luận văn:Hoàn thiện quy trình kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn do Công ty AASC thực hiện - Pdf 12

Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Hoàn thiện quy trình kiểm
toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn
do Công ty AASC thực hiện” Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
2
MỤC LỤC


2.2. Quy trình kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn do AASC
thực hiện tại khách hàng 40

2.2.1. Giới thiệu chung về hai khách hàng của AASC 40

2.2.1.1. Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị Long Giang 40

2.2.1.2. Công ty Cổ phần tập đoàn Phú Thái 44

2.2.2. Lập kế hoạch kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn tại
hai khách hàng 47

2.2.2.1. Lập kế hoạch kiểm toán khoản đầu tư dài hạn tại Long Giang 47

2.2.2.2. Lập kế hoạch kiểm toán khoản đầu tư dài hạn cho Phú Thái 51

2.2.3. Thực hiện kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn tại hai khách hàng 53

2.2.3.1. Thực hiện kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn tại Long Giang 53

Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
3
2.2.3.2. Thực hiện kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn tại Công ty Cổ phần
tập đoàn Phú Thái-văn phòng 68

2.2.4. Kết thúc kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn tại hai khách
hàng 76

2.2.4.1. Kết thúc kiểm toán đầu tư dài hạn tại Long Giang 76

KẾT LUẬN 100

Danh mục tài liệu tham khảo: 102Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
4
LỜI MỞ ĐẦU

Chúng ta đã biết nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế đó đang ngày càng phát triển và
hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Bên cạnh việc nắm bắt rõ tình hình tài chính
của đối thủ cạnh tranh, các nhà quản lý cũng phải hiểu rõ tình hình tài chính
của chính công ty mình để có thể đề ra những chiến lược phát triển đúng đắn
và kịp thời nhằm nâng cao doanh thu và lợi nhuận.Vì thế hiện nay kiểm toán
ngày càng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và từng thực thể
kinh tế nói riêng.
Do ngày nay sự liên doanh hợp tác giữa các doanh nghiệp các tập đoàn
ngày càng phát triển và lan rộng trong nền kinh tế nên khoản mục đầu tư tài
chính đặc biệt là đầu tư tài chính dài hạn trong báo cáo tài chính của một
doanh nghiệp ngày càng phức tạp. Đầu tư dài hạn bao gồm góp vốn liên
doanh; đầu tư và công ty con; đầu tư vào công ty khác và các khoản đầu tư tài
chính dài hạn khác. Để đánh giá một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hay
không, ngoài việc đánh giá tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp đó, còn đánh giá
việc đầu tư tài chính của Doanh nghiệp đó có hiệu quả hay không. Vì lý dó
này, kiểm toán khoản mục đầu tư dài hạn trong báo cáo tài chính ngày càng
được chú trọng, việc xác minh khoản mục đầu tư tài chính của doanh nghiệp
đã được phản ánh hợp lý và trung thực chưa luôn là một vấn đề quan trọng đối
với các nhà đầu tư. Do đó, em xin mạnh dạn tìm hiểu Đề tài : “Hoàn thiện

6
CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TOÁN CÁC
KHOẢN ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH DÀI HẠN

1.1. Đầu tư tài chính dài hạn với mục tiêu kiểm toán
1.1.1. Đầu tư tài chính dài hạn với kiểm toán tài chính
Theo quan điểm của kế toán thì đầu tư tài chính là đầu tư các nguồn
lực, các khoản tiền nhàn rỗi trong ngân quỹ vào các doanh nghiệp, các đơn
vị, đầu tư vào thị trường chứng khoán và công cụ tài chính khác. Đầu tư
tài chính được chia thành hai loại: Đầu tư tài chính dài hạn và đầu tư tài
chính ngắn hạn.

Các khoản đầu tư dài hạn là một khoản mục thuộc Bên Tài sản
trong BCĐKT của một doanh nghiệp. Các khoản đầu tư dài hạn là các
khoản đầu tư với thời gian thu hồi vốn trên một năm, bao gồm đầu tư bằng
tiền, bằng hiện vật hoặc bằng các tài sản khác. Nếu hiểu một cách cơ bản
nhất thì đầu tư tài chính dài hạn là sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi hoặc
các tài sản khác của doanh nghiệp này góp với các đơn vị kinh doanh khác
trong thời hạn trên một năm với mong muốn tạo ra lợi nhuận trong tương
lai.
Doanh nghiệp có thể thực hiện đầu tư tài chính dài hạn dưới các
hình thức sau:
Hình thức thứ nhất là đầu tư vào công ty con: Công ty con là một doanh
nghiệp chịu sự kiểm soát của một công ty khác gọi là công ty mẹ. Đầu tư vào
công ty con bao gồm các khoản đầu tư cổ phiếu và các khoản đầu tư vốn dưới
hình thức góp vốn bằng tiền, tài sản khác vào công ty con. Nghiệp vụ đầu tư
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B

Giảm giá đầu tư tài chính dài hạn: Các khoản đầu tư tài chính dài hạn bị
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
8
giảm giá khi giá trị của các khoản đầu tư này được ghi nhận thấp hơn giá trị
trên thị trường.
Kiểm toán là hoạt động được thực hiện bởi những kiểm toán viên độc
lập, có năng lực chuyên môn nhằm xác minh và bày tỏ ý kiến về tính có
thật , đầy đủ, chính xác, trung thực và hợp lý của các chỉ tiêu trên BCTC.
Vì thế kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn là hoạt động xác minh
các khoản đầu tư tài chính dài hạn của doanh nghiệp được phản ánh
chính xác, trung thực, đầy đủ và hợp lý trên BCTC của doanh nghiệp.
1.1.2. Mục tiêu kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Mục tiêu kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn là đưa ra các ý kiến về
Bảng cân đối, các khoản đầu tư dài hạn của doanh nghiệp được thể hiện một
cách thực tế tại thời điểm cuối niên độ kế toán (thường là 31/12); các khoản
đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp được kê khai và đánh giá chính xác đồng
thời đưa ý kiến về sự phân lại trình bày và miêu tả chính xác của các khoản
đầu tư dài hạn của doanh nghiệp. Ngoài ra, kiểm toán viên phải đưa ý kiến về
tính thích hợp, chính xác và sự tuân thủ chuẩn mực kế toán cũng như quy định
kế toán hiện hành của việc lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài.
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn sẽ được lưu lại trong thời gian hơn
một năm. Do vậy trong các cuộc kiểm toán hàng năm, mức nguyên giá của các
khoản đầu tư này không cần kiểm tra lại nếu đó là khách hàng thường niên của
công ty kiểm toán. Tuy nhiên để đảm bảo các khoản đầu tư dài hạn được mua
trong các giai đoạn trước thì phải kiểm tra sự tồn tại của các khoản đầu tư
quan trọng tại thời điểm ghi trong BCĐ. Đối với năm kiểm toán đầu tiên thì
mục tiêu kiểm toán là kiểm tra tính phân loại và trình bày của các khoản
mục đầu tư dài hạn, đánh giá các điều kiện để ghi nhận đó là khoản đầu tư
dài hạn và hình thức đầu tư. Khi trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp

thống kiểm soát nội bộ của khách hàng, từ đó đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
10
soát để có thể xây dựng được một kế hoạch kiểm toán cho các khoản mục trên
BCTC nói chung và khoản mục đầu tư tài chính dài hạn nói riêng.
1.2.1. Lập kế hoạch kiểm toán
Bước đầu tiên trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán là đánh giá hệ
thống KSNB của khách hàng. Đây là bước công việc đòi hỏi KTV phải thu
thập các thông tin về khách hàng để có thể đưa ra những nhận xét và đánh giá
về hệ thống KSNB của khách hàng. Trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm
toán viên phải đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và rủi ro kiểm soát không
chỉ để xác minh tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ mà còn làm cơ sở cho việc
xác định phạm vi thực hiện các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ
của đơn vị
.
Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện theo trình tự
nhất định và có thể khái quát theo ba bước cơ bản sau:
Bước 1: Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi
tiết hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc.
Trong giai đoạn này kiểm toán viên tìm hiểu về kiểm soát nội bộ của
đơn vị trên hai mặt chủ yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm thiết kế về qui
chế kiểm soát và thiết kế về bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có hiệu
lực của kiểm soát nội bộ.
Kiểm toán viên phải thu thập thông tin về tính trung thực của Ban giám
đốc với bản chất và phạm vi của các sổ sách kế toán để xác minh các bằng
chứng đủ thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số dư trên BCTC.
Đối với khoản mục đầu tư tài chính dài hạn thường được xem là khoản
mục quan trọng và là hoạt động kinh doanh ảnh hưởng đáng kể đến nguồn vốn
cũng như lợi nhuận của Doanh nghiệp. Vì thế tính hiệu quả của hệ thống kiểm

hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng. Ngoài ra, KTV có thể sử dụng
phương pháp này để trực tiếp kiểm tra cách quản lý và kiểm soát các khoản
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
12
đầu tư dài hạn của khách hàng. Đối với khách hàng thường niên công việc này
giúp KTV cập nhật được những thay đổi trong hệ thống KSNB của khách
hàng, từ đó khoanh vùng được rủi ro đối với các khoản mục trên BCĐ.
Phương pháp này có thể rất hữu hiệu đối với công ty cổ phần do trên thực
tế, các nhân viên của công ty cổ phần thường có sở hữu cổ phiếu của công
ty mình. Việc thẩm vấn nhân viên về sự hiểu biết các khoản đầu tư dài hạn
của công ty mình cũng giúp KTV đánh giá được tính công khai và minh
bạch của Ban Giám đốc, đánh giá được hệ thống KSNB của khách hàng.
Phương pháp thứ ba là xem xét và kiểm tra hệ thống sổ sách kế toán đã
hoàn tất của khách hàng : Trong hồ sơ thường niên của khách hàng đã có
lưu các thông tin về bộ máy kế toán cũng như hình thức sổ sách kế toán
của khách hàng, KTV có thể tham khảo hệ thống sổ sách kế toán cũng như
các thông tin về nhân viên kế toán của khách hàng và so sánh với kỳ kiểm
toán năm nay để thấy được sự thay đổi. Thông thường hình thức sổ sách kế
toán là không thay đổi, tuy nhiên có thể có những thay đổi về mặt nhân sự
kế toán. Ví dụ đối với các khoản đầu tư dài hạn, kỳ kế toán năm trước là do
một kế toán viên có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực kế toán đảm
nhiệm còn trong kỳ kế toán năm nay lại do một nhân viên kế toán non nớt
thiếu kinh nghiệm phụ trách thì rủi ro kiểm soát trong kiểm toán các khoản
đầu tư tài chính dài hạn năm nay sẽ cao hơn năm trước.
Sau khi thu thập các thông tin để đánh giá hệ thống KSNB của khách
hàng, KTV mô tả hệ thống KSNB của khách hàng trên giấy tờ làm việc. Sau
đó, KTV tiến hành thực hiện bước thứ hai trong quá trình đánh giá hệ
thống KSNB của khách hàng.
Bước 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho

kiểm soát đối với khoản đầu tư vào công ty liên kết thấp.
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
14
Bước 3: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (thử nghiệm tuân thủ):
Mục đích của thử nghiệm này là thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu
của các quy chế và thủ tục kiểm soát để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên
số dư và các nghiệp vụ phát sinh.
Đối với các khoản đầu tư tài chính dài hạn, thử nghiệm kiểm soát
được thực hiện với phương pháp chủ yếu là kiểm tra thủ tục phê duyệt đầu
tư; hoặc rà soát sơ lược để theo dõi từng bước thực hiện nghiệp vụ đó trên
sổ sách và đối chiếu với trong thực tế để so sánh sự khác biệt và đánh giá hệ
thống kiểm soát đối với nghiệp vụ này.
Sau khi đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng và khái quát
khoanh vùng được rủi ro kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn,
KTV tiến hành xây dựng kế hoạch kiểm toán chung cho cuộc kiểm toán và kế
hoạch cụ thể đối với từng khoản mục trên BCĐ, trong đó có lập kế hoạch
kiểm toán cho kiểm toán khoản mục đầu tư tài chính dài hạn.

Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán.
Đây là giai đoạn mà KTV cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo
ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm
toán. Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế
hoạch kiểm toán cụ thể và được thực hiện theo các bước sau đây :
Bước 1: Thu thập thông tin cơ sở của khách hàng :
Các chuẩn mực chuyên môn đòi hỏi KTV/công ty kiểm toán phải có
được những hiểu biết cần thiết và đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh
giá và phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị
được kiểm toán mà theo KTV có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc
kiểm tra của KTV hoặc đến báo cáo kiểm toán. KTV và các trợ lý kiểm toán

Phương pháp vốn chủ sở hữu: Là phương pháp kế toán mà khoản đầu
tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó được điều chỉnh theo những
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
16
thay đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu
tư. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải phản ánh phần sở hữu của nhà
đầu tư trong kết quả kinh doanh của bên nhận đầu tư.
Phương pháp giá gốc: Là phương pháp kế toán mà khoản đầu tư được
ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó không được điều chỉnh theo những thay
đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chỉ phản ánh khoản thu nhập của nhà
đầu tư được phân chia từ lợi nhuận thuần luỹ kế của bên nhận đầu tư phát sinh
sau ngày đầu tư.
Xem lại kết quả của cuộc kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán
chung của khách hàng. Các hồ sơ kiểm toán năm trước thường chứa đựng
rất nhiều thông tin về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức
và các đặc điểm hoạt động khác và đặc biệt về những biên bản họp hoặc
những quyết định đầu tư của Ban lãnh đạo. Qua đó KTV sẽ tìm thấy những
thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng, về các khoản
đầu tư tài chính của khách hàng đã phát sinh trong năm trước và có thể sẽ
phát sinh trong năm nay, đồng thời bước đầu nắm bắt được những khoản
đầu tư đó là đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, nội dung cụ thể của những
khoản đầu tư đó. Xem lại hồ sơ kiểm toán chung cũng giúp kiểm toán viên
hiểu thêm về điều lệ công ty, quy trình kế toán, chính sách kế toán … và xác
định được các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp của Nhà
nước, với các chính sách hiện hành không.
Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV nên xác định tất cả các bên có liên
quan với khách hàng. Đối với các khoản đầu tư dài hạn, KTV càng nên xác
định đối tượng đầu tư dài hạn của khách hàng, ví dụ khách hàng đầu tư vào

ty là gì và các khoản đầu tư có mang lại lợi nhuận cao cho công ty.
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
18
Ba là các hợp đồng và cam kết quan trọng như: Hợp đồng góp vốn liên
doanh, hợp đồng đầu tư vào công ty liên kết hoặc các hợp đồng và cam kết
đầu tư khác là mối quan tâm hàng đầu của cuộc kiểm toán.
Bước 3: Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ:
Theo CMKT hiện hành các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả
các cuộc kiểm toán và chúng thường được thực hiện trong tất cả các giai đoạn
của cuộc kiểm toán. Sau khi thu thập được thông tin cơ sở và thông tin về
nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, KTV tiến hành thực hiện các thủ tục phân
tích đối với các thông tin đã thu thập được để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch.
KTV thường thực hiện thủ tục phân tích ngang đối với khoản mục đầu
tư tài chính dài hạn, thường là so sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc
giữa các kỳ với nhau. Nhờ đó KTV thấy được những biến động bất thường và
xác định được lĩnh vực cần chú ý.
Bước 4: Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro:
Sau các bước trên KTV sẽ căn cứ vào các thông tin đã thu thập được để
đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra chiến lược kế hoạch kiểm toán phù hợp. Thêm
vào đó KTV phải đánh giá được tính trọng yếu và rủi ro để xây dựng được kế
hoạch kiểm toán thích hợp.
Trong giai đoạn lập kế hoạch KTV phải đánh giá mức độ trọng yếu của
các khoản mục để ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được.
Nhìn chung các sai phạm về khoản mục đầu tư tài chính dài hạn thường
ảnh hưởng nghiêm trọng đến các BCTC của khách hàng vì các khoản đầu
tư dài hạn thường có giá trị lớn và ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh
của ban giám đốc.
Vì đầu tư tài chính dài hạn thường là một khoản mục quan trọng trong
BCTC nên rủi ro về khoản mục này thường không cao, rủi ro sai sót ở khoản

▪ Đối chiếu hồ sơ thanh toán (sổ quỹ tiền mặt, sổ phụ ngân hàng)
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
20
+ Kiểm tra việc cổ phần của Doanh nghiệp trong liên doanh được đưa vào
sổ một cách chính xác bằng cách thực hiện các công việc sau:
▪ Đối chiếu lợi nhuận được chia hoặc tổn thất trong liên doanh hoặc các
giấy chứng nhận khác của liên doanh.
▪ Đối chiếu lợi nhuận được chia hoặc tổn thất của liên doanh với báo
cáo lãi lỗ của doanh nghiệp.
+ Đánh giá sự cần thiết lập khoản dự phòng giảm giá ĐTDH bằng cách so
sánh giá trị mang sang của chúng với các mục sau:
▪ Đối với các chứng khoán được mua bán trên các thị trường chứng
khoán được công nhận thì đối chiếu với giá thị trường chứng khoán đó công
bố vào thời điểm cuối kỳ kế toán và tại thời điểm kiểm toán.
▪ Đối với các khoản đầu tư bằng hình thức liên doanh thì phải đối chiếu
với phần TSCĐ của liên doanh theo BCTC đã kiểm toán của liên doanh.
▪ Đối với các khoản ĐTDH khác, thì phải so sánh với sự đánh giá bất
động sản thực tế đối với các tài sản tương tự hoặc các bằng chứng thích hợp
khác.
+ Kiểm tra hạch toán việc thanh lý như:
▪ Đối chiếu giá bán với hợp đồng bán, với hồ sơ thanh toán tiền.
▪ Đối chiếu giá trị mang sang tại thời điểm thanh lý với tài liệu làm việc
của năm trước nếu có thể hoặc với sổ phụ theo dõi đầu tư.
▪ Tính toán lại thu nhập hoặc tổn thất từ việc thanh lý đầu tư và đối
chiếu chúng với báo cáo lãi lỗ.
+ Đánh giá việc phân loại TSDH như:
▪ Bảo đảm không có khoản ĐTDH nào được thanh lý đến hết kỳ kế
toán.
▪ Thu thập được văn bản của Ban lãnh đạo về việc các khoản ĐTDH

thị trường với giá trị ghi sổ của các khoản đầu tư dài hạn đến ngày ký báo cáo
kiểm toán. Nếu giá thị trường thấp hơn giá trị ghi sổ thì kiểm toán viên phải
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
22
xét đến sự cần thiết phải lập dự phòng giảm giá. Nếu xét thấy có nghi ngờ về
khả năng thu hồi khoản đầu tư thì kiểm toán viên phải xem xét đến các điều
chỉnh và thuyết minh thích hợp trình bày trong báo cáo tài chính.

Thực hiện kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn thường đ ược
thông qua các bước công việc sau:
Bước 1: Thực hiện thủ tục kiểm soát với các đầu tư tài chính dài hạn
Thủ tục kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống KSNB
với đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống KSNB hoạt động
hiệu quả. Khi đó thủ tục kiểm soát được triển khai nhằm thu thập các bằng
chứng kiểm toán về thiết kế và về hoạt động của hệ thống KSNB. Chuẩn mực
Kiểm toán Việt Nam số 500 quy định: “Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ
thống kiểm soát) là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết
kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống KSNB”.
Thủ tục kiểm soát với các khoản đầu tư dài hạn thường là phỏng vấn
ban giám đốc, đưa ra những câu hỏi về nội dung các khoản đầu tư dài hạn để
xác nhận họ có thực hiện hoạt động kiểm soát đối với khoản mục này không.
Các câu hỏi đưa ra cần gọn, rõ ràng và đi thẳng vào nội dung của khoản mục
đầu tư. Với khoản mục đầu tư dài hạn, KTV thường sử dụng câu hỏi mở để
khách hàng có thể trả lời trực tiếp về vấn đề mà KTV quan tâm. Kết thúc
phỏng vấn cần tóm tắt những kết quả thu được về nhận biết thực tiễn với xác
nhận của người phỏng vấn.
Ngoài phương pháp phỏng vấn trực tiếp khách hàng, KTV có thể thực
hiện lại công việc của một kế toán viên đã làm để xác nhận mức độ thực hiện
trách nhiệm của họ với công việc được giao. Bên cạnh đó, KTV có thể kiểm

Thủ tục phân tích phát triển mô hình và ước tính giá trị và so sánh
với giá trị ghi sổ thường không được áp dụng nhiều trong kiểm toán các khoản
đầu tư tài chính dài hạn vì các khoản đầu tư tài chính dài hạn (đầu tư vào công
ty con, công ty liên kết, góp vốn liên doanh) thường không có biến động nhiều
Khoá luận tốt nghiệp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
24
và thường không có chênh lệch giữa các kỳ kế toán. Trong đầu tư tài chính dài
hạn thì đầu tư chứng khoán dài hạn hoặc cổ phiếu trái phiếu dài hạn mới có sự
chênh lệch giữa giá thị trường với giá trị ghi sổ, vì thế cần lập khoản dự phòng
giảm giá đầu tư dài hạn.
Bước 3: Thủ tục kiểm tra chi tiết với kiểm toán các khoản đầu tư tài
chính dài hạn:
Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc
nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư để
kiểm toán từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay
loại nghiệp vụ. Thông thường KTV thường chọn một số khoản mục điển hình
từ một tài khoản để kiểm tra chi tiết và trong các khoản mục điển hình đó, KTV
áp dụng phương pháp chọn mẫu đại diện với giá trị mẫu lớn hoặc nội dung các
khoản mục bất thường.
Khi tiến hành kiểm tra chi tiết, KTV thực hiện các biện pháp kỹ thuật
kiểm tra chi tiết, xác nhận và kiểm tra thực tế là hai kỹ thuật thường được áp
dụng rộng rãi trong kiểm toán tài chính nói chung và kiểm toán các khoản đầu
tư dài hạn nói riêng.
Xác nhận số dư và những nghiệp vụ bằng một nguồn bên ngoài thường
cung cấp bằng chứng có tính thuyết phục. Tính độc lập và tin cậy của dữ liệu
tài chính và nghiệp vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến tính chính xác của dự đoán
và tới bằng chứng kiểm toán thu được. Để đánh giá tính tin cậy của dữ liệu
cần xem xét trên nhiều mặt. Dữ liệu có nguồn độc lập từ bên ngoài có độ tin
cậy cao hơn nguồn này từ bên trong. Những dữ liệu đã được kiểm toán có độ

doanh (cơ sở được đồng kiểm soát) đòi hỏi phải có sự thành lập một cơ sở
kinh doanh mới. Hoạt động của cơ sở này cũng giống như hoạt động của
các doanh nghiệp khác, điểm khác biệt là thỏa thuận bằng hợp đồng giữa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status