Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG
Tiền lương và sự tác động bởi
các nhân tố ảnh hưởng thông
qua mô hình hồi quy
HỌ TÊN HỌC VIÊN: TRƯƠNG CÔNG CHÍNH ĐẠI
GIÁO VIÊN: ThS TRẦN CHUNG THỦY
LỚP: CH21S
MÃ HV: CH210369
1
Danh mục tài liệu tham khảo:
- Bài phân tích về chính sách tiền lương của TS Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Khoa
học
Lao động và Xã hội.
-Dự án phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 ( The foundation ASIA)
2
LỜI NÓI ĐẦU
Lương bổng là một trong những động lực kích thích con người làm việc hăng hái,
nhưng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân gây trì trệ, bất mãn hoặc từ bỏ
công ty mà ra đi. Tất cả đều tùy thuộc vào trình độ và năng lực của các cấp quản trị. Và
luôn luôn là vấn đề "nhức nhối" của hầu hết các công ty ở Việt Nam. Đây là một đề tài
gây tranh luận sôi nổi trên diên đàn quốc hội Việt Nam trong nhiều năm qua và hiện nay
nó vẫn còn là đề tài nóng bỏng đối với Việt Nam.
Để phù hợp với khái niệm mới về bản chất tiền lương trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam, có một yêu cầu là phải đánh giá đúng các nhân tố tác động đến tiền lương
để làm cho tiền lương thực hiện đầy đủ các chức năng của nó: chức năng thước đo giá trị
là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả (bao gồm giá cả sức lao động)
biến động. Chức năng tái sản xuất sức lao động nhăng duy trì năng lực làm việc lâu dài,
có hiệu quả trên cơ sở tiền lương bảo đảm bù đắp được sức lao động đã hao phí cho
thấp lương hoặc không tăng lương. Tuy nhiên công đoàn, chính phủ, lại ép công ty tăng
lương cho phù hợp với mức chi phí sinh hoạt gia tăng. Đây là vấn đề hóc búa đối với
nhà quản trị.
- Bản thân nhân viên: Bản thân nhân viên rất tác động đến việc trả lương. Mức lương
và phúc lợi tuỳ thuộc vào sự hoàn thành công tác của nhân viên, tuỳ thuộc vào
mức thâm niên, kinh nghiệm, sự trung thành, tiềm năng và kể cả ảnh hưởng
chính trị.
* Sự hoàn thành công tác: không có gì làm nản lòng nhân viên cho việc các
công nhân giỏi, xuất sắc lại lãnh lương bằng hoặc thấp hơn nhân viên có năng
suất kém. Do đó cấp quản trị cần phải áp dụng hệ thống lương dựa vào sự
hoàn thành công tác.
* Kinh nghiệm: kinh nghiệm cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến lương thưởng,
hầu hết các cơ quan tổ chức trên thế giới đều dựa vào yếu tố này để tuyển chọn
và cứu xét lương thưởng.
Như vậy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương…Theo quan sát của cá nhân em thì
kinh nghiệm công tác và số năm được đào tạo là những yếu tố đóng góp rất quan trọng
trong tính toán tiền lương của lao động. Do vậy em đã xây dựng mô hình về tiền lương
tính theo giờ theo hai nhân tố kinh nghiệm công tác và số năm được đào tạo với điều
kiện các nhân tố khác không đổi và tiến hành hồi qui.
Xây dựng mô hình
4
Mô hình gồm 3 biến:
- Biến phụ thuộc: X1 - kinh nghiệm công tác; X2 - số năm được đào tạo.
- Biến độc lập: Y – Thu nhập trung bình.
- Mô hình hồi quy tổng thể: Y = β1 + β2.X1 + β3.X2 + Ui
Nguồn dữ liệu và mô tả dữ liệu
Số liệu được tổng hợp từ các bài nghiên cứu về Hỗ trợ chiến lược xây dựng- phát
triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020 của The Asia Foundation.
Bảng số liệu quan sát như sau:
Trong đó: Y: Thu nhập trung bình(USD/giờ)
=====================
Y = C(1) + C(2)*X1 + C(3)*X2
Substituted Coefficients:
=====================
Y = 1.359927775 + 0.3703837816*X1 + 0.5729035103*X2
- Với mức ý nghĩa α = 5% ta có:
PRF: Y = β1 + β2.X1 + β3.X2 + Ui
SRF: Y= 1.359927775 + 0.3703837816*X1 + 0.5729035103*X2
- Các ước lượng nhận được có phù hợp lý thuyết kinh tế không:
Với β1= 1.359927775 nếu số năm được đào tạo và kinh nghiệm công tác đồng thời
bằng 0 thì thu nhập trung bình sẽ là 1.359927775 USD/giờ
Với β2= 0.3703837816 nếu X1 tăng 1 đơn vị thì Y tăng 1 lượng là 0.3703837816
USD/giờ trong điều kiện X2 không đổi và ngược lại.
Với β3= 0.5729035103 nếu X2 tăng 1 đơn vị thì Y tăng 1 lượng là 0.5729035103
USD/giờ trong điều kiện X1 không đổi và ngược lại.
7
3. Các giá trị quan sát giá trị ước lượng biến phụ thuộc và phần dư:
Ma trận hiệp phương sai và các ước lượng:
4. Kiểm định các hệ số:
- Kiểm định bớt biến X2:
8
- Cặp giả thiết: H0: β2= 0; H1: β2≠ 0
Ta thấy P – value = 0.0001< 0.05 nên chấp nhận H1 tức là việc bỏ biến X2 là không
được hay việc đưa thêm biến X2 vào mô hình là cần thiết.
5. Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến:
- Phương pháp hồi quy phụ:
Hồi quy X1 theo X2:
X1= a1 + a2X2 + vt
9
Kiểm định cặp giả thiết: H0: R
- Thu nhập trung bình (Y) chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm công tác (X1) và số năm
được đào tạo(X2)
- Mô hình lựa chọn phù hợp với lý thuyết kinh tế
- X1, X2 xác định được 65.5907% sự biến động của Y.
- Mô hình ban đầu không có hiện tượng đa cộng tuyến, có PSSS thay đổi, có tự tương
quan bậc 1, thiếu biến.
Do kiến thức còn hạn hẹp nên em không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất
định. Em rất mong được sự góp ý của cô giáo ThS Trần Chung Thủy để bài làm được
hoàn thiện hơn!
12