Báo cáo " Xử lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại " potx - Pdf 12

VÊn ®Ò chung vÒ hîp ®ång th−¬ng m¹i

t¹p chÝ luËt häc sè 11/2008 11
Ph¹m NguyÔn Linh *
1. Quan niệm về hợp đồng vô hiệu
"Hợp đồng vô hiệu", "hợp đồng kinh tế
vô hiệu" là những khái niệm đã được tiếp
nhận và sử dụng khá phổ biến trong pháp
luật và thực tiễn thi hành pháp luật ở Việt
Nam. Thực tiễn khoa học pháp lí vẫn tồn tại
một số quan điểm khác nhau về hợp đồng vô
hiệu và xử lí hợp đồng vô hiệu. Theo nguyên
lí hợp đồng là sự thoả thuận làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các bên thì hệ quả của
sự thoả thuận không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ không hình thành hợp đồng chứ
không phải hình thành nên hợp đồng vô
hiệu. Bộ luật dân sự năm 2005 đã thận trọng
hơn khi sử dụng thuật ngữ "giao dịch dân sự
vô hiệu" song lại định nghĩa "Giao dịch dân
sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn
phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự" (Điều 121 Bộ
luật dân sự). Nếu xác định sự thoả thuận
không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của

toàn bộ hợp đồng vô hiệu. Khi các bên thoả
thuận mức phạt vi phạm hợp đồng vượt quá
mức tối đa mà luật quy định thì chỉ điều
khoản về mức phạt vô hiệu.
+ Hợp đồng vô hiệu do không đảm bảo
tư cách chủ thể khi giao kết hợp đồng. Tư
cách chủ thể được xác định theo thẩm quyền
của chủ thể đó. Một thương nhân có đăng kí
* Công ti luật Ngo, Miguérès & Associés
Hà Nội
VÊn ®Ò chung vÒ hîp ®ång th−¬ng m¹i

12 t¹p chÝ luËt häc sè 11/2008

kinh doanh và kinh doanh đúng ngành nghề
đã đăng kí được coi là đủ tư cách chủ thể để
kí hợp đồng nhằm mục đích kinh doanh. Một
cá nhân đủ năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự được coi là đủ tư cách chủ thể
giao kết và thực hiện hợp đồng.
+ Hợp đồng vô hiệu do người đàm phán,
kí kết hợp đồng không phải là đại diện hợp
pháp của chủ thể, cụ thể là không phải là đại
diện theo pháp luật, cũng không phải là đại
diện theo uỷ quyền của chủ thể hợp đồng.
+ Hợp đồng vô hiệu do hình thức hợp
đồng vi phạm quy định pháp luật.
2. Xử lí hợp đồng vô hiệu trong lĩnh
vực thương mại trước năm 2005
Việc xử lí hợp đồng thương mại vô hiệu

- Nếu khi kí kết hợp đồng kinh tế một
trong các bên chưa có đăng kí kinh doanh
mà trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh
tế giữa các bên có phát sinh tranh chấp và
đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp,
bên chưa có đăng kí kinh doanh khi kí kết
hợp đồng kinh tế vẫn chưa có đăng kí kinh
doanh để thực hiện công việc được các bên
thoả thuận trong hợp đồng thì hợp đồng kinh
tế này thuộc trường hợp quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
và bị coi là vô hiệu toàn bộ.
- Nếu khi kí kết hợp đồng kinh tế một
trong các bên chưa có đăng kí kinh doanh
nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng
kinh tế giữa các bên có phát sinh tranh chấp
và đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp,
bên chưa có đăng kí kinh doanh khi kí kết
hợp đồng đã có đăng kí kinh doanh để thực
hiện công việc được các bên thoả thuận
trong hợp đồng thì hợp đồng kinh tế này
không thuộc trường hợp quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
và do đó không bị coi là vô hiệu toàn bộ.
Thứ hai: Theo quy định tại điểm c khoản
1 Điều 8 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì
VÊn ®Ò chung vÒ hîp ®ång th−¬ng m¹i

t¹p chÝ luËt häc sè 11/2008 13


thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp
không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì
phải trả bằng tiền, nếu tài sản đó không bị
tịch thu theo quy định của pháp luật; thu
nhập bất hợp pháp phải nộp vào ngân sách
nhà nước; thiệt hại phát sinh các bên phải
chịu. Trường hợp hợp đồng kinh tế bị coi là
vô hiệu từng phần thì các bên phải sửa đổi
các điều khoản trái pháp luật, khôi phục các
quyền và lợi ích ban đầu và bị xử lí theo các
quy định khác của pháp luật.
Nghiên cứu vấn đề xử lí hợp đồng vô
hiệu trong lĩnh vực thương mại (giai đoạn
trước 2005) cho thấy một số điểm nổi bật
như sau:
- Cở sở pháp lí để xử lí hợp đồng vô hiệu
là văn bản áp dụng riêng cho quan hệ hợp
đồng trong lĩnh vực thương mại, đó là Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế (văn bản này đã hết
hiệu lực từ ngày 1/1/1006);
- Căn cứ pháp lí để xác định hợp đồng vô
hiệu có tính đến đặc thù của quan hệ thương
mại nên đặc biệt chú trọng các yếu tố liên
quan đến quan hệ thương mại như: 1) Phạm
vi thẩm quyền của thương nhân - với tư cách
là chủ thể của hợp đồng thương mại; 2) Đại
diện hợp pháp của thương nhân; 3) Nội dung
sự thoả thuận. Ngoài ra, yếu tố tự do, tự
nguyện trong đàm phán có được đề cập
nhưng chưa rõ nét.

có một trong các điều kiện được quy định
trên đây thì vô hiệu. Cụ thể bao gồm:
1) Giao dịch dân sự có mục đích và nội
dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái
đạo đức xã hội thì vô hiệu.
2) Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.
3) Giao dịch dân sự vô hiệu do người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự xác lập, thực hiện.
4) Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn.
5) Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa
dối, đe dọa.
6) Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác
lập không nhận thức và làm chủ được hành
vi của mình.
7) Giao dịch dân sự vô hiệu do không
tuân thủ quy định về hình thức. Trong
trường hợp pháp luật quy định hình thức
giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực
của giao dịch mà các bên không tuân theo
thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, toà
án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác
quyết định buộc các bên thực hiện quy định
về hình thức của giao dịch trong một thời
hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì
giao dịch vô hiệu.
So với quy định về hợp đồng kinh tế vô
hiệu trước đây, việc quy định về giao dịch
dân sự vô hiệu (áp dụng chung cho mọi quan

t¹p chÝ luËt häc sè 11/2008 15

dịch dân sự vô hiệu, Bộ luật dân sự quy định
nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại của bên có
lỗi, quy định bảo vệ quyền lợi của người thứ
ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu.
Quy định này đảm bảo lợi ích chính đáng
của các bên hoặc người có liên quan đến
giao dịch vô hiệu.
Bên cạnh các điểm tích cực này, do quan
hệ hợp đồng thương mại có những đặc thù về
chủ thể và nội dung giao kết, việc áp dụng
quy định về giao dịch dân sự vô hiệu trong
quan hệ hợp đồng thương mại có một số
vướng mắc, thể hiện ở những khía cạnh sau:
Một là: Quy định về năng lực chủ thể
của hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân
sự sẽ rất khó xác định trong các quan hệ
thương mại.
Điều 122 Bộ luật dân sự quy định một
trong những điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng là "người tham gia giao dịch có năng
lực hành vi dân sự". Năng lực hành vi dân sự
được hiểu là khả năng của cá nhân bằng
hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền,
nghĩa vụ dân sự (Điều 17 Bộ luật dân sự).
Đối với pháp nhân, pháp luật chỉ quy định về
năng lực pháp luật của pháp nhân. Năng lực
pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng
của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự

phụ thuộc vào việc có thể coi đây là giao
dịch dân sự có nội dung vi phạm điều cấm
của pháp luật hay không. Theo tác giả, có
thể hiểu Điều 9 Luật doanh nghiệp theo ý
nghĩa là pháp luật doanh nghiệp không cho
phép (cấm) doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh vượt ra ngoài phạm vi ngành nghề đã
đăng kí và hợp đồng thương mại kí kết trong
trường hợp này sẽ bị coi là vô hiệu.
Hai là: Việc xác định hợp đồng thương
mại vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức
của hợp đồng có ý kiến khác nhau do thiếu sự
thống nhất giữa quy định của Bộ luật dân sự
và quy định của Luật thương mại.
VÊn ®Ò chung vÒ hîp ®ång th−¬ng m¹i

16 t¹p chÝ luËt häc sè 11/2008

Bộ luật dân sự quy định: trường hợp
pháp luật quy định hình thức của hợp đồng
là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nếu
các bên vi phạm thì hợp đồng bị coi là vô
hiệu. Luật thương mại quy định hợp đồng
đại lí, hợp đồng uỷ thác, hợp đồng môi giới
và một số hợp đồng khác "phải được kí kết
bằng văn bản" mà không ghi rõ hình thức
văn bản là điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng. Sự không thống nhất này tất yếu sẽ
dẫn đến cách hiểu và áp dụng pháp luật
khác nhau. Theo tác giả, có thể hiểu khi

việc kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, xử
lí vi phạm và giải quyết tranh chấp về hợp
đồng kinh tế. Chức năng "xử lí vi phạm pháp
luật về hợp đồng" cho phép trọng tài kinh tế
nhà nước quyền chủ động tuyên bố và xử lí
hợp đồng vô hiệu khi phát hiện có sự vi
phạm pháp luật mà không cần đợi sự khiếu
nại của một hoặc các bên.
* Giai đoạn từ 1/7/1994 đến nay
Từ ngày 1/7/1994, hệ thống cơ quan
trọng tài kinh tế nhà nước chấm dứt hoạt
động đồng thời theo quy định của Pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994),
các quy định pháp luật về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp và xử lí vi phạm pháp luật
hợp đồng kinh tế của trọng tài kinh tế không
còn có hiệu lực thi hành và toà án nhân dân
là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh
chấp hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên, toà án là
cơ quan xét xử không có chức năng quản lí
nhà nước nên không thể tự mình kiểm tra,
phát hiện và tuyên bố hợp đồng vô hiệu như
trọng tài kinh tế trước đây. Theo nội dung
hướng dẫn tại điểm b mục 2 Công văn của
Toà án nhân dân tối cao số 11/KHXX ngày
23/1/1996 thì các hợp đồng kinh tế bị coi là
vô hiệu khi xảy ra tranh chấp toà án nhân
dân thụ lí giải quyết theo thủ tục giải quyết
các vụ án kinh tế và áp dụng quy định về xử
lí hợp đồng kinh tế vô hiệu tại Điều 39 Pháp

chấp liên quan đến hợp đồng vô hiệu".
Các khái niệm này có nội hàm khác nhau,
theo đó, "tuyên bố hợp đồng vô hiệu" thể hiện
rõ tính quyền lực nhà nước đối với các hợp
đồng trái pháp luật. Trong pháp luật Việt
Nam, trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan
duy nhất có thẩm quyền này và cơ chế
"tuyên bố hợp đồng vô hiệu" được sử dụng
phù hợp trong nền kinh tế kế hoạch khi mà
việc kí kết hợp đồng không hoàn toàn do ý
chí tự nguyện của các bên quyết định. Khái
niệm "xử lí hợp đồng vô hiệu" cũng hàm
chứa tính quyền lực nhà nước và thể hiện
thái độ của nhà nước đối với hành vi vi
phạm pháp luật.
Khi quyền tự do hợp đồng được ghi nhận
và khi trọng tài kinh tế nhà nước chấm dứt
hoạt động, hợp đồng thương mại vô hiệu
được giải quyết với sự tách biệt rõ hai quan
hệ pháp luật: Một là, xử lí hành chính hoặc
hình sự đối với tổ chức, cá nhân có hành vi
vi phạm pháp luật; hai là, giải quyết tranh
chấp về tài sản liên quan đến hợp đồng
thương mại vô hiệu. Như vậy, về bản chất, ở
góc độ quan hệ tài sản không đặt ra vấn đề
xử lí hay tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Chính
vì vậy, cơ quan có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp thương mại (kể cả toà án) không
chủ động tuyên bố hay xử lí hợp đồng vô
hiệu mà chỉ giải quyết tranh chấp về hợp

trọng tài có giá trị xác định hội đồng trọng
tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
xảy ra giữa các bên. Điều 11 Pháp lệnh
trọng tài thương mại năm 2003 quy định:
"Điều khoản trọng tài tồn tại độc lập với
hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ
hợp đồng, sự vô hiệu của hợp đồng không
ảnh hưởng đến hiệu lực của điều khoản
trọng tài". Như vậy có thể hiểu hợp đồng
có thể vô hiệu nhưng điều khoản trọng tài
vẫn có thể có hiệu lực pháp luật và nguyên
đơn có quyền sử dụng hiệu lực của điều
khoản trọng tài đó để khởi kiện tại hội
đồng trọng tài đã được các bên thoả thuận
lựa chọn. Quy định này cho thấy Pháp lệnh
trọng tài thương mại không hạn chế thẩm
quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng
thương mại vô hiệu của trọng tài thương
mại. Nội dung tranh chấp về hợp đồng
thương mại vô hiệu chỉ là giải quyết hậu
quả về tài sản, bao gồm cả lợi ích hợp pháp
của các bên hoặc bên thứ ba ngay tình, do
vậy, không nhất thiết phải nhân danh
quyền lực nhà nước để giải quyết đối với
mọi trường hợp./.

(1). Hiện tại, Pháp lệnh trọng tài thương mại năm
2003 là văn bản điều chỉnh hoạt động của trọng tài
thương mại.
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP

biệt về loại hợp đồng này nhằm đáp ứng nhu
cầu thực tiễn của toàn xã hội nói chung và
của các nhà kinh doanh nói riêng. Điều đó
càng khẳng định vai trò không thể phủ nhận
của hợp đồng thương mại đối với đời sống
kinh tế trên phạm vi toàn cầu./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status