ôn tập lý thuyết kiểm toán - Pdf 12

NỘI DUNG ÔN TẬP LÝ THUYẾT KIỂM TOÁN
1. Bản chất, chức năng kiểm toán
1.1. Bản chất kiểm toán
Kiểm toán là một quá trình tích lũy ( thu thập) và đánh giá bằng chứng về những thông tin có thể định
lượng được của một thực thể kinh tế để xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó
với các tiêu chuẩn đã được thiết lập. Kiểm toán cần được thực hiện bởi một người độc lập và thành thạo.
Bản chất của kiểm toán
1.2. Phân biệt giữa kiểm toán với kế toán
1.3. Đối tượng, chức năng và lợi ích kinh tế của kiểm toán
1.3.1. Đối tượng
Đối tượng của kiểm toán chính là các thông tin có thể định lượng được của một tổ chức, một doanh
nghiệp cần phải đánh giá và bày tỏ ý kiến về tính trung thực, hợp lý của nó.
1
Người sử dụng
thông tin
Quyết định kinh
tế
Báo cáo kiểm
toán
Mức độ phù hợp
Các tiêu chuẩn
Thông tin định
lượng
Người
- Độc lập
- Thành
thạo
Bằng
chứng
Phát hành các báo cáo
kiểm toán bộ phận

chính quyền, các tổ chức phi lợi nhuận …
Kiểm toán giúp: - Giảm thiểu rủi ro về thông tin
- Tăng cường độ tin cậy của thông tin kế toán
- Góp phần lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế, tài chính.
2. Phân loại kiểm toán
2.1. Phân loại theo loại hình (Phân loại theo chức năng, mục đích kiểm toán)
- Kiểm toán báo cáo tài chính
- Kiểm toán hoạt động
- Kiểm toán tuân thủ
2.1.1. Kiểm toán báo cáo tài chính ( Audit of Financial Statements)
* K/n: Kiểm toán báo cáo tài chính là việc xác định xem toàn bộ báo cáo tài chính của một đơn vị đã phù
hợp với các tiêu chuẩn đã đề ra hay không.
Hay là việc kiểm tra và bày tỏ ý kiến nhận xét về tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính
của một đơn vị.
Báo cáo tài chính của một đơn vị bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán ( Balance sheet)
- Báo cáo kết quả kinh doanh ( Income Statement)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( Statement of Cash Flows)
- Thuyết minh báo cáo tài chính (Accompanying Footnotes)
ngoài ra là các báo cáo, tài liệu, số liệu kế toán.
* Đối tượng kiểm toán: là các báo cáo, tài liệu kế toán: BCTC, BC quyết toán, BC kế toán, tài liệu, sổ
sách kế toán ….
* Chuẩn mực dùng để đánh giá: kiểm toán báo cáo tài chính trước hết là các nguyên tắc kế toán được chấp
nhận phổ biến (GAAP), lấy các chuẩn mực kế toán hay các chế độ kế toán hiện hành làm thước đo chủ
yếu.
* Chủ thể tiến hành: kiểm toán báo cáo tài chính thường được thực hiện bởi các kiểm toán từ bên ngoài
( kiểm toán độc lập và kiểm toán nhà nước), chủ yếu là kiểm toán độc lập.
* Kết quả: để phục vụ cho những người quan tâm tới báo cáo tài chính của đơn vị ( bên thứ 3) các cổ
đông, các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, các nhà cung cấp …
2.1.2. Kiểm toán hoạt động ( Opperational Audit)

* Tiêu chuẩn dùng để đánh giá: là các văn bản có liên quan, như: luật thuế, các văn bản pháp quy, các nội
quy, chế độ, thể lệ …
* Chủ thể tiến hành: được thực hiện chủ yếu bởi các kiểm toán viên nội bộ, kiểm toán viên nhà nước hay
kiểm toán viên độc lập.
* Kết quả: chủ yếu phục vụ cho các cấp có thẩm quyền có liên quan, các nhà quản lý.
2.2. Phân loại theo chủ thể
- Kiểm toán Nhà nước
- Kiểm toán độc lập
- Kiểm toán nội bộ
2.2.1. Kiểm toán Nhà nước ( State Audit)
* K/n: là hoạt động kiểm toán do cơ quan kiểm toán Nhà nước (cơ quan kiểm tra tài chính nhà nước độc
lập) tiến hành. Kiểm toán nhà nước thường tiến hành kiểm toán tuân thủ kết hợp với kiểm toán báo cáo tài
chính, xem xét hiệu quả hoạt động, tính hình chấp hành các chính sách, luật lệ, chế độ quản lý kinh tế của
các đơn vị có sử dụng vốn, kinh phí, tài sản của nhà nước.
* Tổ chức: Cơ quan kiểm toán nhà nước là một tổ chức trong bộ máy quản lý nhà nước. Kiểm toán viên
nhà nước là các viên chức nhà nước.
Về mặt tổ chức: kiểm toán nhà nước có thể trực thuộc chính phủ, quốc hội hoặc tòa án. Kiểm toán
nhà nước việt nam do quốc hội thành lập.
* Chức năng và đối tượng: - Chức năng của kiểm toán nhà nước: kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán
tuân thủ, kiểm toán hoạt động đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý sử dụng vốn, ngân sách nhà nước,
tiền và tài sản nhà nước.
- Hoạt động của kiểm toán nhà nước: kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của
báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật, tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực trong quản lý, sử dụng
ngân sách, tiền và tài sản của nhà nước.
- Đối tượng trực tiếp và thường xuyên của kiểm toán nhà nước: là các tổ chức, cá nhân và các hoạt
động có liên quan đến quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản của nhà nước.
* Nguyên tắc và chuẩn mực của kiểm toán nhà nước:
- Nguyên tắc: theo luật kiểm toán nhà nước Việt Nam
+ Chỉ tuân theo pháp luật
+ Trung thực, khách quan.

2.2.2. Kiểm toán độc lập
* K/n: kiểm toán độc lập là hoạt động kiểm toán được tiến hành bởi các kiểm toán viên chuyên nghiệp
thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập. Họ chủ yếu thực hiện các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính; ngoài ra
và tùy theo yêu cầu của khách hàng kiểm toán độc lập còn thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân
thủ và cung cấp các dịch vụ tư vấn về kế toán, thuế, tài chính …
Do sự độc lập trong hoạt động nên kết quả kiểm toán của họ tạo được sự tin cậy đối với những người
sử dụng thông tin, do đó kiểm toán độc lập có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Những
người sử dụng báo cáo tài chính mà chủ yếu là bên thứ 3 chỉ tin cậy vào báo cáo tài chính được kiểm toán
độc lập kiểm toán.
* Kiểm toán viên: là những người hoạt động chuyên nghiệp, có chuyên môn, có kỹ năng, có đủ các điều
kiện để được cấp chứng chỉ kiểm toán viên.
* Tính chất của cuộc kiểm toán: do kiểm toán độc lập tiến hành là mang tính tự nguyện trên cơ sở thư mời
kiểm toán và hợp đồng kiểm toán đã ký kết giữa công ty kiểm toán với đơn vị mời kiểm toán.
Do các công ty kiểm toán độc lập là loại hình tổ chức cung ứng dịch vụ nên tổ chức mời kiểm toán
phải trả phí kiểm toán.
* Chuẩn mực nghề nghiệp: là hệ thống chuẩn mực kiểm toán ủy ban chuẩn mực kiểm toán quốc gia và
quốc tế xây dựng, công bố. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam do ủy ban chuẩn mực thuộc bộ tài chính xây
dựng và công bố, chuẩn mực kiểm toán quốc tế do ủy ban chuẩn mực kiểm toán quốc tế thuộc IFAC xây
dựng và công bố.
* Đối tượng phục vụ của kiểm toán độc lập: chủ yếu là những người sử dụng báo cáo tài chính ( bên thứ
3), ngoài ra tùy theo yêu cầu của cơ quan nhà nước hay của chủ doanh nghiệp mà đối tượng phục vụ là cơ
quan quản lý nhà nước hay thủ trưởng đơn vị.
4
* Tổ chức: các tổ chức kiểm toán độc lập hiện nay xét về mặt quy mô và phạm vi hoạt động có thể là công
ty kiểm toán quốc tế, công ty kiểm toán quốc gia, công ty địa phương hoặc khu vực, các công ty nhỏ. Xét
về sở hữu có công ty đa quốc gia, công ty thuộc sở hữu nhà nước, công ty cổ phần, công ty đối nhân, công
ty tư nhân, văn phòng kiểm toán…
* Các dịch vụ mà công ty kiểm toán độc lập có thể cung ứng:
- Dịch vụ kiểm toán và xác nhận
- Dịch vụ thuế

- Được trao đổi trực tiếp với kiểm toán viên độc lập.
* Chức năng của kiểm toán nội bộ: xem xét thực hiện chức năng của kiểm toán nội bộ, thái độ và quyết
định của giám đốc đối với những kiến nghị của kiểm toán nội bộ.
* Năng lực chuyên môn của kiểm toán viên nội bộ: trình độ chuyên môn được đào tạo, về năng lực, kinh
nghiệm thực tế cũng như chính sách tuyển dụng và bồi dưỡng kiểm toán viên nộ bộ của đơn vị.
* Tính thận trọng của kiểm toán viên nội bộ: tính thích hợp, hiệu quả của việc lập kế hoạch, thực hiện
kiểm toán, thu thập và lưu dữ các tài liệu, lập sổ tay kiểm toán, chương trình làm việc và hồ sơ kiểm toán.
3. Những khái niệm cơ bản.
3.1. Cơ sở dữ liệu.( Assertions)
3.1.1. K/n: là những giải trình của các nhà quản lý để chứng minh về các khoản mục được trình bầy trên
báo cáo tài chính.
Cơ sở dẫn liệu được hình thành xuất phát từ trách nhiệm của các nhà quản lý đối với việc thiết lập,
trình bày và công bố các báo cáo tài chính theo đúng các chuẩn mực kế toán hiện hành.
5
Cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính lá sự khẳng định một cách công khai hoặc ngầm định của ban
quản lý về sự trình bầy của các bộ phận trên báo cáo tài chính.
Các yêu cầu của cơ sở dẫn liệu:
- Hiện hữu
- Quyền và nghĩa vụ
- Chính xác
- Đánh giá
- Đầy đủ
- Trình bày và thuyết minh
3.1.2. Cơ sở dẫn liệu và mục tiêu kiểm toán
- Kiểm toán viên phải thu thập được bằng chứng kiểm toán cho từng cơ sở dữ liệu của các khoản
mục trên báo cáo tài chính. VD; khi kiểm toán khoản mục hàng tồn kho, kiểm toán viên phải thu
thập được đầy đủ bằng chứng chứng minh rằng khoản mục hàng tồn kho trên báo cáo tài chính là có
thực, đã được phản ánh đầy đủ, đã được đánh giá đúng, phân loại phù hợp với các chuẩn mực,
nguyên tắc kế toán.
- Bằng chứng kiểm toán liên quan đến một cơ sở dữ liệu không thể bù đắp cho việc thiếu báo cáo kế

- Thiếu sót của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ
- Lương của cán bộ công nhân viên…
* Các nhân tố bên ngoài:
- Chiến lược kinh doanh và sức ép bất thường lên doanh nghiệp:
6
+ Khách hàng đầu ra
+ Nguồn cung cấp đầu vào
+ Yêu cầu về thành tích
+ Yêu cầu về thời gian
- Chính sách pháp luật thiếu đồng bộ, nhiều điểm yếu kém, nhiều khe hở
- Các biến động kinh tế vĩ mô: lạm phát, lãi suất, tỷ giá …
- Đối thủ cạnh tranh
- Tăng trưởng kinh tế
+ Môi trường, kỹ thuật, công nghệ
+ Khi doanh nghiệp nhảy sang kinh doanh một lĩnh vực mới
3.3. Trọng yếu ( Materiality)
*K/n: Trọng yếu là một khái niệm chỉ tầm cỡ, bản chất của sai phạm ( kể cả bỏ sót) thông tin tài chính
[ hoặc là đơn lẻ hoặc là từng nhóm] mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để nhận xét
thì sẽ không chính xác hoặc sẽ đưa đến những kết luận sai lầm.
Trọng yếu là ngưỡng (giới hạn) mà theo kiểm toán viên, nếu trên báo cáo tài chính có các sai phạm
lớn hơn ngưỡng đó thì sai phạm sẽ “bóp méo” bản chất của BCTC.
 Nói cánh khác, thông tin được coi là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin đó
có thể ảnh hưởng tới quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin được kiểm toán.
 Tính trọng yếu phụ thuộc vào mức độ quan trọng của khoản mục hay sai sót được đánh giá
theo bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hay sai sót đó.
3.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới việc xác định tính trọng yếu
- Đặc điểm của từng đơn vị của từng loại nghiệp vụ
- Phụ thuộc vào yêu cầu của pháp luật và các quy định cụ thể
- Việc xét đoán mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên
3.3.2. Vận dụng tính trọng yếu

- Trên cơ sở sai sót dự kiến của từng khoản mục, bộ phận, kiểm toán viên tổng hợp sai sót dự kiến
của tất cả các khoản mục trên BCTC.
(5). So sánh ước tính sai số tổng hợp với sai số ước lượng ban đầu (hoặc ước lượng sai số đã được
điều chỉnh lại)
- Việc so sánh này cho phép đánh giá toàn bộ các sai sót có vượt quá giới hạn về mức trọng yếu
chung toàn bộ BCTC hay không.
- Kết hợp với việc so sánh sai sót dự kiến (PE) và TE (bước 3), kiểm toán viên sẽ quyết định lập báo
cáo kiểm toán chấp nhận toàn bộ, chấp nhận từng phần hoặc ý kiến trái ngược đối với các BCTC đã
được kiểm toán.
3.4. Hệ thống kiểm soát nội bộ
*. K/n: Theo IAS 400 thì Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách và thủ tục kiểm
soát do ban giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ và hiệu quả của hoạt động trong
khả năng có thể.
Theo COSO thì kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, các nhà
quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý trong việc
thực hiện các mục tiêu mà hội đồng quản trị, các nhà quản lý mong muốn là:
- Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động
- Tính chất đáng tin cậy của các báo cáo tài chính
- Sự tuân thủ các luật lệ và quy định hiện hành
Hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vai trò
nhất định mà được vận hành ở tất cả mọi cấp độ trong doanh nghiệp.
Hội đồng quản trị và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hóa phù hợp
nhằm hỗ trợ cho quy trình kiểm soát nội bộ hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách
liên tục. Tất cả các thành viên của tổ chức đều tham gia vào quá trình này.
3.4.1. Mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ:
* Mục tiêu kết quả hoạt động: hiệu quả và hiệu năng của các hoạt động:
- Sử dụng hiệu quả tài sản và các nguồn lực khác.
- Hạn chế rủi ro
- Đảm bảo sự phối hợp, làm việc của toàn bộ nhân viên để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp với
hiệu năng và sự nhất quán.

bộ.
- Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tiềm tàng:
+ Lĩnh vực hoạt động kinh doanh
+ Bản chất công việc kinh doanh và đặc điểm của đơn vị
+ Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên
+ Quy mô tổng thể, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp
+ Quy mô số dư tài khoản
* Rủi ro kiểm soát(CR) : là rủi ro mà sai phạm (trọng yếu) trong các thông tin được kiểm toán khi tính
riêng lẻ hay gộp với các sai phạm khác đã không được hệ thống kiểm soát nội bộ ngăn ngừa hoặc phát
hiện và sửa chữa.
Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro kiểm soát:
- Môi trường kiểm soát
- Hệ thống kế toán
- Vấn đề nhân sự
- Vấn đề tổ chứ: tổ chức chồng chéo, không khoa học
- Các nghiệp vụ mới
- Tính thích hợp, đầy đủ của các thủ tục chồng chéo, không khoa học
- Các nghiệp vụ mới
- Tính thích hợp, đầy đủ các thủ tục, trình tư kiểm soát
* Rủi ro phát hiện(DR): là rủi ro mà các kiểm toán viên không phát hiện ra các sai phạm trọng yếu
trong các thông tin được kiểm toán khi chúng nằm riêng biệt hay khi gộp với các sai phạm khác.
Các yếu tố ảnh hưởng tới rủi ro phát hiện:
- Do trình độ, năng lực, kinh nghiệm của kiểm toán viên
- Sự xét đoán của kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát không chính xác, do
đó đã áp dụng các phương pháp, phạm vi kiểm toán không thích hợp.
- Do sự gian lận: đặc biệt là sự gian lận có hệ thông từ ban giám đốc.
* Mối quan hệ giữa các rủi ro:
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là những rủi ro gắn liền với quá trình hoạt động của
doanh nghiệp, nó luôn tồn tại cho dù có tiến hành kiểm toán hay không. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát có ảnh hưởng tới rủi ro phát hiện và rủi ro kiểm toán.

+ Bằng chứng tài liệu
+ Bằng chứng lời nói
3.6.2. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán
* Tính thích hợp: là khái niệm dùng để chỉ chất lượng hay độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán.
Các nhân tố ảnh hưởng tới tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán:
- Nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán.
- Dạng của bằng chứng kiểm toán
- Hệ thống kiểm soát nội bộ
* Tính đầy đủ: là khái niệm chỉ số lượng của các bằng chứng mà kiểm toán viên phải thu thập để dựa vào
đó đưa ra các ý kiến của minh.
Một số nhân tố ảnh hưởng tới sự xét đoán của kiểm toán viên về tính đầy đủ:
- Tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán
- Tính trọng yếu của thông tin kiểm toán
- Mức độ rủi ro của thông tin được kiểm toán
3.6.3. Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
Để có thể thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp, kiểm toán viên thường áp
dụng các kỹ thuật sau:
*Kiểm tra đối chiếu : là việc kiểm toàn viên trực tiếp kiểm tra, đối chiếu, xem xét các tài liệu, sổ sách kế
toán và các tài sản hữu hình để kiểm tra tính đúng đắn của các sổ sách kế toán và sự tồn tại, quyền sở hữu
của các tài sản vật chất đó.
Kiểm tra đối chiếu thường gồm 2 loại:
- Kiểm tra vật chất: kiểm toán viên trực tiếp tham gia kiểm kê hoặc chứng kiến kiểm kê tài sản
thực tế về hàng hóa, vật tư tồn kho, máy móc thiết bị, tiền mặt tồn quỹ … sau đó đối chiếu
với sổ sách kế toán để đánh giá.
- Cung cấp bằng chứng vật chất -> có độ tin cậy cao.
Nhược điểm: Chỉ cho biết về sự hiện hữu của tài sản mà không cho biết về quyền sở hữu và
giá trị của chúng.
-> Vì vậy kiểm kê vật chất phải đi kèm với các bằng chứng khác để xác định quyền sở hữu và giá trị
của các tài sản.
10

hệ giữa các thông tin tài chính với nhau và với các thông tin phi tài chính, chẳng hạn:
- So sánh các thông tin tài chính kỳ này với các thông tin tài chính kỳ trước
- So sánh giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán.
- So sánh chỉ tiêu của đơn vị với chỉ tiêu bình quân ngành.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính trong kỳ
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính
-> Trên cơ sở đó phát hiện những vấn đề không hợp lý, không bình thường hoặc những vấn đề,
những khoản mục tiềm ẩn rủi ro, sai phạm; phát hiện mối quan hệ mang tính bản chất.
3.6.4. Xét đoán bằng chứng kiểm toán
Một số căn cứ để xét đoán bằng chứng :
- Những bằng chứng ghi bằng văn bản có độ tin cậy cao hơn bằng chứng bằng lời nói.
- Bằng chứng nguyên bản có giá trị hơn bằng chứng sao chụp
- Bằng chứng thu thập từ bên ngoài có giá trị cao hơn so với bằng chứng được đơn vị kiểm
toán cung cấp.
- Bằng chứng do kiểm toán viên tự tính toán, thu thập được có độ tin cậy cao hơn so với những
bằng chứng do người khác cung cấp.
- Bằng chứng được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau ở nhiều dạng khác nhau cùng chứng
minh cho một vấn đề có độ tin cậy cao hơn so với các bằng chứng đơn lẻ.
Chú ý: Nếu các bằng chứng khác nhau từ các nguồn khác nhau cho kết quả trái ngược nhau thì kiểm
toán viên phải hết sức thận trọng, phải giải thích được sự khác biệt đó.
11
3.6.5. Một số bằng chứng kiểm toán đặc biệt
- Ý kiến của các chuyên gia
- Thư giải trình của các nhà quản lý
- Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên nội bộ
- Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác
- Bằng chứng về các bên hữu quan.
4. Khái quát về chuẩn mực, quy trình và phương pháp kiểm toán
4.1. Khái quát về chuẩn mực kiểm toán
* K/n: Chuẩn mực kiểm toán là những nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và về xử lý các mối quan hệ phát

18. Chuẩn mực số 230: Tính trọng yếu trong kiểm toán
19. Chuẩn mực số 501: Bằng chứng kiểm toán bổ sung đối với các khoản mục và sự kiện đặc biệt.
20. Chuẩn mực số 560: Các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán lập báo cáo tài chính.
21. Chuẩn mực số 600: Sử dụng tư liệu của kiểm toán viên khác.
Đợt 5 ban hành 06 chuẩn mực:
22. Chuẩn mực số 401 : Thực hiện kiểm toán trong môi trường tin học;
23. Chuẩn mực số 550 : Các bên liên quan;
24. Chuẩn mực số 570 : Hoạt động liên tục;
25. Chuẩn mực số 800 : Báo cáo kiểm toán về những công việc kiểm toán đặc biệt ;
26. Chuẩn mực số 910 : Công tác soát xét báo cáo tài chính;
12
27. Chuẩn mực số 920 : Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở các thủ tục
thoả thuận trước.
Đợt 6 ban hành 06 chuẩn mực:
28. Chuẩn mực 402 : Các yếu tố cần xem xét khi kiểm toán đơn vị có sử dụng dịch vụ bên ngoài
29. Chuẩn mực 620 : Sử dụng tư liệu của chuyên gia
30. Chuẩn mực 710 : Thông tin có tính so sánh
31. Chuẩn mực 720 : Những thông tin khác trong tài liệu có báo cáo tài chính đã kiểm toán
32. Chuẩn mực 930 : Dịch vụ tổng hợp thông tin tài chính
33. Chuẩn mực 1000 : Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành.
Đợt 7 ban hành 04 chuẩn mực:
34. Chuẩn mực 260: Trao đổi các vấn đề quan trọng phát sinh khi kiểm toán với Ban lãnh đạo đơn vị
được kiểm toán;
35. Chuẩn mực 330: Thủ tục kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro;
36. Chuẩn mực 505: Thông tin xác nhận từ bên ngoài;
37. Chuẩn mực 545: Kiểm toán việc xác định và trình bày giá trị hợp lý.
4.2. Khái quát về quy trình (trình tư) kiểm toán.
4.2.1. Lập kế hoạch kiểm toán
* K/n: là việc phát triển một chiến lược tổng thể và một phương pháp tiếp cận với đối tượng kiểm
toán trong một khuôn khổ nội dung và thời gian dự tính.

các bằng chứng kiểm toán để làm cơ sở cho những nhận xét của mình trên báo cáo kiểm toán.
13
* Nội dung:
- Ghi nhận hiện trạng hoạt động, hiện trạng về tình hình số liệu.
- Phân tích, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Thực hiện những thực nghiệm kiểm soát cụ thể
- Xác định độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Thử nghiệm số liệu: Nghiệp vụ, chi tiết số dư tài khoản
- Thu thập bằng chứng kiểm toán
- Thực hiện ghi chép các bước kiểm toán, bằng chứng và các dữ liệu thành hồ sơ kiểm toán
- Thảo luận, bàn bạc kết quả kiểm toán và thống nhất ý kiến với các quản lý đơn vị được
kiểm toán.
- Lập dự thảo báo cáo kiểm toán bộ phận và tổng hợp bản dự thảo báo cáo kiểm toán tổng
thể.
4.2.3. Kết thúc kiểm toán
* Nội dung công việc ở giai đoạn kết thúct:
- Kiểm toán viên chính, nhóm trưởng kiểm tra và đánh giá lại toàn bộ công việc kiểm toán đã được
thực hiện nhằm mục đích:
+ Đảm bảo rằng kế hoạch kiểm toán được thực hiện một cách có hiệu quả
+ Xem xét các ý kiến, các phát hiện của kiểm toán viên là có chính xác, đầy đủ cơ sở, bằng chứng
( bằng chứng có thích hợp đầy đủ)
+ Đánh giá mục tiêu kiểm toán đã đạt được hay chưa
- Xem xét các sự kiện phát sinh sau ngày lập báo cáo
- Xem xét lại việc xác định PM, đánh giá về rủi ro, gian lận.
- Soát xét -> lập báo cáo kiểm toán.
* Báo cáo kiểm toán: là văn bản được kiểm toán viên soạn thảo để trình bầy ý kiến nghề nghiệp của mình
về tính trung thực hợp lý của những thông tin được kiểm toán.
-> Báo cáo kiểm toán là sản phẩm cuối cùng của công việc kiểm toán và có vai trò hết sức quan
trọng.
Vai trò:

nhất trí, chưa diễn đạt được ý kiển của mình.
+ Dạng ngoại trừ: kiểm toán viên còn có những ý kiến bất đồng với nhà quản lý đơn vị trong từng
phần của đối tượng được kiểm toán.
- Báo cáo bày tỏ ý kiến trái ngược: kiểm toán viên bày tỏ ý kiến không chấp nhận đối với các thông
tin được kiểm toán.
Loại báo cáo này được phát hành khi có sự bất đồng lớn giữa kiểm toán viên và các nhà quả lý đơn
vị. VD: các báo cáo tài chính không được lập theo đúng chuẩn mực kế toán hiện hành.
- Báo cáo từ chối đưa ra ý kiến: kiểm toán viên từ chối bày tỏ ý kiến đối với các thông tin được
kiểm toán.
Loại báo cáo này được phát hành khi phạm vi kiểm toán bị giới hạn nghiêm trọng hoặc các tài liệu
quá mập mờ không rõ ràng khiến kiểm toán viên không thể tiến hành kiểm toán theo kế hoạch đã
định.
4.3. Khái quát về các phương pháp kiểm toán
4.3.1. Phương pháp kiểm toán cơ bản
Là phương pháp kiểm toán trong đó các thủ tục kiểm toán đươc thiết kế nhằm thu thập các bằng
chứng có liên quan đến các dữ liệu do hệ thống kế toán và xử lý thông tin cung cấp.
Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là việc tiến hành thử các nghiệm (thử nghiệm cơ bản), các
đánh giá đều dựa vào các số liệu, các thông tin trên báo cáo tài chính và hệ thống kế toán của đơn vị ->
thừ nghiệm theo số liệu.
4.3.1.1. Nội dung của phương pháp kiểm toán cơ bản:
* Phân tích tổng quát:
- Thời điểm: được tiến hành khi lập kế hoạch kiểm toán và khi hoàn thiện kiểm toán.
- Tác dụng: cho phép kiểm toán viên có cái nhìn khái quát về tình hình hoạt động và tình hình tài
chính của khách hàng, phát hiện những điều không hợp lý, những điều bất thường, những biến động
lớn và những trọng tâm trọng yếu trong kiểm toán.
- Nội dung phân tích:
* Kiểm tra chi tiết nghiệp vụ và số dư tài khoản:
- Nội dung:
+ Kiểm toán viên kiểm tra trực tiếp, cụ thể toàn bộ hoặc một số ( trên cơ sở chọn mẫu) các nghiệp vụ
phát sinh hay số dư tài khoản.

Là phương pháp kiểm toán trong đó các thủ tục, kỹ thuật kiểm toán được thiết lập để thu thập các
bằng chứng về tính hiệu quả và thích hợp của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán
4.4. Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán
4.4.1. Khái niệm và sự cần thiết
Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán là việc lựa chọn ra một số phần tử gọi là mẫu từ một tập hợp các
phần tử gọi là tổng thể, để nghiên cứu và đánh giá mẫu, sau đó dùng các đặc trưng của mẫu để rút ra các
suy đoán về đặc trưng của toán bộ tổng thể.
Lấy mẫu kiểm toán (gọi tắt là lấy mẫu): là áp dụng các thủ tục là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên
số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần
tử đều có cơ hội để được chọn. Lấy mẫu sẽ giúp kiểm toán viên thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm
toán về các đặc trưng của các phần tử được chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết luận về tổng thể. Lấy
mẫu có thể tiến hành theo phương pháp thông kê hoặc phi thống kê.
4.4.2. Rủi ro trong chọn mẫu
Tổng thể: phải phù hợp với mục tiêu kiểm toán riêng biệt.
Mẫu: phải đại diện cho tổng thể, nếu không đại diện sẽ có những rủi ro chọn mẫu
Rủi ro:
+ Do chọn mẫu không đại diện cho tổng thể, do đánh giá của kiểm toán viên phù thuộc phần lớn vào
phương pháp chọn mẫu.
+ Phụ thuộc vào kích cỡ (quy mô) chọn mẫu.
+ Phụ thuộc vào phương pháp chọn mẫu
+ Phụ thuộc việc xác định tổng thể một cách chính xác
Rủi ro chọn mẫu có hai xu hướng:
+ Đánh giá rủi ro lớn hơn so với thực tế: sử dụng nhiều mẫu -> tăng chi phí
+ Đánh giá rủi ro thấp hơn so với thực tế: sử dụng ít mẫu -> rủi ro kiểm toán cao
4.4.3. Các phương pháp chọn mẫu kiểm toán
* Chọn mẫu thống kê:
- Chọn theo bảng số ngẫu nhiên (bảng số được xây dựng trước)
- Chọn ngẫu nhiên có tính hệ thống
- Chọn mẫu theo chương trình máy tính
* Chọn mẫu phi thống kê:

Trong lịch sử phát triển nhân loại, Nhà nước xuất hiện dưới các hình thái khác nhau, như:
- Nhà nước chiếm hữu nô lệ
- Nhà nước phong kiến
- Nhà nước tư sản
- Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Về mặt tổ chức, Nhà nước cũng cũng có những hình thái khác nhau, như:
* Nhà nước đơn nhất : là Nhà nước chỉ có một trung tâm quyền lực với các cơ quan trung ương (một
Quốc hội, một chính phủ, một quân đội, một hệ thống pháp luật, có ngân sách thống nhất …) và thể chế
thống nhất chung trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia.
VD: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; Cộng hòa Phá
* Nhà nước liên bang: là Nhà nước gồm một số thành viên cung là Nhà nước có sự phụ thuộc ở các
mức độ khác nhau trong điều ước hay hiến pháp khi thành lập Nhà nước liên bang. Nhà nước liên bang có
các cơ quan trung ương toàn liên bang, là chủ thể độc lập, có chủ quyền quốc gia trong qua hệ quốc tế.
Trong nhà nước liên bang, có các Nhà nước bang ( Mỹ, Ấn Độ, Thụy Sỹ…) hay nhà nước cộng hòa ( liên
bang Nga). Nhà nước bang hay Nhà nước cộng hòa trong liên bang cũng có cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà
nước riêng ( Quốc hội hay Nghị Viện, Chính phủ …), nhưng không được coi là chủ thể của quan hệ quốc
tế.
Về chính thể, tùy thuộc vào lịch sử hay truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia mà chọn
lựa hình thức chính thể như:
- Nhà nước quân chủ lập hiến: là nhà nước vừa có quốc vương, quyền lực của quốc vương do
hiến pháp qy định và hạn chế. Quyền lực chính trị – xã hội thực tế Quốc Hội ( hay nghị viện)
và chính phủ nắm giữ để quản lý, điều hành mọi hoạt động xã hội
- Nhà nước cộng hòa: là nhà nước mà quyền lực chính trị, kinh tế – xã hội do quốc hội hya
nghị viện và chính phủ nắm giữ.
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân; là trung tâm của quyền lực chính trị trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
* Các đặc trưng của Nhà nước:
Nhà nước khác với các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội thời đại ngày nay bởi các
đặc trưng sau:

Điều 2 – Hiến pháp 1992 ( đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: Nhà nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ tri thức.
Bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ở bản chất giai cấp của Nhà
nước, tính dân tộc, tính dân tộc, tính nhân dân của Nhà nước.
1.1.3.1. Bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân Việt Nam. Nhà
nước đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, đứng đầu là đảng cộng sản Việt Nam đội tiên phong
của giai cấp cộng nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội để thực hiện
những lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động.
Nhà nước ta là một thiết chế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã
hội, với mục tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Bên cạnh việc thực hiện
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam kiên quyết áp dụng các biện pháp
cưỡng chế, trấn áp các hành vi gây mất ổn định chính trị, các hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến lợi
ích Nhà nước, tập thể và công dân.
1.1.3.2. Bản chất của Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ở tính đại đoàn kết dân tộc.
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là biểu hiện của sự thống nhất các dân tộc. Nhà nước
thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tượng trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia
rẽ dân tộc. Thực hiện chính sách đoàn kết các dân tộc, Nhà nước tạo mọi điều kiện để phát triển về mọi
mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc ít người.
1.1.3.3. Nhà nước bản chất của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ở tính nhân dân
sâu sắc thể hiện:
Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thống qua
Quốc Hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân bầu ra
và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Nhân dân còn thực hiện quyền lực của mình thông qua hình thức giám sát các hoạt động nhà nước,
khiều nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước làm thiệt hại đến quyền lợi
của họ, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.
19

cực chính trị của nhân dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua hình thức thảo luận những vấn
đề chung của cả nước; thực hiện dân chủ ở cơ sở với phương châm dân biết, dân bàn, dân kiểm tra. Trong
điều kiện được pháp luật quy định, nhân dân quyết định cộng công việc quốc gia thông qua trưng cầu ý
dân.
1.2.3. Nguyên tắc đảng lãnh đạo
Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành
quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, thoe chủ nghĩa Mác – Leenin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước ở các mặt chủ yếu sau:
- Đảng đề ra đường lối chính trị, chính sách lớn cho hoạt động của Nhà nước và lãnh đạo Nhà
nước thể chế hòa đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật.
- Đảng quyết định những vấn đề quan trọng nhất về tổ chức cán bộ của bộ máy nhà nước.
- Đảng giới thiệu các đảng viên đảm nhận các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước.
- Đảng kiểm tra thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của đảng.
Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua tổ chức đảng và vai trò tiên phong của các đang viên
trong các quan, tổ chức.
1.2.4. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Điều 12 hiến pháp 1992 quy đinh: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nội dung nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa thể hiện trong tổ chức và hoạt
động của cơ quan nhà nước ở những điểm sau:
- Mọi cơ quan nhà nước phải được thành lập một cách hợp pháp.
20
- Tất cả các cơ quan nhà nước, những người có chức vụ và mọi cán bộ, công chức phải thực
hiện các hoạt động nhà nước đúng thẩm quyền được pháp luật quy định.
Tất cả các cơ quan nhà nước, những người có chức vụ, mọi cán bộ, công chức phải nghiêm chỉnh
chấp hành hiến pháp và pháp luật, không ngừng đấu tranh ngăn ngừa và chống các loại tội phạm, các hành
vi vi phạm pháp luật khác, chống mọi biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, cửa quyền …
1.3. Bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.3.1. Khái niệm bộ máy nhà nước:
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, được tổ chức theo
nguyên tắc chung nhất tạo thành mộ cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.

1.3.2.6. Cơ quan chính quyền địa phương
- Hội đồng nhần dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng
của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra (điều 118 hiến pháp 1992).
- Ủy ban nhân dân: là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương ( điều 123 hiến pháp năm 1992)
1.4. Hoàn thiện bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
1.4.1. Quan điểm đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam
Để giữa vững và phát huy bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện hiện nay, việc đổi
mới và hoàn thiện nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam phải quán triệt sâu sắc các quan điểm cơ
bản có tính nguyên tắc đã được đảng ta để ra trong các nghị quyết đại hội đảng và các nghị quyết ban chấp
hành trung ương, các nguyên tắc đó là:
21
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức làm nền
tảng, do đảng cộng sản lãnh đạo. Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm
kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của tổ quốc.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của nhà nước cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời
coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức;
- Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với Nhà nước.
Những quan điểm trên cần được thực hiện thành những định hướng cơ bản nhằm đổi mới và hoàn
thiện nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.4.2. Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam
1.4.2.1. Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của quốc hội.
- Tăng cường công tác lập pháp.
- Thực hiện tốt chwucs năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổ
ngân sách.

22
- Tăng cường cải cách hành chính, có những biện pháp quyết liệt hơn, kể cả việc giảm biên chế hàng
năm theo một tỷ lệ nhất định để làm động lực thúc đẩy sự phấn đấu và cần mẫn của các quan chức
hành chính, các cán bộ, coog chức … trong việc phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.
- Nhanh chóng cải cách chế độ tiền lương theo đúng phương thức làm theo năng lực và hưởng theo
thành quả lao động
- Tăng cường cơ sở vật chất, nhanh chóng áp dụng thành quả của công nghệ tin học và việc quản lý,
điều hành nền hành chính nhà nước và quản lý xã hội
- Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính và quản lý nhà nước
cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước ở các cấp …
1.4.3.3. Đối với các cơ quan tư pháp
- Tiến hành cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; ban
hành quy định cụ thể để thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Xây dựng cơ chế phán
quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tòa án nhân dân tối cao và viện kiểm soát nhân dân tối
cao. Mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu kiện hành chính; bảo đảm thực hiện
nguyên tắc tòa án, thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, tăng cường áp dụng công
nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan tư pháp.
- Nâng cao phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cơ quan tư pháp các cấp để đủ sức
phát hiện, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các loại tội phạm và giải quyết các tranh chấp phát
sinh trong xã hội, nhất là ở cơ sở thẩm, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Tạo điều kiện để phát triển nhanh các tổ chức bổ trợ tư pháp, phục vụ trực tiếp cho hoạt động của
các cơ qan tư pháp, đồng thời làm chỗ dựa cho nhân dân và doanh nghiệp tiếp cận hệ thống tư pháp,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật.
2. PHÁP LUẬT, PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
2.1. Pháp luật và vai trò của pháp luật XHCN
2.1.1. Khái niệm và đặc trưng của pháp luật
2.1.1.1. Khái niệm:
Pháp luật XHCN là hệ thống các quy tắc xử sự, có tính chất bắt buộc chung được thực hiện lâu dài
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhà nước,

nước sử dụng các biện pháp khác nhau để phổ biến, tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục mọi cơ
quan, tổ chức, các nhân có ý thức tôn trọng pháp luật XHCN, sống vaflafm việc theo pháp luật
XHCN, tạo các điều kiện tổ chức thực hiện pháp luật XHCN.
Khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo việc thực hiện
pháp luật XHCN. Đây là điểm riêng có của pháp luật mà các loại quy phạm xã hội khác không có.
2.1.2. Vai trò của pháp luật XHCN
2.1.2.1. Vai trò của pháp luật XHCN đối với kinh tế
Trong mối quan hệ với kinh tế, vai trò cảu pháp luật XHCN trước hết thể hiện ở chỗ pháp luật
XHCN là sự biểu hiện về mặt pháp lý các quan hệ sản xuất, các quan hệ đó trở thành các quan hệ pháp
luật XHCN tạo nên trật tự pháp luật XHCN về kinh tế cho một nhà nước.
Pháp luật XHCN trước hết tạo lập các cơ sở pháp lý cho các nhà kinh doanh thuộc mọi thành phần
kinh tế thực hiện các hoạt đông jkinh doanh, đồng thời nhà nước là chủ thể quản lý cũng dựa vào chuẩn
mực đó để quản lý các hoạt động kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, pháp luật XHCN là công cụ
hữu hiệu để loại bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, tùy tiện, ngăn ngừa rối loạn, khủng khoảng, thiết lập trật tự
ổn định, hạn chế những mặt trái của kinh tế thị trường.
Mặt khác, pháp luật XHCN có thể kích thích một ngành, lĩnh vực kinh tế nào đó phát triển hoặc
kiềm hãm chúng thống qua các biện pháp khuyến khích hya hạn chế, thậm chí ngăn cấm.
Pháp luật XHCN là phượng tiện để thể chế hóa các quan hệ hàng hóa, tiền tệ, hạch toán kinh tế, các
quan hệ lợi ích và đặc biệt là thể chế hóa và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế, về tổ chức và
hoạt động, làm cho nó có hiệu lực, hiệu quả thực thi trong quy mô toàn xã hội.
2.1.2.2. Vai trò của pháp luật XHCN đối với đời sống dân sự
Là phương tiện điều chỉnh và thể chế hóa các quyền tự do và lợi ích của công dân và bảo đảm cho
các quyền tự do, lợi ích đó được thực hiện.
Mặt khác, bằng sự ghi nhận một cách chính thức các giá trị mà con người có, con người cần, hướng
tới vì con người. Nhờ đó mà các thành viên của xã hội bằng phượng tiện pháp luật XHCN có điều kiện
bảo vệ các quyền tự do, lợi ích hợp pháp của mình, đấu tranh chống mọi hiện tượng tiêu cực, xây dựng
một xã hội văn minh, công bằng và dân chủ.
Pháp luật XHCN còn là công cụ, phương tiện bảo đảm sự an toàn tính mạng, tài sản, danh dự và
nhâm phẩm, tự do, bình đẳng và công bằng … của các thành viên xã hội. Vì vậy, pháp luật XHCN là
phương tiện cần thiết không thể thiếu để đảm bảo cho sự tồn tại, ổn định và phát triển của một xã hội, đặc

nhau, nhưng không đồng nhất với nhau. Pháp luật XHCN là tiền đề của pháp chế XHCN, nhưng có pháp
luật XHCN chưa hẳn có pháp chế XHCN. Pháp luật XHCN hiện hành không được tuân thủ, thi hành, hoặc
pháp luật XHCN không phù hợp, mâu thuẫn thì dễ dẫn đến tình trạng không có pháp chế XHCN, kỷ
cương trong xã hội. Pháp luật XHCN chỉ có hiệu lực thực sự khi trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế
XHCN. Pháp chế XHCN được đảm bảo khi có hệ thống pháp luật XHCN tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ,
phù hợp với thực tiễn khách quan.
2.2.2. Các nguyên tắc của pháp chế XHCN
2.2.2.1. Tông trọng tính tối cao của hiến pháp
Đây là yêu cầu quan trọng nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa,
tạo điều kiện cho hệ thống đó ngày càng phát triển hoàn thiện, làm cơ sở thiết lập trật tự pháp luật, củng
cố và tăng cường pháp chễ xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp là đạo luật gốc - cơ bản cả cả hệ thống pháp luật,
có giá trị pháp lý cao nhất và có vị trí trung tâm do đặc điểm về nội dung, được cơ quan quyền lực caoc
nhất là quốc hội ban hành theo một trình tự thủ tục đặc biết. Do vậy đòi hỏi các văn bản luật và dưới luật
phải có đủ để cụ thể hóa hiến pháp. Trong thực tế các văn bản dưới luật ở nước ta chiếm số lượng rất lớn
do luật chưa quy định được hết các quan hệ xã hội đang phát triển. Cho nên trong qua trình ban hành, xây
dựng các văn bản dưới luật này cần phải dựa vào hiến pháp và pháp luật để xây dựng cũng như ban hành.
2.2.2.2. Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trên phạm vi toàn quốc
Xuất phát từ bản chất và đặc điểm của nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc pháp
chế xã hội chủ nghĩa. Đòi hỏi cả về nhận thức và thực hiện pháp luật phải thống nhất trên phạm vi cả
nước. Muốn làm được điều này cần phải loại bỏ tư tưởng cục bộ, bả vị, địa phương chủ nghĩa, tự do vô
chính phủ, vi phạm pháp luật. Thực hiện tốt yêu cầu này là tiền đề quan trọng để thiết lập trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là loại bỏ
những hoàn cảnh đặc thù, riêng biệt của từng địa phương, từng vùng miền. Pháp luật cần có nhwungx quy
định cụ thể để phù hợp với những nét đặc thù, riêng biệt ở từng địa phương, tạo điều kiện cho các địa
phương này khai thác tối đa tiềm năng và thế mạnh của mình.
2.2.2.3. Các cơ quan xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật phải hoạt động một cách tích cực,
chủ động và có hiệu quả.
Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường pháp chế, vì vậy đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật
hoàn chỉnh và đồng bộ. Pháp luật được hình thành và phát triển theo nhu cầu khách quan cần thiết phải
điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nhưng pháp luật được xây dựng là kết quả của quá trình hoạt động chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status