dương qua các năm từ 1995 ÷ 2007. .24
Bảng 1.10. Tăng trưởng GDP giai đoạn 1996 ÷ 2005.....................................24
Bảng 3.1. Diện tích đất của tỉnh Hải Dương..................................................32
Bảng 3.2. Diện tích đất sử dụng trong nông nghiệp của tỉnh Hải Dương.......32
Bảng 3.3. Diện tích, cơ cấu đất đai năm 2010................................................33
Bảng 3.4. Diện tích lúa qua các năm 1995 ÷ 2008..........................................34
Bảng 3.5. Năng suất, sản lượng lúa qua các năm 1995 ÷ 2008.......................35
Bảng 3.6. Năng suất, sản lượng lúa dự đoán năm 2010..................................36
Bảng 3.7. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa vụ đông xuân ở một số địa phương
trong tỉnh năm 2008..........................................................................................36
Bảng 3.8. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa vụ mùa ở một số địa phương trong
tỉnh năm 2008...................................................................................................37
Bảng 3.9. Cơ cấu giống, lúa giống vụ Đông Xuân 2008.................................38
Bảng 3.10. Cơ cấu giống, lúa giống vụ Mùa 2008..........................................40
Bảng 3.11. Diện tích, năng suất, sản lượng canh tác ngô qua các năm 1995 ÷
2008 và dự đoán năm 2010.............................................................................41
Bảng 3.12. Diện tích, năng suất, sản lượng canh tác ngô vụ Đông Xuân phân bố
theo huyện và thành phố Hải Dương...............................................................42
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
1
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
Bảng 3.24. Thành phần tro trấu trong quá trình đốt theo công nghệ truyền thống
và công nghệ FBC...........................................................................................59
Bảng 3.25. Lượng khí thải khi đốt phụ phẩm cây lúa và than đá....................60
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
2
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. So sánh hàm lượng khí CH
4
trong không khí ở các giai đoạn phát
triển của cây lúa...............................................................................................55
Biểu đồ 3.2. So sánh nồng độ khí CH
4
trong không khí theo vụ canh tác.....55
Biểu đồ 3.3. So sánh hàm lượng khí CO trong không khí ở các giai đoạn khác
nhau.................................................................................................................56
Biểu đồ 3.4. So sánh hàm lượng khí CO trong không khí theo vụ canh tác...57
Biểu đồ 3.5. So sánh hàm lượng khí CO
2
trong không khí ở các giai đoạn khác
nhau.........................................................................................................58
Biểu đồ 3.6. So sánh hàm lượng khí CO
2
trong không khí theo vụ canh tác..58
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Sơ đồ biến đổi nhiên liệu sinh khối .................................................4
Hình 1.2. Các con đường biến đổi sinh khối thành nhiên liệu.........................5
Hình 1.3. Hàm lượng nước và năng suất nhiệt của sinh khối…………….......8
Hình 1.4. Lựa chọn quá trình chuyển đổi sinh khối bằng hàm lượng
nước………………………………………………………………………...…9
Việt Nam luôn nằm trong tốp các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Trong
quá trình canh tác nông nghiệp, bên cạnh các sản phẩm chính luôn tạo ra một
lượng lớn phụ phẩm. Nếu không được quản lý tốt nguồn phụ phẩm này chúng
sẽ biến thành lượng rác thải rất lớn và gây ô nhiễm môi trường.
Việc áp dụng đưa nguồn NLSK vào sử dụng không chỉ thay thế nguồn
năng lượng hoá thạch mà còn góp phần xử lý chất thải rắn trong môi trường
hiện nay.
Mặc dù ngành điện lực đã có rất nhiều cố gắng để cải thiện nhu cầu năng
lượng phục vụ sinh hoạt và sản xuất, nhưng tình trạng thiếu điện trên toàn quốc,
ở Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
4
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
Do đó, việc nghiên cứu và đưa ra phương án hợp lý để sử dụng hiệu quả
các phụ phẩm sinh khối trong nông nghiệp làm nguồn năng lượng là rất cần
thiết, không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng mà còn làm giảm sức ép
đến môi trường.
Hải Dương là tỉnh có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc phát triển
nông nghiệp do đó lượng phụ phẩm nông nghiệp cũng rất lớn. Tuy nhiên, cho
tới nay chưa có một nghiên cứu nào thống kê cụ thể về số lượng, thành phần, và
đặc biệt là nghiên cứu đề xuất phương án sử dụng nguồn sinh khối này một
cách hiệu quả.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đánh giá
tiềm năng và phương án công nghệ sử dụng năng lượng sinh khối các phụ
phẩm nông nghiệp tỉnh Hải Dương” với mục tiêu: Đánh giá tiềm năng NLSK
các phụ phẩm nông nghiệp sau thu hoạch từ canh tác lúa (trấu, rơm, rạ), từ sản
xuất ngô (thân, lá, lõi bắp) và từ sản xuất lạc (thân, lá, vỏ củ) trên địa bàn tỉnh
Hải Dương; trên cơ sở đó đề xuất phương án công nghệ sử dụng hiệu quả nguồn
năng lượng sinh khối này.
Nội dung chính của luận văn bao gồm:
tinh bột, xenlulô) là những hợp chất cấu tạo nên SK. Khi sử dụng các SK này
xảy ra quá trình giải phóng năng lượng tích trữ trong các hiđratcacbon và phát
thải CO
2
vào khí quyển.
SK bao gồm nhiều dạng như thức ăn động vật, rơm rạ, vỏ trấu, gỗ vụn,
chất thải từ thực phẩm ... và được phân thành 3 loại như trong Bảng 1.1
Bảng 1.1. Phân loại và các dạng sinh khối [3]
Phân loại Dạng
Nguồn từ mùa màng Thức ăn nuôi đông vật và cây tinh bột
Sinh khối chưa sử dụng Rơm, vỏ trấu, gỗ vụn và chất thải từ gỗ
Chất thải sinh khối
Chất thải từ giấy, phân động vật, chất thải từ
thực phẩm, chất thải từ xây dựng, chất thải
lỏng và bùn cống
Trong cách dùng phổ biến hiện nay, hiểu theo nghĩa nhiên liệu thì sinh
khối (biomas) là nhiên liệu rắn trên cơ sở SK, còn nhiên liệu sinh học (biofuel) là
những nhiên liệu lỏng được lấy từ SK và khí sinh học (biogas) là sản phẩm của
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
6
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
quá trình phân giải yếm khí của các chất hữu cơ. Trong luận văn này chỉ đề cập
đến nhiên liệu rắn từ các phụ phẩm của một số cây trồng.
1.1.2. Những con đường biến đổi sinh khối
Các nhiên liệu SK được sử dụng theo 2 con đường (Hình 1.1) đó là:
oĐốt cháy trực tiếp để sinh nhiệt và điện;
oBiến đổi thành những loại nhiên liệu khác tiện dụng hơn.
• Nguồn SK rất đa dạng và phong phú vì vậy công nghệ NLSK cũng rất đa
dạng. Các công nghệ NLSK có thể được chia làm 2 loại:
- Công nghệ biến đổi trực tiếp SK thành năng lượng hữu ích như việc đốt
Về phương diện kinh tế giá thành vẫn còn cao so với đốt vật liệu trước khi
ép. Tuy nhiên, quá trình này tạo thuận lợi cho việc vận chuyển vì thể tích chất
phế thải được thu nhỏ.
Quá trình nhiệt hoá
- Đốt cháy: Đốt là quá trình xử lý biến đổi SK hoặc chất thải thành nhiệt và
hơi nước. Năng lượng được sản xuất ra thường chỉ là một sản phẩm thứ cấp bên
cạnh quá trình này. Mặt khác nhiệt và hơi nước sản xuất ra có thể biến đổi sang
điện hoặc được trực tiếp sử dụng như nguồn năng lượng. Các hệ thống đốt SK
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
8
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
chủ yếu được thiết kế cho gỗ và phụ phẩm nông nghiệp. Trong nhiều nước công
nghiệp phát triển, chất thải rắn cũng được đốt để giảm lượng chất thải và sử
dụng năng lượng được tạo ra. Đây là công nghệ hiện đại vì vậy chi phí đầu tư
cao;
- Khí hoá: Nhiệt độ trong quá trình khí hoá tương đối cao. Lượng không
khí cung cấp vào quá trình này hạn chế (oxy hoá một phần) sẽ biến SK thành
nhiên liệu khí (50% là N, 20% là CO và 15% H
2
). Khí tạo ra với nhiệt trị thấp,
được sử dụng trong làm khô, kéo tuốcbin khí hoặc làm nhiên liệu cho động cơ
đốt trong;
- Nhiệt phân: Là quá trình biến đổi SK thành 3 phần: nhiên liệu lỏng, hỗn
hợp khí gọi là “khí phát sinh” và các chất thải rắn. Quá trình nhiệt phân SK với
nhiệt độ cao, mức độ oxy hoá thấp, không được cháy hoàn toàn do nhiệt phân
nhanh và phát sáng.
Quá trình sinh học
- Lên men rượu: Đường, cặn và các chất hữu cơ xenlulô được biến đổi nhờ
vi khuẩn và chuyển sang các sản phẩm có gốc rượu cồn. Sản phẩm êtanol tương
đối tinh khiết sau khi được chưng cất. Công nghệ này phát triển rộng vì rượu
Nguồn năng lượng
Mặt trời Gió Sinh khối
Tổng đầu tư (triệu USD) 1.830 12.700 6.300
Quy mô nhà máy (kW) 1.000.000 10.000.000 10.000.000
Tỷ lệ hoạt động hàng năm (%) 12 20 70
Công suất điện phát hàng năm
(M kw/h)
1.100 17.500 61.300
Đơn vị đầu tư (USD/kW)
1,66 0,72 0,1
Hạn chế:
- Hiệu suất sinh năng lượng thấp (7 ÷ 11%) do công nghệ sản xuất cũng
như bản thân khả năng sinh năng lượng của các phụ phẩm SK;
- Phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết, khí hậu;
- Việc thu gom tập trung và lưu trữ gặp khó khăn;
- Quá trình chuyển đổi năng lượng phức tạp;
- Chịu sức ép từ các nhu cầu sử dụng SK khác.
1.1.4. Hàm lượng nước và năng suất nhiệt của sinh khối
1.1.4.1. Hàm lượng nước của sinh khối và lựa chọn quá trình chuyển đổi
sinh khối
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
10
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
Hàm lượng nước trong SK được lấy từ polime tự nhiên. Giá trị hàm lượng
nước khác nhau rất lớn phụ thuộc vào loại SK (giấy: 20%, chất thải động vật,
chất cặn bã lên men rượu và bùn cống: 98 ÷ 99%).
Mối quan hệ giữa hàm lượng nước và năng suất nhiệt của SK được thể
hiện trên Hình 1.3. Hàm lượng nước trong gỗ tươi khoảng 50%, khi phơi khô
còn khoảng 30% và đến mức tối đa lượng nước còn khoảng 20%.
Hình 1.3. Hàm lượng nước và năng suất nhiệt của sinh khối [16]
4 Gỗ thật khô 0 20,0 4.778
5 Bã mía (với độ ẩm cao) 50 8,2 1.960
6 Bã mía (khô) 13 16,2 3.870
7 Than củi 5 29,0 6.928
8 Vỏ cà phê (khô) 12 16,0 3.823
9 Vỏ trấu (khô) 9 14,4 3.440
10 Vỏ lúa mì 12 15,2 3.631
11 Thân cây ngô 12 14,7 3.512
12 Lõi, bẹ ngô 11 15,4 3.679
13 Thân, vỏ lạc (khô) 12 14,3 3.415
14 Vỏ dừa 40 9,8 2.341
15 Sọ dừa 13 17,9 4.276
16 Phân gia súc đóng thành bánh 12 12,0 2.867
17 Rơm rạ
12 ÷ 20 14,6 ÷ 15,0 3.488 ÷ 3.583
18 Mùn cưa (gỗ)
12 ÷ 20 18,5 ÷19,0 4.420 ÷ 4.778
19 Vỏ hạt điều
11 ÷12 24,0 ÷ 25,0
5.056
Nhiên liệu hoá thạch
1 Than antracie
5 ÷ 6
31,4 7.502
2 Than bitum
5 ÷ 6
29,3 7.000
3 Than nâu - 11,3 2.700
4 Than đá - 25 5.972
5 Khí đốt (gas) - 40 9.555
thiết bị hoạt động với hiệu suất cao, có tính linh hoạt hơn khi thay đổi các chế
độ hoạt động của các thiết bị sử dụng nhiệt, ô nhiễm môi trường ít hơn và ít đòi
hỏi về chất lượng nhiên liệu.
Ở Liên Bang Nga: những công tác thử nghiệm chủ yếu về đốt các phế liệu
thảo mộc đã được tiến hành trên thiết bị thí nghiệm công suất 0,3 ÷ 0,5MW với
thiết bị buồng đốt thử nghiệm công nghiệp công suất gần 1,5MW tại công ty
nông nghiệp “Kavkaz” thuộc vùng Krasnodar và tại trạm thử nghiệm thuộc
Viện Cơ giới hoá nông nghiệp L.B.Nga ở thành phố Armavir. Thiết bị buồng
đốt công suất 1,5MW đã được nghiên cứu triển khai làm mẫu thử đầu tiên cho
các thiết bị công suất lớn hơn (tới 5MW) và đã cho phép thực hiện các chế độ
đốt cháy khác nhau đối với hàng loạt nhiên liệu với các đặc tính cơ lý khác biệt
nhau và nhiệt trị khác nhau.
Tình hình sản xuất điện sinh học trên thế giới
Do sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ điện năng đồng thời dần cạn kiệt các nguồn
năng lượng như than, dầu mỏ ..., các nước trên thế giới đều hết sức quan tâm
đến các nguồn NLTT. Tại Hội nghị quốc tế về các nguồn năng lượng mới tổ
chức tại Bon (Đức), tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của LHQ (FAO) cho
rằng nên sử dụng các nguồn năng lượng sinh học (than củi, bã mía, rơm rạ, vỏ
trấu, các chất dư thừa không dùng đến của nông nghiệp và lâm nghiệp..) nhằm
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
15
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
tạo ra nhiệt lượng, khí gas, dầu sinh học, điện sinh học và gas sinh học. Ước
tính tới năm 2020, sản lượng điện sinh học của thế giới là hơn 30.000 MW.
Hiện nay, trên thế giới có 3 phương pháp biến đổi thành điện sinh khối:
1. Sản xuất điện SK là việc sử dụng SK (biomass) để tạo ra điện năng.
Phần lớn các nhà máy điện sinh học trên thế giới sử dụng hệ thống đốt SK trực
tiếp để tạo hơi nước làm quay tuốc bin và sản sinh thành điện nhờ máy phát
điện;
2. Loại sản xuất điện SK thứ hai cũng được quan tâm nhiều do có thể sử
đến công nghiệp sinh khối có thể đạt đến 300 tỷ yên ở Nhật.
Một số ứng dụng khác
Cộng hoà Ấn độ: có diện tích đất canh tác là 99.972.000 ha, chiếm 57% diện
tích đất tự nhiên, là một nước có sản lượng nông nghiệp tương đối cao nên phụ
phẩm sau thu hoạch rất nhiều. Tuy nhiên, Ấn Độ có một số biện pháp tái sử
dụng phụ phẩm nông nghiệp như: Rơm làm ván xây dựng, làm đệm lót bao bì
đóng gói. Trấu được dùng làm nguyên liệu sản xuất axit pripionic, phenol,
cresol, glucose, silicol carbie. Rơm, trấu cũng được sử dụng làm chất đốt sinh
hoạt, làm thức ăn cho gia súc, sản xuất phân bón.
Trung Quốc: hàng năm, ngành công nghiệp luyện kim Trung Quốc sử dụng
10.000 tấn rơm làm vật liệu cách nhiệt. Có tới 50% sản lượng rơm của Trung
Quốc được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất giấy. Có những thời kỳ, trấu cung
cấp tới 80% năng lượng cho các hệ thống sấy nông sản của Trung Quốc (1 kg
trấu tương đương với 0,23 lít dầu diesel), 50% sản lượng trấu được nghiền nhỏ dùng
làm phối liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Trung Quốc.
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
17
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
1.3.Tình hình nghiên cứu sử dụng sinh khối trong nước
1.3.1. Tiềm năng SK của Việt Nam
Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi với khí hậu nhiệt đới gió mùa,
đây là điều kiện tốt cho sự phát triển của các loài thực vật. Việt Nam cũng là
một nước nông nghiệp nên nguồn SK từ phụ phẩm nông nghiệp phong phú, dồi
dào (Bảng 1.4 và Bảng 1.5).
Bảng 1.4. Tiềm năng năng lượng từ gỗ
Nguồn cung cấp
Tiềm năng
(triệu tấn)
Dầu tương đương
(triệu toe)
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
(Bảng 1.6). Việc sử dụng NLSK theo lĩnh vực và theo năng lượng cuối cùng
được đưa ra trong Bảng 1.7 và Bảng 1.8.
Bảng 1.6. Vai trò của năng lượng sinh khối trong tổng tiêu thụ năng lượng [3]
Bảng 1.7. Sử dụng sinh khối theo lĩnh vực [3]
Lĩnh vực Tổng tiêu thụ (koe) Tỷ lệ (%)
Gia đình 10667 76,2
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 3333 23,8
Tổng 14000 100,0
Bảng 1.8. Sử dụng sinh khối theo năng lượng cuối cùng [3]
Năng lượng cuối cùng Tổng tiêu thụ (koe) Tỷ lệ (%)
Nhiệt
Bếp đun 10667 76,2
Lò nung 903 6,5
Lò đốt 2053 14,7
Điện Đồng phát 377 2,7
Tổng 14000 100,0
Việc sử dụng SK ở Việt Nam đang ngày càng được quan tâm và phát
triển trong một số lĩnh vực như:
o Sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ: hầu hết dùng các lò tự thiết kế theo
kinh nghiệm, đốt bằng củi hoặc trấu, chủ yếu ở phía Nam;
o Sản xuất đường: tận dụng bã mía để đồng phát nhiệt và điện ở tất cả 43
nhà máy đường trong cả nước với trang thiết bị nhập từ nước ngoài. Mới đây
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Năm
Tổng tiêu thụ
năng lượng
trong năm (koe)
Tiêu thụ năng
lượng (koe)
vững” đã tinh chế phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn năng lượng sinh học;
o Viện Thổ nhưỡng và Nông hóa: đã nghiên cứu sử dụng phụ phẩm nông
nghiệp trong cơ cấu cây trồng có lúa nhằm nâng cao độ phì nhiêu đất, giảm sử
dụng phân khoáng khi mà giá phân bón ngày càng tăng. Các nghiên cứu được
tiến hành trên các loại đất: bạc màu, cát biển, đất phù sa [Sông Hồng, sông Dinh
(Khánh Hoà), sông Cửu Long (trên nền phèn-tại Cần Thơ)] đối với 2 cơ cấu
trong hệ thống cây trồng có lúa: (1) Lúa xuân-Lúa mùa-Ngô đông (Bắc Giang,
Hà Tây, Nghệ An) và (2) Lúa đông xuân-Lúa xuân hè-Lúa hè thu (Khánh Hoà,
Cần Thơ). Vùi phụ phẩm nông nghiệp đã cải thiện độ phì nhiêu đất (hàm lượng
chất hữu cơ, đạm, lân và kali dễ tiêu, dung tích hấp thu, thành phần cơ giới, độ
xốp, độ ẩm, vi sinh vật tổng số, vi sinh vật phân giải xenlulô, vi sinh vật phân
giải lân và vi sinh vật cố định đạm), đã tăng năng suất 6-12% so với không vùi.
Vùi phụ phẩm nông nghiệp có thể thay thế lượng phân chuồng cần bón cho cây
trồng trong cơ cấu có lúa; giảm được 20% lượng phân đạm, lân và 30% lượng
phân kali mà năng suất vẫn không giảm so với không vùi phụ phẩm. Hiệu quả
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
20
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
kinh tế tương đương với bón đầy đủ phân chuồng và phân khoáng NPK và cao
hơn 5% so với chỉ bón phân khoáng NPK, lợi nhuận tăng 5-12% so với không
vùi phụ phẩm. Trước khi vùi cho lúa xuân, thân lá ngô phải cho vào máy cắt dài
5 cm và truớc khi ủ cần bổ sung thêm 20 kg vôi và 1 kg urê/tấn thân lá ngô
tươi. Thân lá ngô tươi được ủ với chế phẩm vi sinh trong thời gian 25 ngày sau
đó mới đem vùi. Vùi kỹ sau 20-25 ngày thì có thể cấy lúa. Cũng như phụ phẩm
của cây ngô nếu vùi rơm rạ cho lúa thì cũng cần bón thêm 20 kg vôi + 1
kg urê/1 tấn rơm rạ tươi khi gặt. Vùi kỹ sau 20-25 ngày có thể cấy. Vùi rơm rạ
cho ngô đông cần thêm chế phẩm vi sinh vật +20 kg vôi + 1 kg urê/1 tấn rơm
rạ tươi khi gặt.
Dự kiến, Việt Nam sẽ phấn đấu để tỷ lệ NLTT chiếm khoảng 3% tổng
công suất điện năng tới năm 2010 và 6% vào năm 2030.
2
đất, với tổng số vốn đầu
từ là 70 tỷ đồng. Đây là nhà máy sử dụng nguyên liệu trấu để tạo hơi nước và
điện thương phẩm đầu tiên ở ĐBSCL. Nhà máy được xây dựng theo 3 giai
đoạn: Giai đoạn 1 hoàn thành cuối tháng 1/2008 phát 20 tấn hơi/giờ để bán cho
khách hàng trong khu công nghiệp theo hệ thống đường ống phi 300 dài
3.000m. Giai đoạn 2 hoàn thành cuối năm 2009, phát thêm 2 MW điện. Giai
đoạn 3 hoàn thành năm 2010, nâng sản lượng điện lên 70 MW.
Năm 2008, Công ty Topec BV thuộc Tập đoàn Pon của Hà Lan và Trung
tâm Nghiên cứu – Phát triển về tiết kiệm năng lượng Thành phố Hồ Chí Minh
vừa báo cáo về Dự án nghiên cứu khả thi xây dựng nhà máy đốt bằng trấu tại
huyện Thốt Nôt. Theo đó, các đơn vị đề nghị Thành phố Cần Thơ chọn địa bàn
huyện Thốt Nốt để xây dựng nhà máy điện từ trấu với công suất 10 MW, sau đó
mới tiến hành xây dựng thêm một nhà máy khác ở Thái Lai, vì những khu vực
này có nhiều trấu và cần nhiều điện năng để phát triển sản xuất. Dự kiến, việc
đầu tư xây dựng nhà mày này cần từ 11 triệu đến 14 triệu euro và mặt bằng
rộng khoảng 5 ha và sẽ hoàn vốn sau 6,5 năm đi vào hoạt động nhờ việc bán
điện, bán tro trấu và bán chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính theo Nghị định
thư Kyoto. Tuy nhiên, do bối cảnh nền kinh tế bị lạm phát nên dự định năm
2008 chưa được thực hiện.
1.4. Cơ hội và thách thức đối với việc phát triển nguồn NLSK ở Việt Nam
1.4.1. Cơ hội
Tiềm năng lớn chưa được khai thác
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
22
Luận văn thạc sỹ khoa học - 2009 Trần Thị Quỳnh
• Việt Nam là một nước nhiệt đới nhiều nắng và mưa nên SK phát triển
nhanh;
• Ba phần tư lãnh thổ là đất rừng nên tiềm năng phát triển gỗ lớn;
• Là một nước nông nghiệp nên nguồn phụ phẩm nông nghiệp phong phú.
1.4.2. Thách thức
Sự cạnh tranh về nhu cầu nguyên liệu SK
Một trong những điều không biết chắc được khi phát triển NLSK là sự
cạnh tranh về nguyên liệu. Thí dụ:
• Rơm rạ còn làm thức ăn cho trâu bò;
• Giấy phế liệu có thể tái chế;
• Gỗ phế liệu và mùn cưa có thể làm gỗ ép;
• Ngô khoai, sắn để sản xuất etanol, đậu tương, lạc, vừng, dừa... để sản
xuất biođiezen còn dùng làm lương thực, thực phẩm cho người và gia súc.
Sự cạnh tranh về chi phí của các công nghệ
• Hiện nay nhiều công nghệ SK còn đắt hơn công nghệ truyền thống sử
dụng nhiên liệu hoá thạch cả về trang thiết bị lẫn nguyên liệu;
• Việt Nam còn là một nước nghèo nên thiếu kinh phí đầu tư phát triển
công nghệ mới. Thí dụ bếp đun cổ truyền hiệu suất thấp nhưng đầu tư không
đáng kể, đôi khi bằng không, trong khi đầu tư để có một bếp cải tiến phải tốn
vài chục nghìn đồng.
Trở ngại về môi trường
NLSK có một số tác động môi trường:
- Khi đốt, các nguốn SK phát thải vào không khí bụi và khí sunfurơ (SO
2
).
Mức độ phát thải tuỳ thuộc vào nguyên liệu SK, công nghệ và biện pháp kiểm
soát ô nhiễm;
- Việc phát triển quy mô lớn các cây năng lượng để sản xuất nhiên liệu
sinh học (biofue) có thể dẫn tới gia tăng sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón, gây
tác hại đối với động vật hoang dã và môi trường sống;
- Sản xuất năng lượng từ gỗ có thể gây thêm áp lực cho rừng…
Đây là tất cả những vấn đề cần xem xét kỹ lưỡng khi phát triển NLSK.
Thiếu nhận thức của xã hội về NLSK
Khoa học Môi trường Trường Đại học Khoa học Tự nhiên