Báo cáo " Một số vấn đề về thoả ước lao động tập thể " - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 27 Cao Thị Oanh *
ừ trớc đến nay, lí luận cũng nh thực
tiễn ở nớc ta đ thừa nhận tội phạm có
thể đợc thực hiện dới một trong hai hình
thức là phạm tội đơn lẻ và đồng phạm.
Trong trờng hợp tội phạm đợc thực hiện
dới hình thức phạm tội đơn lẻ thì tất cả mọi
vấn đề liên quan đến tội phạm chỉ cần xác
định thông qua hành vi của một ngời,
ngợc lại trong trờng hợp tội phạm đợc
thực hiện dới hình thức đồng phạm thì
những vấn đề liên quan lại phải đợc xem
xét nh là kết quả tổng hợp từ hành vi của
nhiều ngời. Chính sự khác biệt về số lợng
ngời thực hiện tội phạm nh vậy đ tạo ra
cho đồng phạm tính nguy hiểm cho x hội
cao hơn so với hình thức phạm tội đơn lẻ.
Do đó, việc xác định trờng hợp phạm tội
cụ thể là phạm tội đơn lẻ hay đồng phạm
gắn bó chặt chẽ với trách nhiệm hình sự của
những ngời tham gia thực hiện hành vi.
Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng
cùng với sự khác biệt về số lợng ngời
tham gia thì việc xác định các dấu hiệu pháp
lí liên quan đến tội phạm cũng phức tạp hơn

2. Những ngời này phải cùng thực hiện
tội phạm (cố ý).
- Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi
ba dấu hiệu:
1. Lỗi cố ý;
2. Động cơ phạm tội (nếu cấu thành tội
phạm tơng ứng quy định dấu hiệu động
cơ);
3. Mục đích phạm tội (nếu cấu thành tội
T

* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
28 - Tạp chí luật học

phạm tơng ứng quy định dấu hiệu mục đích).
Từ sự khái quát đó ta có thể xem xét các
dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của đồng phạm
nh sau:
Trớc hết, lỗi của những ngời tham gia
đồng phạm bao giờ cũng là lỗi cố ý, nói cụ
thể hơn thì đồng phạm có thể đợc thực hiện
với cả lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.
Phân tích dấu hiệu lỗi trong đồng phạm từ
trớc đến nay chúng ta đ đi đến thống nhất
quan điểm xác định là đồng phạm trong
trờng hợp mà những ngời tham gia thực

trờng hợp những ngời tham gia thực hiện
hành vi nguy hiểm cho x hội về lí trí đều
nhận thức đợc tính chất nguy hiểm cho x
hội của hành vi mà mình thực hiện và biết
ngời khác có hành vi nguy hiểm cùng với
mình, họ đều thấy trớc hậu quả nguy hiểm
cho x hội của hành vi của mình cũng nh
hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia
thực hiện, về ý chí họ cùng mong muốn có
hoạt động chung và cùng có ý thức để mặc
cho hậu quả xảy ra. Ví dụ: A đợc ngời nhà
đa vào bệnh viện do bị bệnh nặng cần đợc
cấp cứu kịp thời. B và C (là hai bác sĩ trực)
bàn nhau sách nhiễu đòi hối lộ của gia đình
A. Họ biết với tình trạng bệnh tật của A, nếu
không đợc cấp cứu kịp thời, hậu quả chết
ngời có thể xảy ra nhng với mục đích kéo
dài thời gian để buộc gia đình A phải đa
hối lộ nên họ vẫn trì hon những thao tác
nghề nghiệp cần thiết. Hành vi đó dẫn đến
hậu quả bệnh nhân A bị chết. Trờng hợp
này B và C là đồng phạm tội giết ngời với
lỗi cố ý gián tiếp.
Từ sự phân tích nh trên chúng ta có thể
đi đến kết luận: Trờng hợp lỗi của những
ngời tham gia đều là cố ý trực tiếp hay đều
là cố ý gián tiếp đ đợc chúng ta thừa nhận
về mặt lí luận. Tuy nhiên, vấn đề mà sách
báo pháp lí hình sự từ trớc đến nay cha đề
cập là trong vụ đồng phạm có thể đồng thời

trong luật điều kiện họ phải cùng là cố ý
trực tiếp hoặc cùng là cố ý gián tiếp. Khẳng
định của chúng ta từ trớc đến nay chỉ là sự
phân tích điều luật mang tính khái quát đặt
trong xu hớng phổ biến của thực tiễn. Do
đó, nếu xem xét trờng hợp nêu trên nh
trờng hợp cá biệt có thể xảy ra chúng tôi
cho rằng trờng hợp đó vẫn thoả mn những
điều kiện của đồng phạm. Ví dụ: A và B
cùng thầu ao của hợp tác x để thả cá. C đ
nhiều lần đến kéo trộm cá tại ao chung của
A và B, hành vi đó của C bị những ngời
cùng x nhìn thấy và đ kể với A, B. Cộng
với mâu thuẫn với C đ sẵn có từ trớc, A
nung nấu ý định giết C và chờ cơ hội để thực
hiện ý định đó. Một hôm, đang ngồi trong
lều coi cá, A nghe có tiếng động từ ao và
phát hiện ra C lại đến kéo cá trộm. A rủ B ra
xử lí C. B đồng ý với ý định sẽ đánh cho C
một trận cho bõ tức, hậu quả muốn ra sao thì
ra. A mang theo một con dao nhọn, B mang
theo một cây côn. Khi bắt đợc C, B dùng
côn quật bừa vào C còn A dùng dao đâm C
nhiều nhát. Khi thấy C gục xuống không còn
cử động gì, B bỏ vào lều còn A sau khi kiểm
tra thấy C đ chết mới bỏ đi.
Trờng hợp này rõ ràng cần phải đợc
xử lí với t cách là vụ đồng phạm.
Từ việc xem xét trờng hợp cá biệt đó
chúng tôi cho rằng khi xác định dấu hiệu ý

hầu nh đ có sự thống nhất ý kiến trong
sách báo pháp lí hình sự về việc những
ngời đồng phạm phải có cùng mục đích
nếu mục đích là dấu hiệu bắt buộc trong cấu
thành tội phạm hoặc nếu không có cùng
mục đích thì cũng phải có sự tiếp nhận mục
đích của nhau. Ví dụ: Một nhóm ngời có
cùng mục đích là chống chính quyền nhân
dân đ cùng nhau thu thập tin tức thuộc bí
mật nhà nớc để cung cấp cho nớc ngoài
(có cùng mục đích đợc quy định trong cấu
thành tội phạm) hoặc trờng hợp một ngời
biết rõ ngời khác đang tập hợp lực lợng để
hoạt động nhằm chống chính quyền nhân
dân, tuy ngời đó không có mục đích chống
chính quyền nhân dân nhng vì đợc trả tiền
nên vẫn giúp ngời kia thực hiện hoạt động
tập hợp lực lợng (tiếp nhận mục đích đợc
quy định trong cấu thành tội phạm).
Tuy nhiên, về vấn đề có đòi hỏi những
ngời đồng phạm phải cùng thoả mn dấu
hiệu động cơ không nếu động cơ là dấu hiệu
bắt buộc của tội phạm thì lại cha có sự
thống nhất giữa các ý kiến. Có thể khái quát
có hai loại quan điểm khác nhau xuất hiện
khi giải quyết vấn đề này:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng dấu hiệu
động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc
phải có ở tất cả những ngời đồng phạm mà
chỉ cần phải có ở ngời thực hành bởi vì cho

đều là hai dấu hiệu trong mặt chủ quan của
tội phạm, chúng đều không phải là những
dấu hiệu đơng nhiên bắt buộc phải có trong
mọi cấu thành tội phạm mà chỉ mang tính
bắt buộc trong một số cấu thành tội phạm.
Vì vậy, trong trờng hợp điều luật quy định
chúng là dấu hiệu bắt buộc thì chúng cần
phải đợc xem xét với giá trị ngang bằng
nhau.
Từ sự phân tích trên chúng tôi đi đến kết
luận: Trong trờng hợp ngời nào đó cùng
với ngời khác thực hiện hành vi nguy hiểm
mà điều luật tơng ứng quy định dấu hiệu nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 31

động cơ là dấu hiệu bắt buộc (ví dụ: Động
cơ vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác trong
tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi
hành công vụ) thì chỉ khi ngời đó có động
cơ nh vậy hoặc ít nhất là phải tiếp nhận
động cơ này từ ngời phạm tội kia họ mới
có thể là đồng phạm. Trong trờng hợp
ngợc lại thì chỉ riêng ngời thoả mn dấu
hiệu động cơ mới có thể là ngời phạm tội.
Ví dụ: Nếu một ngời phạm tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công
vụ nhận đợc sự giúp đỡ của một nhân viên

động cơ của B là ghen tuông. Trờng hợp
này A và B là đồng phạm tội giết ngời
nhng A có dấu hiệu động cơ đê hèn nên bị
xử theo khoản 2 Điều 93 BLHS năm 1999, B
chỉ bị xét xử theo khoản 1 Điều 93 BLHS
năm 1999.
Vấn đề khác cũng cần đợc đặt ra là đối
với những điều luật quy định dấu hiệu động
cơ mang tính lựa chọn, nếu những ngời
tham gia thực hiện tội phạm có động cơ
khác nhau (nhng đều là động cơ đợc quy
định trong điều luật đó) thì họ có coi là
đồng phạm với nhau hay không? Về vấn đề
này, chúng tôi cho rằng chỉ cần dấu hiệu
động cơ của họ thoả mn quy định của điều
luật thì họ đ phạm tội dới hình thức đồng
phạm mà không cần động cơ của họ phải
giống nhau. Ví dụ: Trờng hợp hai ngời
cùng nhau thực hiện hành vi lợi dụng chức
vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ mà
một ngời có động cơ vụ lợi, một ngời có
động cơ cá nhân khác thì họ vẫn là đồng
phạm của nhau.
Tóm lại, xuất phát từ quy định của Bộ
luật hình sự về đồng phạm và thực tiễn phạm
tội dới hình thức này, chúng tôi cho rằng
vấn đề mặt chủ quan của đồng phạm là vấn
đề rất phức tạp đồng thời việc làm sáng tỏ
nó lại là đòi hỏi của cả lí luận và thực tiễn.
Vì vậy, chúng cần phải nhận đợc sự quan


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status