LUẬN VĂN: Nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế sau thời kỳ mở cửa - Pdf 12



LUẬN VĂN: Nâng cao hiệu quả hoạt động của
nền kinh tế sau thời kỳ mở cửa

Chiến tranh
Cuộc chiến tranh Triều Tiên, có lẽ được xem là cuộc chiến mang tính huỷ diệt nhất
trong lịch sử thế giới, đã tàn phá Nam Triều Tiên cũng như Bắc Triều Tiên. Seoul đã đổi
chủ đến bốn lần, mỗi lần là một cuộc chiến khốc liệt. Chỉ có một phần nhỏ của xứ sở, ở
miền đông nam, là không bị phương Bắc xâm phạm. Trong số hai mươi triệu người Nam
Triều Tiên khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1953, khoảng 1/4 là những người phiêu tán
không cửa không nhà, hầu như không có của cải. Trên 1 triệu thường dân và 320.000
binh sĩ ở miền Nam đã hy sinh. Một đại đa số những người tử vong là những người trai
tráng mà nếu còn sống họ sẽ đóng góp cho lực lượng lao động và cho thu nhập của gia
đình họ.
Vào năm 1953, Nam Triều Tiên có một cơ sở công nghiệp thậm chí còn èo oặt hơn
của Đài Loan năm 1949. Nam Triều Tiên đã không đạt được mức tổng sản lượng quốc
dân GDP là 100 USD một năm cho đến năm 1963. Tại Triều Tiên, người Nhật đã thuần
hoá sông Yalu vào thập niên 1930 bằng cách xây dựng những nhà máy thuỷ điện cực lớn,
cung cấp 90% điện năng của cả nước Triều Tiên. Nhưng khi đất nước bị phân đôi tất cả
những phương tiện này đã thuộc về Bắc Triều Tiên.
Tại Nam Triều Tiên, đường biên giới mới tại vĩ tuyến thứ 38 đã phân cách giả tạo
đất nước thành hai nửa mà dưới thời cai trị của người Nhật đã phát triển như một nền
kinh tế bổ túc nhau. Các nhà lãnh đạo chính trị đã bắt đầu phát triển các mối liên kết đất
nước vào cuối thập niên 1940, giờ đây lại phải xây dựng một căn bản chỉ trong miền
Nam. Các công ty đã phải định hướng lại những tuyến cung cấp và thị trường của mình.


Trong những nỗ lực để công nghiệp hoá, Nam Triều Tiên ngoài diện tích rộng lớn
còn có lợi thế dân chúng rất có kỷ luật, một ý thức dân tộc rất sắc nét, và một sức sống
dân tộc rất mạnh mẽ.
Quyết tâm và sức sống của người Triều Tiên có thể là khó đo lường chính xác,
nhưng dẫu sao những điều đó cũng là có thực. Quyết tâm của xứ sở này rõ ràng là đã
được tôi luyện do chế độ thực dân áp bức của Nhật Bản trước kia và cuộc chiến tranh
Triều Tiên khốc liệt, và nó lại càng kiên cố hơn khi người Nam Triều Tiên đạt được niềm
tin từ sự thành công kinh tế của họ. ở thời điểm đỉnh cao của tốc độ phát triển của tốc độ
phát triển của Nhật Bản, người Nhật Bản trung bình chưa bao giờ làm việc đến 50 giờ
một tuần. Trong suốt thời phát triển nhanh chóng của Nam Triều Tiên, tuần làm việc đã
lên tới mức 60 giờ một tuần, và vào cuối thập niên 1980 tuần làm việc vẫn tiếp diễn ở
mức bình quân 55 giờ, nhiều hơn 10 giờ một tuần so với bất kỳ một nước công nghiệp
hoặc đang công nghiệp hoá nào khác. Hàn Quốc đã bắt đầu xúc tiến công nghiệp hoá
trong năm 1965 với trình độ công nghệ và đồng lương khá thấp hơn nhiều so với Nhật
Bản năm 1955 và thế là đã đạt được sức cạnh traanh kỹ nghệ bằng các nỗ lực cá nhân rất
lớn. Trong các đề án xây dựng ở Trung Đông, các công nhân Triều Tiên là vô địch về
mức sẵn sàng làm việc nhiều giờ dưới một khí hậu nóng như thiêu đốt. Trong những năm
gần đây, nhiều người Nhật tiếc cho sự suy tàn về đạo đức lao động của người Mỹ, nhưng
những lời bình của họ về Triều Tiên thì lại giống y như các than phiền của người Mỹ về
người Nhật " Người Triều Tiên, một số người Nhật nói, làm việc dai đến độ không ngờ
nổi, như là người máy vậy. Họ có một " tinh thần khao khát " và không ngớt cuỗm mất
những bí mật công nghiệp của ta ".
Người Hàn Quốc tiếp cận với học vấn cũng với lòng sốt sắng tương tự. Vào thời
điểm độc lập, gần nửa dân số Triều Tiên là mù chữ, nhưng không có xứ nào lại có bước
tiến nhanh về học vấn hơn họ, đặc biệt là trong học vấn đại học. Và cũng không có thanh
niên nước nào sốt sắng bằng họ trong việc theo đuổi tri thức và thông tin, chủ yếu là từ
Mỹ và từ Nhật Bản lẫn từ Châu Âu. Các sinh viên không hề thua kém bất kỳ ai trong
chuyện chuẩn bị các kỳ thi vào đại học. Số lượng các sinh viên trong các trường đại học
tại Mỹ và Nhật Bản gộp lại nhiều hơn bất kỳ nước nào khác, và một phần lớn đã quay trở


1. 4. Nông nghiệp có hiệu năng.
Sau khi thoát khỏi sự cai trị của người Nhật Bản, Nam Triều Tiên đã thực thi cuộc
cải cách ruộng đất, và với sự hỗ trợ của người Mỹ, đã tiến hành một chương trình năng
động để canh tân nông nghiệp. Năm 1961 khi cuộc công nghiệp hoá bắt đầu, gần 2/5 tổng
sản lượng quốc gia của Hàn Quốc là xuất phát từ nông nghiệp và nông nghiệp vẫn xoay
quanh chuyện trồng lúa vào những năm sau chiến tranh Triều Tiên, sản xuất nông nghiệp
đã gia tăng cực nhanh hơn cả thời kỳ trước thế chiến thứ 2. Vào thập niên 1970, Hàn
Quốc đã đạt được năng suất lúa trên mỗi hecta cao nhất, so với bất kỳ nước nào trên thế
giới. Năng suất nông nghiệp không chỉ giúp họ không phải nhập khẩu lương thực mà còn
cho phép một số nông gia mở các xưởng công nghiệp nữa.

2. Cách tiếp cận công nghiệp hoá của nhà nước.
Cuộc gấp rút hướng đến công nghiệp hoá của Hàn Quốc đã khởi đầu nghiêm chỉnh
từ năm 1961. Nỗ lực của Hàn Quốc để công nghiệp hoá đã dựa vào một số nhà lãnh đạo
quân sự mạnh muốn dồn sức cho việc phát triển kinh tế, một số sĩ quan quân đội trẻ có
đầu óc kinh doanh, một giới thư lại thiếu kinh nghiệm nhưng lại có tài, một cơ sở rộng rãi
gồm những thương nhân có kỷ luật sẵn sàng làm việc để xây dựng một căn bản kinh tế
cho cuộc phòng vệ chống miền Bắc và một quyết tâm của đất nước muốn bắt kịp các
thành công của người Nhật.
Khi Phác Chung Hy nắm quyền vào tháng 5 năm 1961, ông đã quyết định rằng sau
khi không còn viện trợ của Mỹ nữa thì Hàn Quốc cần phải có năng suất hàng hoá cần
thiết cho cuộc phòng thủ đất nước. Ông muốn cải thiện đời sống của dân chúng đang chịu
cảnh nghèo đói, và ông đã nhận thức rằng mình cần đến sự tiến bộ kinh tế để bảo vệ vị trí
chính trị của mình chống lại những ai xem việc nắm quyền của ông là bất hợp pháp. ông
đã xem sự tiến bộ kinh tế là một sứ mệnh. Trong 100 ngày đầu tiên của mình ông đã
thành lập một Uỷ ban hoạch định kinh tế để điều phối việc triển khai nhanh chóng và

và về sau đã mở rộng sang Mãn Châu. Và vào lúc Phác trưởng thành, miền này đã được
thương mại hoá hoàn toàn, chịu ảnh hưởng sâu đậm của người Nhật, thế là ông ta và bè
bạn mình đã lớn lên với một sự hiểu biết rành về phát triển kinh tế hơn so với hầu hết lớp
trẻ ở những miền khác. Phác thường thông qua các bạn bè để lựa chọn những cố vấn mà
ông có thể tin được, nhưng không như Syngman Rhee, ông ta đủ mạnh để kháng lại
những bạn bè kém khả năng vốn chỉ muốn được khen thưởng thôi, và tuyển những ai có
thể làm được việc.
Các cố vấn kinh tế ngoại quốc chính yếu cho Hàn Quốc từ cuối chiến tranh Triều
Tiên cho đến 1965 là người Mỹ. Người Mỹ góp một vai trò trong việc canh tân nông
nghiệp và trong việc xây dựng lại đường xá cầu cống, trong việc củng cố các bờ sông làm
tăng điện năng và nhập khẩu công nghệ mới. Vào giữa thập niên 1960 khi Hoa Kỳ dần
kết thúc chương trình viện trợ và khi Phác bắt đầu bình thường hoá quan hệ với Nhật
Bản, vai trò của Nhật nhanh chóng trở nên quan trọng. Nhật Bản bắt đầu mở rộng các
khoản cho vay và Phác cùng với cộng sự của mình đã quay sang Nhật Bản để tìm kiếm
công nghệ, thiết bị sản xuất và một mô hình toàn cục cho sự phát triển. Tuy nhiên chuyện
các tình cảm bài Nhật nổi lên năm 1965, khi các sinh viên biểu tình chống Phác vì quay
lại bang giao với Nhật, đã khiến cho các viên chức chính quyền không tiện nói hết về
mức gần gũi đích thực của các quan hệ kinh tế của Nam Triều Tiên với Nhật.
Hàn Quốc bắt đầu công nghiệp hoá với một căn bản kỹ thuật và một mức sống cực
kỳ thấp kém. Bởi có ít kỹ nghệ ngoại trừ ngành dệt ở miền Nam trước chiến tranh Triều
Tiên, nên Hàn Quốc đã thiếu những kỹ sư và những nhà quản trị có kinh nghiệm để giúp
cho việc tái thiết. Quyết tâm tiến bước với tốc độ nhanh nhất có thể được, chính phủ Hàn
Quốc đã vay của nước ngoài rất nhiều. Người Hàn Quốc lao vào các dự án ngay khi các
kế hoạch hoặc kỹ thuật học cần thiết đều chưa sẵn sàng hẳn đâu vào đó và rồi ứng biến,
làm việc đến hết sức chịu đựng để giải quyết bất kỳ vấn nạn nào phát sinh. Đôi khi sự
hành động mau chóng là cần thiết và trong những tình huống như thế Hàn Quốc đã được
lợi từ đẳng cấp tập quyền của mình và một vị tổng thống tích cực, một con người hành

phẩm phức tạp hơn. Với việc có quá ít những kỹ thuật gia so với ở Nhật Bản, người Triều
Tiên không thể sản xuất được nhiều sản phẩm rộng rãi và đương nhiên là họ đã tập trung
vào một nhóm nhỏ những lĩnh vực đang đầy hứa hẹn. Khi người Hàn Quốc thu được kinh
nghiệm trong việc sản xuất một sản phẩm nhất định nào đó, họ đã tiếp tục dấn tới để thu
hẹp hoặc xoá bỏ khoảng cách biệt về chất lượng so với Nhật Bản.
Thế nhưng nhu cầu nhập các bộ phận và trang thiết bị từ Nhật của Hàn Quốc đã tạo
ra một sự mất cân đối rất lớn về mậu dịch giữa hai nước. Các nhà thư lại Nhật Bản, nôn
nóng thôi thúc đất nước chuyển sang công nghệ cao, đã khuyến khích các công ty Nhật
nhượng lại những sản phẩm thuộc cấp thấp trong bậc thang công nghệ cho những nước
như Hàn Quốc. Trong thực tế các công ty Nhật đang dõi theo việc thâm nhập vào kỹ
nghệ Mỹ, đã cố gắng hết mức để tiếp tục sản xuất thật nhiều trong nước có thể được.
Cho đến cuối thập niên 1980, Nhật Bản hầu như không mua hàng chế tạo nào từ Hàn
Quốc cán cân mậu dịch của Nhật Bản với Hàn Quốc vẫn còn ở mức nhập siêu, nhưng
bởi vì Hàn Quốc đã xuất khẩu được hàng hoá sang Mỹ, nên hầu như suốt thập niên 1980,
họ đã đạt gần tới mức cân bằng các kết toán mậu dịch của mình.
Từ buổi đầu của nỗ lực công nghiệp hoá, người Triều Tiên đã e ngại về sức chi phối
của người Nhật lên nền kinh tế của mình, và với sự miễn cưỡng của các công ty Nhật
trong việc chia sẻ các kỹ thuật học của họ. Hàn Quốc cũng giống như Nhật vào thập niên
1960 khi âu lo về sức chi phối của người Mỹ, đã duy trì kiểm soát khắt khe đối với đầu tư
trực tiếp của người Nhật, vốn của ngưòi Nhật, và các sản phẩm của người Nhật, Hàn
Quốc cũng đã bảo hộ các kỹ nghệ non trẻ của mình cho đến khi chúng đã có một tầm cỡ
cực vững và thậm chí lúc đó vẫn chống chuyện mở cửa thị trường của mình cho các sản
phẩm nước ngoài. Hàn Quốc vẫn là một trong vài nước hoàn toàn không nhập xe hơi của
Nhật, một chính sách mà Nhật đã trả đũa lại khi Hàn Quốc bắt đầu sản xuất ra xe hơi có
sức cạnh tranh trong các thị trường quốc tế thông qua sự cảnh giác thường xuyên ở mọi
cấp độ, các quan chức và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp Triều Tiên đã thành công trong
việc kìm hãm mức độ đầu tư trực tiếp của người Nhật và ngăn chặn được sự chi phối về

Triều Tiên tại Pohang, nhà máy này bắt đầu sản xuất ra thép vào năm 1973. Vào năm
1983, Pohang đã sản xuất được 9 triệu tấn thép thô một năm, nhiều hơn mức sản xuất của
Đài Loan. ở Pohang, cách bố trí nhà máy, sự tổ chức và phong cách quản trị, máy móc,
và thậm chí cả bộ đồng phục của các viên kỹ sư thép hầu như đã chẳng khác gì hết với
những nhà máy thép lớn của Nhật Bản. Vào cuối thập niên 1980, khi kỹ nghệ thép của
Hàn Quốc đã tiến bộ nhanh chóng hơn mức dự định của người Nhật, những người thừa
kế Shigeo Nagano đã ngần ngại trong việc chia sẻ thêm kỹ thuật học của họ. Đối với
những đợt hiện đại hoá mới về thép của họ vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên
1990, đương nhiên, người Triều Tiên đã quay sang người Châu âu.
Khi người Hàn Quốc mua máy móc từ người Nhật, họ đã mặc cả để học càng nhiều
càng tốt về các bộ phận kỹ thuật sửa chữa. Họ đã làm việc như những người đối tác và
những nhà cung cấp cho các công ty của Nhật. Họ đã mời các những nhà tư vấn Nhật,
những người nghỉ hưu, và những người khác nữa mà vì lý do nào đó sẵn sàng chia sẻ kỹ
thuật học, người Triều Tiên chuyên làm chuyện “thiết kế ngược”, thận trọng tháo rời
những sản phẩm thành công của nước ngoài để nghiên cứu chúng và tạo ra những sản
phẩm giống bản gốc. Hàn Quốc quả không có đối thủ, thậm chí cả với Nhật Bản, trong
chuyện tốc độ mà họ đã đi từ chỗ hầu như không có kỹ thuật học công nghiệp nào vươn
lên hàng những quốc gia kỹ nghệ của thế giới.
Ngay sau khi có thể vay mượn được vốn cần thiết vào cuối thập niên 1960, Hàn
Quốc đã quyết định khuyếch trương kỹ nghệ nặng và ngành hoá chất. Họ theo đuổi
chương trình trong suốt thập niên 1970, mặc dù các dự án đã phải dẫn đến những món nợ
cực lớn với các cơ quan nước ngoài và lạm phát. Những sản phẩm công nghiệp nặng đầu
tiên của Hàn Quốc đã tham gia vào thị trường ngay sau cú sốc đầu tiên, khi thế giới đang
đi vào một cơn suy thoái. Vào cuối thập niên 1970, do không thể bán đủ sản phẩm của
mình để trả những khoản nợ, Hàn Quốc đã gặp phải những khó khăn kinh tế nghiêm
trọng. Lúc đầu khi Triều Tiên khuyếch trương công nghiệp nặng vào đầu thập niên 1970,
một số nhà lãnh đạo Đài Loan đã lo sợ mình bị tụt lại xa phía sau. Về sau, khi những mất

và các đồng sự của ông đã tuyển kỹ những công ty thành công, có những doanh nhân nổi
tiếng là giỏi và giành cho những công ty đó các khoản vay của nhà nước với lãi suất thấp,
những khích lệ về thuế, và bất kỳ tài nguyên nào cần thiết nhằm củng cố họ trở thành
chaebol đa dạng hoá hùng mạnh, dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của một công ty chủ vì
rằng các công ty chaebol hầu như mới mẻ hoàn toàn, được thành lập trong thời hậu chiến,
nên chúng khác hẳn với zaibatsu già đời của người Nhật. ở Nhật Bản, Mitsubishi đã từng
làm ăn cả thế kỷ nay, Sumitomo và Mitsu thì đã từng nhiều thế kỷ nay. Ngay cả trước thế
chiến thứ 2, khi các zaibatsu vẫn còn dưới quyền kiểm soát của những công ty chủ, quyền
sở hữu cũng đã được tách khỏi quyền điều khiển. Nhưng còn tại Hàn Quốc, ngay cả trong
cuối thập niên 1980, trên 40 thuộc 50 chaebol hàng đầu vẫn còn dưới quyền kiểm soát
chặt chẽ của những nhà sáng lập đầu tiên.
Nhà sáng lập, nói chung, đã khởi nghiệp trong một doanh vụ sinh lợi ở một lĩnh vực
duy nhất nào đó như xay gạo, chế biến thực phẩm, xây dựng, buôn bán, dệt, hay bất động
sản. Khi cuộc kinh doanh cho thấy là thành công, doanh nhân đó đa dạng hoá sang những
lĩnh vực mới và đầy hứa hẹn, thường là vay mượn để khuyếch trương nhằm tận dụng
những cơ may phát triển. Các nhà sáng lập là những nhà lãnh đạo vững vàng, hoàn cảnh
của họ đòi hỏi nhiều sáng kiến, cái nhìn táo bạo, những phản ứng đầy thuyết phục và mau
lẹ. Như với những nhà sáng lập lớn tại nhiều nước, sự thành công và kinh nghiệm đã làm
tăng thêm lòng tự tin của họ và cũng khiến họ có khuynh hướng tự mình đưa ra tất cả các
quyết định cuối cùng hay quan trọng. Có lẽ các nhà sáng lập chaebol có khuynh hướng
liều lĩnh hơn so những người ở địa vị tương tự ở hầu hết các nước khác là bởi vì có chính
quyền đứng đằng sau lưng họ, sẵn sàng giúp đỡ họ.
Gợi ý để các công ty mở rộng sang những lĩnh vực mới đôi khi xuất phát từ chính
quyền, vốn đã nắm chặt trong tay những cơ sở tài chính. Các nhà lập kế hoạch của nhà
nước khi tin rằng có thể mở thêm một lĩnh vực quan trọng mới, họ đã khuyến khích các
công ty có những khả năng về quản trị và kỹ thuật thích đáng. Trong một lãnh vực mới
hoặc một mặt hàng quan trọng mới, họ cố gắng khuyến khích phát triển ít nhất hai công

kể, mặc dù nhiều người đã tái đầu tư đáng kể số thu nhập vào những kinh doanh của họ.
Cho đến cuối thập niên 1980, khoảng cách biệt giữa thang lương của công nhân áo xanh
và công nhân áo trắng vẫn còn lớn. Trong một số chaebol, các chủ nhân đã bị chỉ trích là
thuộc phe nhóm xuất thân từ miền Taegu, vốn cũng gồm cả những cả những nhân vật
chính trị hàng đầu. Thông tin bên trong có liên quan đến việc những những chaebol này
thu được một số tiền quỹ của họ ra sao đã không được công bố đầy đủ, và các doanh
nhân có liên quan bị công kích là hưởng được sự thiên vị và chính quyền thì nhận hối lộ.
Cùng lúc đó, tuy nhiên, không một ai nghi ngờ gì chuyện các nhà sáng lập chaebol là
những doanh nhân rất có hiệu quả và làm ăn chăm chỉ.
Chaebol của Hàn Quốc nói chung bao gồm một nhóm công ty đa dạng thuộc những
lĩnh vực khác nhau, do một công ty chủ độc nhất điều khiển. Nhà sáng lập của một
chaebol thường là đặt bà con của mình vào coi sóc những công ty gia nhập hoặc những
công ty nhánh quan trọng nhằm duy trì quyền kiểm soát cá nhân đáng tin cậy. Thu nhập
của công nhân áo xanh, qua suốt 3 thập niên phát triển, thì cao hơn so với các công ty
Nhật. Lòng trung thành chưa phát triển cao lắm, và công nhân đã nhanh chóng bỏ đi khi
những công ty đang khuyếch trương, thiếu những nhà quản trị và kỹ thuật gia tài giỏi,
đưa ra những điều kiện tốt đẹp đáng kể để câu nhử công nhân bỏ sang. Mặc dù thu nhập
của công nhân áo trắng cũng cao theo tiêu chuẩn của người Nhật, nhưng vào thập niên
1980 thì các chaebol cực lớn đã bắt đầu triển khai như tại Nhật Bản, một ban nhân viên
áo trắng chuyên nghiệp, có tính chuyện thâm niên, triển vọng thuê mướn dài hạn và một
tập hợp phúc lợi khá hậu hĩ hơn so với những xí nghiệp nhỏ. Hơn nữa, bởi liên quan đến
chuyện trung thành, các chủ nhân thường là một nhóm nòng cốt nhỏ gồm những nhân
viên được tín cẩn đặc biệt và các thành viên gia đình, vốn có thăng tiến nhanh hơn những
nhân viên áo trắng bình thường. Chỉ vào cuối thập niên 1980, với sự bành trướng nhanh
chóng và đã qua cái thời của thế hệ sáng lập, hầu hết các chaebol mới bắt đầu trải qua
một cuộc cách mạng về quản trị. Tuy nhiên, thế hệ thứ hai của các gia đình chaebol
thường là vẫn tiếp tục chiếm giữ những chức vụ chủ chốt, vốn vẫn chưa mở ra những nhà
quản trị ăn lương, chưa được tín cẩn mấy. 1. Về huy động các thành phần kinh tế.
Trong phát triển kinh tế thị trường, ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, chính phủ
Việt Nam đã định rõ phương hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn mới là chuyển sang
nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, trong đó nhấn mạnh phát triển kinh tế
với nhiều thành phần với vai trò tích cực của kinh tế nhà nước. Chính sách phát triển kinh
tế nhiều thành phần đã thay đổi một cách cơ bản nhận thức trước đây về phương hướng
phát triển nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nó đã giải phóng khu vực kinh tế
tư nhân, lực lượng lớn nhất của nền kinh tế quốc dân, mở cho họ nhiều cơ hội mới, kinh
doanh năng động và tăng trưởng nhanh chóng. Đây là một trong những vấn đề mấu chốt
để nhà nước thực thi cơ chế kinh tế mới : cơ chế thị trường. Vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước hiện nay cũng được hiểu theo một cách khác trước. nếu như trước đây khu vực
kinh tế nhà nước giữ vị trí thống trị trong nền kinh tế thì qua việc thực hiện cải cách đã
làm thay đổi mối tương quan đó. Với sự phát triển khá mạnh của nền kinh tế tư nhân
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau và những biến đổi theo xu hướng thị trường trong
các xí nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, trong nền kinh tế đã hình thành hai khu vực chính
là kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân với những hoạt động kinh doanh vừa cạnh tranh
vừa hợp tác. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn những tồn tại đáng lưu ý: tình trạng không rạch
ròi về chức năng đã làm giảm đi tính hiệu quả trong hoạt động kinh tế của từng khu vực.
Xu hướng thị trường hoá trong khu vực kinh tế nhà nước chưa được đẩy mạnh. Vai trò
điều tiết nền kinh tế của khu vực kinh tế nhà nước chưa được thực hiện tốt như ở Hàn
Quốc. ở Việt Nam, quá trình đổi mới kinh tế quốc doanh có phần chậm chạp, giữ được ổn
định, nhưng hoạt động kém hiệu quả. Lời giải đáp tốt nhất cho vấn đề này vẫn chưa tìm
ra.

2. Mở cửa nền kinh tế.
Nếu như "mở cửa" đã đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế Hàn Quốc thì mở cửa
cũng đã trở thành một đầu tàu trong công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong hơn một
thập kỷ qua. Chính sách mở cửa có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển của nền kinh tế.

vừa lâu dài trong phát triển kinh tế của Việt Nam.
4. Về công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
Việc chuyển sang quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền kinh tế thị
trường mới là bước khởi đầu. Mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hóa nền kinh tế lấy
công nghiệp nặng làm nền tảng trước đây có lẽ thích hợp với Nga nhiều hơn là Việt Nam,
ít nhất là trong 2 - 3 thập kỷ tới. Song một mô hình công nghiệp hoá theo hướng mới vẫn
chưa được xác định thực một cách rõ ràng. Việt Nam mới chỉ đi những bước chập chững
trong những chặng đường đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy
quá trình này đã được triển khai thực hiện một cách tích cực ở nhiều hướng khác nhau, có
một số mặt thuận lợi do công cuộc đổi mới và tình hình quốc tế và khu vực đem lại, song
so với nhiều nước đang phát triển khác thì Việt Nam vẫn còn rất hạn chế như việc huy
động và sử dụng các nguồn vốn còn kém, khu vực kinh tế nhà nước chưa mang lại hiệu
quả cao, kinh doanh tư nhân chưa lớn mạnh, luật pháp còn thiếu, bộ máy quản lý quan
liêu, cồng kềnh, tham nhũng cao, hiệu quả thấp, cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội còn yếu
kém, nói chung chưa có một cơ chế quản lý năng động đủ đáp ứng nhu cầu của quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tăng trưởng nhanh.
Phải chăng Việt Nam cần thực hiện một chiến lược công nghiệp hoá mới không
phải theo một nguyên tắc tĩnh và cứng nhắc lấy công nghiệp nặng làm then chốt như
trước đây, mà dựa trên nguyên lý động, linh hoạt của sự thay đổi về lợi thế so sánh ? Để
trả lời câu hỏi này, không những cần nghiên cứu lợi thế so sánh của Việt Nam, mà còn
cần nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều nước nhất là những bài học kinh nghiệm thành
công của Hàn Quốc.
của từng nước sẽ đóng vai trò quyết định. Tuy vậy phần lớn kinh nghiệm cho thấy sự
đóng góp quan trọng của các chính sách kinh tế ổn định và có tính cạnh tranh, nới lỏng
kinh doanh. Điều thú vị là, điểm mấu chốt của quá trình hoạch định chính sách là vai trò
tích cực của chính phủ trong việc theo dõi tiến hành phát triển, vạch ra những kế hoạch
dài hạn, thay đổi cho phù hợp cơ cấu thể chế nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách.
Tài liệu tham khảo
1. Kinh nghiệm phát triển của các nền kinh tế Đông - Đông Nam á và ý nghĩa đối với
Việt Nam - PTS Đỗ Đức Định
2. Tổng quan về kinh nghiệm Đông á - Danny M. Leipziger và Vinod Thomas.
3. Những bài học của Đông á - Những nền tảng chung về thành công của Đông á - Peter
A. Petri.
4. Sự thần kỳ của Đông á - Xây dựng cơ sở cho tăng trưởng - John Page.
5. Những bài học gần đây của sự phát triển - Lawrence H. Summer and Vinod Thmas.
6. Đông á và Đông Nam á năm 2020 - Jean Raphel Chaponniere.
7. Phát triển kinh tế ASEAN - Phân tích về vai trò của nhà nước - Hal Hill.
8. Nhật Bản và công nghiệp hoá ở châu á - Yutaka Kosai và Trần Văn Thọ.
9. Kinh tế chính trị học của chính sách công nghiệp ở Hàn Quốc - Ha Joon Chang.
10. Bốn con rồng nhỏ - Trào lưu công nghiệp hoá ở Đông á - ezra F. Vogel.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status