TIỂU LUẬN: Phân tích hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam. Thực trạng và giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam - Pdf 12


TIỂU LUẬN:

Phân tích hoạt động xuất khẩu hàng
dệt may Việt Nam. Thực trạng và giải
pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu hàng dệt may Việt Nam LỜI GIỚI THIỆU

Hàng dệt may được coi là một trong những mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam,
phát triển hàng dệt may là bước đi có tính chất chiến lược. Là một nước đang phát
triển và đang trong tiến trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế (WTO) những con đường
mới đang được mở ra cho các doanh ngiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam. Việc gia
nhập WTO cũng làm cho hạn ngạch xuất khẩu dệt may đối với Việt Nam được
xoá bỏ. Sự kiện này lam cho một số doanh ngiệp xuất khẩu dệt may của Việt Nam
cũn tiếu hạn ngạch sẽ gặp nhiều thuận lợi, cũn một số doanh ngiệp đang sống tầm
gửi nhờ số hạn ngạch được cấp thỡ sẽ ra sao? Liệu cỏc doanh ngiệp Việt Nam cú
con đứng vững và phát triển trong thị trường thị trường xuất khẩu may mặc hay là
không đủ khả năng cạnh tranhvới các nước lớn như Ấn Độ, Bangladesh, Trung
Quốc Vị trí của hàng dêt may Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong bản đũ cạnh tranh

may từ khu vực phát triển sang khu vực kém phát triển hơn do tác động của các lợi
thế so sánh. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ngành dệt may không còn tồn tại
ở các nước phát triển mà nó đã phát triển cao hơn với những sản phẩm thời trang
cao cấp để phục vụ cho một nhóm người .
Sự chuyển dịch này bắt đầu vào năm 1840 từ nước Anh sang các nước Châu
Âu khác. Tiếp theo là từ Châu Âu sang Nhật Bản vào những năm 1950. Từ năm
1960, khi chi phí sản xuất ở Nhật Bản tăng cao và thiếu nguồn lao động thì công
nghiệp dệt may lại chuyển sang các nước mới công nghiệp hoá (NICs) như Hồng
Kông, Đài Loan, Nam Triều Tiên… Theo quy luật chuyển dịch của ngành công
nghiệp dệt may thì đến năm 1980 lợi thế so sánh của ngành dệt may mất dần đi, các
quốc gia này chuyển sang sản xuất các mặt hàng có công nghệ và kĩ thuật cao hơn
như ô tô, điện tử… Ngành dệt may lại tiếp tục chuyển dịch sang các nước Nam á,
Trung Quốc rồi tiếp tục sang các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.
Việt Nam là một quốc gia thuộc ASEAN và cũng đã đạt mức xuất khẩu cao
về sản phẩm dệt may trong thập kỷ qua góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
2. Đặc điểm về buôn bán hàng dệt may
- Sản phẩm dệt may có nhu cầu rất đa dạng, phong phú tuỳ theo đối tượng
tiêu dùng. Người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo,
khác nhau về khu vực địa lý, tuổi tác…sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục.
- Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổi
mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng tâm lý thích đổi mới, độc đáo và
gây ấn tượng của người tiêu dùng.
- Nhãn mác sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiêu thụ sản phẩm. Người
tiêu dùng thường căn cứ vào nhãn mác để đánh giá chất lượng sản phẩm. Tên tuổi
của các nhãn mác nổi tiếng trên thế giới đều gắn liền với nhãn mác sản phẩm. Tập
quán và thói quen tiêu dùng là một yếu tố quyết định nguyên liệu và chủng loại sản

nhuộm, hoàn tất…còn yếu, chưa đồng bộ. Bông xơ nguyên liệu còn phải nhập
nhiều, chi phí cao. Máy móc của ngành dệt đã sử dụng trên 20 năm, hầu như đã hết
khấu hao, 80% máy dệt là máy dệt thoi khổ hẹp.
 Về ngành may:
- Năng suất lao động thấp, giá thành của một đơn vị sản phẩm cao, sức cạnh
tranh kém.
- Khâu tổ chức sản xuất chưa hợp lý, hệ số ca thấp, thiết bị chuyên dùng thiếu,
năng lực thiết kế mẫu kém, một số khâu chưa đồng bộ.
- Tỷ trọng hàng xuất khẩu bằng hình thức mua nguyên liệu, bán sản phẩm chưa
cao.
- Ngành may mới sử dụng 60% năng lực hiện có.
Vì những lí do trên, có thể nói năng lực cạnh tranh của ngành dệt may là
chưa cao. Nhưng nếu được đầu tư thoả đáng thì ngành dệt may là ngành có thể phát
huy được nội lực của Việt Nam.

III. Hạn ngạch
1. Khái niệm về hạn ngạch (quota)
Hạn ngạch vừa như một rào cản hạn chế lượng hàng xuất khẩu của các doanh
nghiệp về một thị trường nào đó. Nhưng đồng thời nó cũng là sự phân bổ tạo cơ hội
cho doanh nghiệp được xuất khẩu sang nước khác.
Hạn ngạch là quyền lợi dành cho mỗi thành viên trong một tổ chức được
hưởng phần ngoại tệ dành cho một thương nhân được sử dụng để nhập khẩu trong
tổng số ngoại tệ dùng để nhập khẩu của một nước.
Một định mức về số lượng hoặc trị giá do nhà nước quy định trong việc xuất
khẩu hoặc nhập khẩu một mặt hàng trong một thời gian nhất định.
2. Căn cứ giao hạn ngạch cho các doanh nghiệp trong nước
2.1. Hạn ngạch thành tích
5.1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu
Xuất khẩu là một bộ phận cơ bản của hoạt động ngoại thương, trong đó hàng
hoá và dịch vụ được bán, cung cấp cho nước ngoài nhằm thu ngoại tệ.
Mọi công ty luôn hướng tới xuất khẩu những sản phẩm và dịch vụ của mình
ra nước ngoài. Do vậy xuất khẩu được xem như chiến lược kinh doanh quốc tế quan
trọng của các công ty. Xuất khẩu còn tồn tại ngay cả khi công ty đã thực hiện được
những hình thức cao hơn trong kinh doanh.
5.2. Một số hình thức xuất khẩu
- Xuất khẩu trực tiếp
- Xuất khẩu gia công uỷ thác
- Xuất khẩu uỷ thác
- Buôn bán đối lưu
- Xuất khẩu theo nghị định thư
- Xuất khẩu tại chỗ
- Gia công quốc tế
- Tạm nhập tái xuất
5.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
- Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước .
- Xuất khẩu có vai trò tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Xuất khẩu có tác động tích cực giải quyết công ăn việc làm, cải thiện
đời sống nhân dân
- Xuất khẩu là nền tảng trong việc thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
- Xuất khẩu góp phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề sử
dụng có hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tổng kim ngạch xuất
khẩu
Tỷ trọng / tổng
số
2001 2000 15100 7.55
2002 2710 16530 6,1
2003 3630 19880 5,5
2004 4319 26003 6
2005 4806 34278 7,13 II. Các thị trường xuất khẩu hàng dệt mayViệt Nam
Thị trường là vấn đề cốt lừi cú ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của từng
doanh nghiệp, vỡ vậy việc tỡm hiểu và nắm bắt nhu cầu của thị trường là điều cần
thiết từ đó có thể sản xuất ra những gỡ thị trường đũi hỏi. Điều này đó tạo nờn vai trũ
quyết định của thị trường đối với việc sản xuất kinh doanh của ngành dệt may
Mặc dù hinh thức xuất khẩu chủ yếu của dệt may Việt Nam là gia công xuất
khẩu nhưng vẫn có thể nói hàng đẹt may Việt Nam đó phần nào thõm nhập được vào
các thị trương lón như EU, Mỹ, ASEAN, Nhật Bản điều này vàng chứng tỏ rằng
hàng dệy may đó dần cú vị thế và uy tín trên thế giới
- Thị trường Nhật Bản
Đây là một thị trường nhập khẩu may mặc lớn thứ ba thế giới, lại không hạn chế băng
hạn ngạch, dân số đông và mức thu nhập cao bỡnh quõn 34000 USD/ người/ năm thỡ
nhu cầu về may mặc là khụng nhỏ. Hàng năm Nhật Bản nhập khẩu hàng may mặc
khoang từ 7-8 tỷ USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản năm
2001 khoảng 700 triệu USD. Song Nhật Bản là một thị trường rất kho tính về chất
lượng cungx như giá cả nên khả năng chiếm lĩnh thị trường Nhật Bản cũn nhiều hạn

Singapo 76 46 58
Hong Kong 47 33 27
Qua việc xem xét đánh giá thị trường ta thấy triển vọng cho ngành dệt may nứoc
ta là rấ lớn. Do đó khi chúng ta có đầy đủ các điều kiện khai thác thành công, có
hiệu quả chắc chán kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng có thể
sánh bước đi cùng các nước phát triển trên thế giới
Phần BA
Giải pháp cho xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
I. Về phía Nhà nước
Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhà nước chính là chủ thể bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia vào
hội nhập. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp dệt may nhà nước nên có sự quan tâm
hơn về quyền lợi của các doanh nghiệp khi xuất khẩu sản phẩm của mình ra thị
trường thế giới, nhất là quyền lợi về kinh tế. Bên cạnh đó, ở trong nước, Nhà nước
cũng nên tạo điều kiện về môi trường pháp lý, chính trị, xã hội, kinh tế cho các
doanh nghiệp này hoạt động một cách có hiệu quả nhất. Muốn vậy phải thực hiện
nghiêm túc các giải pháp đồng bộ sau:
1. Đảm bảo quyền lợi kinh tế trong và ngoài nước
1.1 Chính sách về kinh tế:
Đó là sự can thiệp của Nhà nước vào việc phát triển kinh tế-xã hội theo những
mục tiêu nhất định. Đối với ngành dệt may, mục tiêu chính là có chỗ đứng vững
chắc trên trường quốc tế.
Nhà nước tiếp tục hoàn thiện và sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhằm thúc
đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tăng quy mô sản xuất, tạo ra ngày càng
nhiều sản phẩm dệt may có chất lượng tốt, số lượng nhiều. Mở rộng và đa dạng hoá
thị trường cung ứng vốn ví dụ như ngoài các nguồn vốn tự có do tiết kiệm của
doanh nghiệp, từ tổ chức tín dụng…Nhà nước có thể phát triển mạnh hơn thị trường

khuyến khích tối đa các doanh nghiệp của EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản đầu tư vào ngành
dệt may Việt Nam.
Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng hình ảnh hàng dệt
may Việt Nam, quảng cáo thương hiệu trên thị trường thế giới thông qua các hoạt
động xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm, khảo sát thị trường, xây dựng trung
tâm giới thiệu sản phẩm và đặc biệt là thông qua trang Web của thương vụ Việt
Nam tại các nước là hết sức quan trọng. Nhà nước cần phải có chính sách thích hợp
nhằm sử dụng có hiệu quả đội ngũ Việt kiều tại các quốc gia nhập khẩu hàng dệt
may, thiết lập các kênh phân phối, điều tra, nghiên cứu thị trường và quảng bá sản
phẩm rộng rãi trong công chúng. Việt kiều sẽ là cầu nối tuyệt vời đưa sản phẩm
may mặc Việt Nam vào các hội chợ triển lãm, các trung tâm thương mại trên thế
giới.
Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức, hoạt động và quản lý theo
hội, và Nhà nước nên có quy định, chính sách rõ ràng cho các hội này. Hội được
hiểu là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức cùng ngành nghề, cùng chung mục
đích tập hợp, đoàn kết hội viên hoạt động thường xuyên nhằm bảo vệ quyền, lợi ích
cho hội. Khuyến khích các doanh nghiệp dệt may nhỏ và yếu kém sát nhập lại nhằm
mục đích nâng cao sức cạnh tranh, duy trì được hoạt động của mình, đảm bảo công
việc cho người lao động, thu lợi nhiều hơn.
1.2. Đảm bảo chính sách thuế thích hợp
Mục đích chính sách thuế của Nhà nước là quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu,
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao hiệu quả của các hoạt động xuất khẩu,
góp phần phát triển và bảo vệ sản xuất, góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà
nước.
Nhà nước cần phải xác định căn cứ tính thuế sao cho phù hợp, tuỳ thuộc vào
số lượng từng mặt hàng ghi trong tờ khai hàng xuất khẩu. Giá tính thuế phải dựa
trên cơ sở rõ ràng, đối với hàng xuất khẩu dệt may là giá bán tại cửa khẩu theo hợp
đồng, tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đồng nước ngoài dùng để xác định giá tính thuế
cơ sở vật chất, điều kiện kinh doanh để đặt ra một mức lãi suất cho phù hợp…
Với những chính sách về tỷ giá và lãi suất thích hợp, ngành dệt may Việt Nam
sẽ có những bước đi vững chắc hơn trên con đường hội nhập kinh tế thế giới.
2. Tạo môi trường chính trị, xã hội và pháp lý thuận lợi
Trong bất kỳ một xã hội nào, môi trường chính trị ổn định, các thiết chế chính
trị và pháp luật vững chắc đóng vai trò là những điều kiện tiên quyết quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế vói chung và ngành dệt may nói riêng. Chúng ta cần tiếp
tục đổi mới hơn nữa về chính trị - xã hội, văn hoá, tư tưởng cải cách nền hành chính
quốc gia. Cần có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tăng cường vai trò của Nhà nước
của dân, do dân và vì dân. Một xã hội ổn định là điều kiện cần thiết đối với các
doanh nghiệp dệt may trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Xây dựng khuôn khổ pháp lý …. Cho các doanh nghiệp dệt mayVN nâng cao
khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Hoàn thiện và bảo đảm quyền tự chủ,
quyền tự do liên doanh, liên kết trong các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp
dệt may. Quyền tự chủ ở đây là quyền quyết định kế hoạch kinh doanh, quyền tự do
kí kết hợp đồng kinh tế, quyền tự chủ về tài chính, giá cả và quyền tự do liên doanh
liên kết.
Cải cách nền hành chính Quốc gia, đơn giản hoá thủ tục hành chính. Xoá bỏ
nhiều loại giấy phép không cần thiết, sắp xếp lại một số cơ quan thuộc chính phủ
cùng nhiều cơ quan tư vấn, phối hợp liên ngành. Thành lập cơ qnan nghiên cứu,
phân tích nhằm nắm bắt thông tin nhanh chóng ở thị trường thế giới giúp doanh
nghiệp dệt may kịp thời ra các quyết định chính xác.
II. Về phía Bộ Thương Mại
Bên cạnh vai trò của Nhà nước, Bộ Thương Mại cũng có một vai trò quan
trọng đối với các doanh nghiệp dệt may. Vai trò đó được thể hiện rõ trong việc điều
hành, quản lý, phân bổ hạn ngạch, trong xúc tiến thương mại, trong giải quyết các
tranh chấp, vi phạm. Để hỗ trợ các doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu hàng

năng thực hiện hạn ngạch được giao phải có văn bản hoàn trả Bộ Thương Mai,
tránh khê đọng hạn ngạch. Đối với các doanh nghiệp không sử dụng hết hạn ngạch
mà không trả lại Bộ sẽ bị phạt.
 Thứ 3: Khi tiến hành phân bổ hạn ngạch BTM cần phải thông báo công
khai danh sách các doanh nghiệp được giao hạn ngạch trên trang web của Bộ
Thương Mại để các doanh nghiệp đối chiếu, so sánh và giám sát.
Để giúp cho việc quản lí có hiệu quả, Bộ Thương Mại nên lập danh sách, địa
chỉ thư điện tử của các doanh nghiệp, triển khai gửi thư điện tử cho tất cả các
thương nhân đăng kí và trả lời những thắc mắc qua thư điện tử. Qua đó, soạn thảo
các câu hỏi thường gặp giúp các doanh nghiệp tìm hiểu về cơ chế , chính sách
được rõ ràng và thuận tiện hơn. Bộ Thương Mại nâng cấp trang Web về dệt may,
cho phép các doanh nghiệp thắc mắc dưới dạng thư điện tử từ trang web này. Bộ
Thương Mại xây dựng cơ chế cần thiết cho việc thực hiện hạn ngạch như về
chuyển đổi, vay, nhượng hạn ngạch. Tập trung xây dựng quy chế quản lí và ứng
dụng công nghệ thông tin trong việc phân bổ và kiểm soát thực hiện cấp visa.
Triển khai việc kiểm tra hoạt động và năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
1.2 Giải quyết tranh chấp vi phạm trong phân bổ và thực hiện
Trong qúa trình quản lí việc phân bổ và thực hiện hạn ngạch xuất khẩu hàng
dệt may, đối với các doanh nghiệp nói chung, Bộ thương mại phải luôn đối xử
công bằng và không phân biệt giữa các loại hình doanh nghiệp. Bất kỳ doanh
nghiệp nào, dù là doanh nghiệp nhà nước hay công ty tư nhân, trách nhiệm hữu
hạn, hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nếu vi phạm các quy định về
phân bổ và thực hiện hạn ngạch dệt may đều bị xử lí theo quy định.
2. Trong xúc tiến thương mại
Xúc tiến thương mại là Bộ thương mại tìm kiếm các cơ hội cho các doanh
nghiệp dệt may, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dễ dàng chuyển các sản phẩm
dệt may từ thị trường trong nước ra thị trường quốc tế và nâng cao khả năng cạnh

1. Nghiên cứu sản xuất và quản lý cho phù hợp với xu hướng xoá bỏ hạn
ngạch dệt may
Vấn đề sản xuất và quản lí là vấn đề cơ bản mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng
cần phải quan tâm chú trọng nhằm đạt được kết quả cao trong quá trình phát triển
ngành dệt may ra thị trường thế giới
1.1 Kiện toàn chiến lược kinh doanh hướng vào hoạt động xuất khẩu
Mục tiêu là đẩy mạnh sản xuất trong nước. Để đạt được mục tiêu này yếu tố
đầu tiên là chúng ta phải chú trọng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Bởi chất lượng
là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trường. Duy trì
được uy tín với đối tác nước ngoài, tạo lập được quan hệ ổn định và lâu dài. Đây
chính là chỉ tiêu có tính quyết định để hàng hoá xâm nhập thị trường. Do đó, những
biện pháp cụ thể để giữ vững và nâng cao chất lượng hàng hoá là phải kiểm tra chặt
chẽ chất lượng nguyên phụ liệu đưa vào quá trình sản xuất, tuân thủ nghiêm ngặt
các yêu cầu của khách hàng về chủng loại hàng, quy trình sản xuất, quy cách kỹ
thuật, nhãn mác, bao bì. Nâng cao tay nghề và ý thức trách nhiệm của người lao
động bên cạnh việc triển khai và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000,
các chứng chỉ trách nhiệm xã hội SA 8000 và chứng chỉ về môi trường ISO 14000,
xây dựng hệ thống chất lượng của ngành.
Các doanh nghiệp nên tích cực đầu tư vào công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực.
Cần có sự kết hợp hài hoà giữa đầu tư chiều sâu, cải tạo mở rộng và đầu tư mới.
Nhanh chóng thay thế những thiết bị và công nghệ lạc hậu, nâng cấp những thiết bị
còn khả năng khai thác, bổ sung thiết bị mới, đổi mới công nghệ và thiết bị để nâng
cao chất lượng sản phẩm. Chú trọng đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật
lành nghề. Vấn đề nhân lực luôn là khâu yếu của ngành dệt may Việt Nam. Công
nhân Việt Nam khéo tay, tiếp thu công nghệ nhanh nhưng chưa có tác phong công
nghiệp, kỷ luật lao động chưa cao nên năng suất lao động thấp hơn các nước trong
khu vực, chỉ bằng một nửa Trung Quốc. Hơn nữa số lượng công nhân được đào tạo

pháp đặc thù phục vụ cho ngành công nghiệp dệt, may và thời trang. Nó cho phép
các doanh nghiệp quản lý và giám sát chi tiết quá trình sản xuất, lưu kho, phân phối
và bán các mặt hàng trên phạm vi rộng. Đây là một ma trận linh hoạt và thiết kế dễ
sử dụng. Phần mềm cũng tích hợp hoàn toàn với những bộ chuẩn khác như: nhận
đơn đặt hàng, phiếu thu, đơn đặt hàng, hoá đơn bán hàng…
Exact Globe 2000 cung cấp cho người dùng khả năng hoạch định nguồn tài
nguyên doanh nghiệp(ERP), quản lý nguồn nhân lực(HRM) và quản lý khách
hàng(CRM)
Đây là hình thức quản lý áp dụng khoa học kỹ thuật đảm bảo tính tiện ích, đơn
giản, nhanh chóng. Cần có sự quản lý khoa học nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sản
phẩm dệt may ra thị trường thế giới.
2- Hoạt động nghiên cứu thị trường.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn đứng vững trên thị trường đều cần có sự
nghiên cứu,tìm hiểu kỹ về thị trường nơi định "bước chân vào".
2.1 Nghiên cứu mở rộng thị trường xuất khẩu hàng dệt may
Mở rộng thị trường xuất khẩu được coi là khâu đột phá trong chiến lược phát
triển xuất khẩu của hàng dệt may, là một trong những nhân tố quyết định sự tăng
trưởng bền vững của ngành công nghiệp dệt may.
Đến nay, hàng dệt may Việt Nam đã xuất khẩu trên 100 nước và vùng lãnh thổ
trên thế giới. Đặc biệt là các thị trường nhập khẩu lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản.
Trong thời gian tới ba thị trường này sẽ chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng dệt may, trong đó thị trường EU 25-27%. Thêm vào đó năm 2004 EU kết nạp
thêm 10 thành viên mới, đây là cơ hội cho doanh nghiệp dệt may VN mở rộng thêm
thị trường xuất khẩu mới.
Từ thực tế nói trên các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu tìm ra lợi thế của
mình trong việc mở rộng thị trường và lợi thế chính ở đây là vấn đề sức mua thế
giới về hàng dệt may ngày càng tăng. Đối với thị trường trong nước, lợi thế về lao

nghiệp và thương hiệu sản phẩm của riêng mình, coi thị trường trong nước là nơi
thử nghiệm, là bàn đạp để phát triển ra thị trường ngoài nước. Những doanh nghiệp
lớn, có tiềm lực khi xây dựng thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm
của mình phải có sự lựa chọn kỹ lưỡng về thị trường và số lượng thương hiệu, các
doanh nghiệp nhỏ hơn nên tập trung vào việc xây dựng, quảng bá thương hiệu
doanh nghiệp(hình ảnh doanh nghiệp), cho dù đó là thương hiệu trong lĩnh vực gia
công. Điều mà các doanh nghiệp phải thấy rõ là dù có đầu tư lớn đến đâu chúng ta
khó có thể cạnh tranh được thương hiệu lớn đã tồn tại từ rất lâu như Adidas, Pierre
Cardin, Wrangler…Vì thế, dù mục tiêu có thương hiệu riêng là cái đích phải hướng
tới nhưng không thể làm trong một sớm một chiều và phải tính tới vị thế hiện nay
của ngành dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới. Các doanh nghiệp cũng không
thể dồn sức vào việc xây dựng thương hiệu sản phẩm riêng để đẩy mạnh xuất khẩu
một cách thiếu cân nhắc mà bỏ qua thế mạnh hiện nay của mình. Thực tế các doanh
nghiệp ở các nước lớn như Trung Quốc, Đài Loan, ấn Độ…vẫn tập trung vào quảng
bá thương hiệu doanh nghiệp gia công để giành được đơn đặt hàng từ các nhà nhập
khẩu, các nhà phân phối lớn trên thế giới. Trong trường hợp này phải xác định sản
phẩm chính là dịch vụ gia công, khách hàng mục tiêu là các nhà nhập khẩu, các nhà
kinh doanh chứ không phải là người tiêu dùng.
Các doanh nghiệp cần tập trung nguồn lực tài chính đầu tư cho thiết kế mẫu
mã, xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp và sản phẩm. Trong khi năng lực thiết
kế còn chưa đáp ứng yêu cầu, có thể nghiên cứu phương án đặt hàng hoặc mua thiết
kế độc quyền. Vấn đề thuê, mua thương hiệu cũng cần được các doanh nghiệp cân
nhắc và phải tính tới yếu tố ràng buộc thị trường khi ký hợp đồng kiểu này. Ngoài
ra các doanh nghiệp lớn có thể xem xét việc thuê chuyên gia truyền thống tiếp thị
nước ngoài. Đồng thời, phải xác định thị trường mục tiêu cho từng thương hiệu, tiến
hành các thủ tục đăng ký cho thương hiệu tại thị trường mục tiêu, phát triển mạng
lưới phân phối tại các thị trường đó. Tăng cường tham gia các hoạt động xúc tiến

ra sản phẩm mới và chiến dịch mới. Tăng thông tin phản hồi, tạo điều kiện cho
người tiêu dùng một cách dễ dàng để gửi ý kiến của mình đến công ty, dựa vào đó
để đưa công ty thâm nhập vào thị trường chung một cách dễ dàng. Thông qua đó,
các doanh nghiệp biết nội dung mà mọi người quan tâm là gì, họ nói gì về sản
phẩm…biết thông tin nhiều hơn về đối thủ cạnh tranh.
Thương mại điện tử mang lại cho các doanh nghiệp dệt may "cửa sổ" để hiểu
được suy nghĩ của người tiêu dùng. Nếu như nhà phân phối sử dụng hình ảnh để
thực hiện chiến dịch quảng cáo, khách hàng sẽ truy cập ngay vào hình ảnh minh hoạ
của trang Web, đảm bảo chất lượng, chính xác trên quảng cáo.
Khi doanh nghiệp tiến hành thương mại điện tử thì các doanh nghiệp nên có
nhiều chiến lược cụ thể sau:
Trên trang Web của mình, cần mô tả về sản phẩm dệt may bao gồm:giá cả,
thời gian, phương thức giao hàng và bảo hành sản phẩm. Mô tả và thuyết minh về
chất lượng sản phẩm, kiểu dáng, mẫu, mốt nêu lên xu hướng thời đại trong tương lai
giúp cho khách hàng từ chỗ không biết về sản phẩm đến chỗ biết và ưa thích sản
phẩm, trở thành khách hàng truyền thống của doanh nghiệp.
Do sản phẩm dệt may được xuất khẩu ra thị trường thế giới là chủ yếu nên
trên trang Web cần sử dụng ngôn ngữ phổ biến, để khách hàng có thể biết rõ và hiểu
về sản phẩm nhiều hơn. Thường xuyên trả lời các câu hỏi, thắc mắc của những
người quan tâm đến sản phẩm.
Sự thành công của chiến lược này đòi hỏi phải có sự phối hợp chiến lược
Marketing với chiến lược bán hàng, và tổ chức dịch vụ thông tin.
Doanh nghiệp nên xây dựng các bộ phận: Bán hàng, hỗ trợ khách hàng và
dịch vụ sản phẩm, kinh doanh. Nhằm đáp ứng mọi yêu cầu các khách hàng ngay lập
tức, đảm bảo đúng thời gian giao hàng, uy tín…
IV. Xây dựng chiến lược cho tương lai.
Để có thể tiếp tục phát triển, buộc các doanh nghiệp cần phải có hướng đi cụ

chuỗi, trên cơ sở thoả thuận giữa các doanh nghiệp theo văn bản hợp tác liên kết
hay hợp đồng, tổ điều hành liên bộ và Hiệp hội dệt may sẽ thẩm định, đánh giá và
kiến nghị cấp hạn ngạch theo quy định. Để việc liên kêt chuỗi đạt hiệu quả cao và
thực chất tổ giám sát thực hiện hạn ngạch cũng cần có sự kiểm tra, quản lý chặt chẽ.
Việc này cần được tiến hành ngay từ khâu thành lập chuỗi và giám sát các loại hoạt
động trong quá trình thực hiện.
Nếu việc sử dụng hạn ngạch không đúng mục đích hoặc có khiếu nại của các
thành viên trong chuỗi thì tổ điều hành liên bộ hoặc tổ giám sát phải kiểm tra, xử lý
và hạn ngạch phân theo chuỗi. Có thể bị thu hồi để đưa vào dự phòng hoặc giao cho
các chuỗi khác. Doanh nghiệp tham gia liên kết chuỗi trên nguyên tắc tự nguyện
theo thoả thuận với nội dung cụ thể sau:
- Liên kết sản xuất: Các doanh nghiệp lớn có thể hỗ trợ doanh nghiệp vừa và
nhỏ trong hợp tác sản xuất như tận dụng lao động, thiết bị, máy móc, công nghệ…
- Liên kết xuất nhập khẩu: Là kết hợp thực hiện các hoạt động nhập khẩu
như nguyên phụ liệu…và các hoạt động xuất khẩu thành phẩm nhằm giảm chi phí
đầu vào, hạ giá thành sản xuất.
- Cùng chung khách hàng, cùng sản xuất một mặt hàng đó là những khách
hàng lớn, nhập khẩu với những số lượng lớn.
- Chia sẻ đơn hàng và cùng chịu trách nhiệm: Là việc nhận những đơn hàng
lớn của khách hàng nhập khẩu lớn, phân phối lớn.
- Cùng nhau hỗ trợ nghiên cứu, giao dịch, tiếp thị mở rộng thị trường…
Với hình thức liên kết này các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ có thể
vững chắc trong tương lai.
2. Chiến lược thâm nhập thị trường EU.
EU là một thị trường thống nhất, mọi cá nhân tổ chức kinh tế đều được tự do,
không bị cản trở, ở thị trường EU các thủ tục đều được đơn giản hoá, luôn tạo điều
kiện thuận lợi bảo đảm cho các sản phẩm có chất lượng cao, đồng bộ, thị hiếu của
người dân ở đây đa dạng phong phú, dân số đông, nhu cầu về số lượng chất lượng
hàng may mặc khá lớn, là nơi mà bất kỳ một nước xuất khẩu sản phẩm dệt may nào
cũng mong muốn được thâm nhập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status