LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với
người lao động, nhằm đảm bảo cuốc sống vật chất, ổn định đời sống cho người lao
động và gia đình họ trong các trường hợp bị ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng
lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết. Chính sách BHXH ở nước ta
được thực hiện ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước, 60 năm qua, trong
quá trình tổ chức thực hiện, chính sách BHXH ngày càng được hoàn thiện và
không ngừng đổi mới, bổ xung cho phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước.
Cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng (12/1986), chính sách BHXH và tổ chức quản lí hoạt động cũng
có nhiều đổi mới tích cực.
Từ việc nghiên cứu quá trình đổi mới của BHXH tôi nhận thấy BHXH thực sự
là một chính sách quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước.
BHXH không những góp phần ổn định đời sống của người lao động mà còn
khuyến khích họ tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải cho xã hội, xây dựng đất
nước. Trong quá trình thực hiện BHXH đã không ngừng phát triển cả về chất
lượng lẫn số lượng. Số người tham gia ngày càng tăng lên, mở rộng cho các đối
tượng tham gia, hoàn thiện dần hệ thống chính sách BHXH tiến tới thực hiện đủ
các chế độ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). Đặc biệt là sự đổi mới về cơ chế
quản lí từ cơ chế quản lí kế hoạch hoá, tập chung, bao cấp, hoàn toàn do NSNN
đảm bảo đã chuyển sang cơ chế thực hiện có thu và quỹ hoạt động trên nguyên tắc
cân bằng thu chi. Cách thực hiện như vậy không những giảm được gánh nặng cho
NSNN mà còn thể hiện trách nhiệm của cả người sử dụng lao động đối với người
lao động. Nhà nước nước đóng vai trò tổ chức thực hiện và quản lí thông qua
BHXH Việt Nam, là hệ thống ngành dọc được tổ chức từ Trung ương đến địa
phương.
1
Bên cạnh những mặt đạt được, BHXH Việt Nam cũng còn rất nhiều tồn tại cần
sớm được khắc phục cả về nội dung chính sách, tổ chức quản lí hoạt động. Đây là
những đòi hỏi cấp thiết cần được nghiên cứu để góp phần dân hoàn thiện chính
sách và tổ chức quản lí hoạt động của BHXH Việt Nam. Trong đó quản lí tài chính
đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.”
Qua khái niệm trên, có thể rút ra một số điểm cơ bản sau:
- Đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập của người lao động bị biến động,
giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do các biến cố như đã
nêu trên từ đó để giúp ổ định cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình
họ. Chính vì yếu tố này mà BHXH được coi là một chính sách lớn của mỗi quốc
gia và được Nhà nước quan tâm quản lí chặt chẽ. Cũng tùy vào điều kiện kinh tế
của mỗi nước mà các quy định về đối tượng này là có sự khác nhau nhưng cùng
bảo đảm ổn đình đời sống của người lao động.
- Đối tượng tham gia BHXH là gồm người lao động và cả người sử dụng lao
động. Sở dĩ người lao động phải đóng phí vì chính họ là đối tượng được hưởng
BHXH khi gặp rủi ro. Người sử dụng lao động đóng phí là thể hiện sự quan tâm,
trách nhiệm của họ đối với người lao động. Và sự đóng góp trên là bắt buộc, ngoài
ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nước.
- Để điều hoà mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động, để gắn
bó lợi ích giữa họ, Nhà nước đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng đóng góp và đây
cũng là chính sách xã hội được thực hiện góp phần ổn định cuộc sống một cách
hiệu quả nhất.
Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động Quốc tế
( ILO) cũng đã đưa ra một định nghĩa khác như sau:
“ BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một
loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để
chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm mất thu
nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa,
BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia
4
đình khi cần thiết.”
Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hướng tới sự phát triển
của mỗi cá nhân và toàn xã hội. BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi ích của xã hội đối
với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội đó.
lao động khi họ gặp những rủi ro làm mất thu nhập do mất khả năng lao động hay
mất việc làm. Rủi ro này có thể làm mất khả năng lao động tam thời hay dài hạn thì
mức trợ cấp sẽ được quy định cho từng trường hợp. Chức năng này quyết định
nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH.
Đối tượng tham gia BHXH có cả người lao động và người sử dụng lao động và
cùng phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho người lao động
khi gặp phải rủi ro, số người này thường chiếm số ít. BHXH thực hiện cả phân
phối lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang, giữa người lao động khoẻ mạnh
với người lao động ốm đau, già yếu..., giữa những người có thu nhập cao phải
đóng nhiều với người có thu nhập thấp phải đóng ít. Như vậy thực hiện chức năng
này BHXH còn có ý nghĩa góp phần thực hiện công bằng xã hội, một mục tiêu
quan trọng trong chính sách kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia.
Nhờ có BHXH mà người lao động luôn yên tâm lao động, gắn bó với công việc,
nâng cao năng suất lao động. Từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội,
tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, nâng cao đời sống toàn xã hội. Nếu
trước đây, sự trợ giúp là mang tính tự phát, thì hiện nay khi xã hội đã phát triển,
việc trợ giúp đã được cụ thể hoá bằng các chính sách, quy định của Nhà nước. Sự
bảo đảm này giúp gắn bó mối quan hệ giữa người lao động và xã hội và càng thúc
đẩy hơn nghĩa vụ của họ đối với xã hội.
Trong thực tế giữa người lao động và người sử dụng lao động có những mâu
6
thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động... BHXH đã
gắn bó lợi ích giữa họ, đã điều hoà được những mâu thuẫn giữa họ, làm cho họ
hiểu nhau hơn. Đây cũng là mối quan hệ biện chứng hai bên đều có lợi, người lao
động thì được đảm bảo cuộc sống, người sử dụng thì sẽ có một đội ngũ công nhân
hăng hái, tích cực trong sản xuất. Đối với Nhà nước thì BHXH là cách chi ít nhất
song hiệu quả nhất vì đã giải quyết những khó khăn về đời sống của người lao
động và góp phần ổn định sản suất, ổn định kinh tế - xã hội.
c. Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội
Nhìn chung hệ thống BHXH được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:
T Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
T Trợ cấp tuổi già.
T Trợ cấp thai sản.
T Trợ cấp tàn tật.
T Trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình.
Các thành viên tham gia Công ước phải thực hiện ít nhất là 3 trong 9 chế độ nói
trên, trong đó phải có nhất thiết 1 trong năm chế độ sau đây:
t Trợ cấp tuổi già.
T Trợ cấp thất nghiệp.
T Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
TTrợ cấp tàn tật.
T Trợ cấp vì mất người trụ cột gia đình.
Mỗi chế độ trong hệ thống BHXH khi xây dựng phải dựa trên các cơ sở điều
kiện kinh tế, thu nhập, tiền lương, ... Đồng thời, tuỳ từng chế độ mà còn phải tính
đến các yếu tố sinh học, tuổi thọ bình quân, nhu cầu dinh dưỡng, ... để quy định
các mức đóng, mức hưởng, thời gian hưởng và đối tượng hưởng cho hợp lí. Các
chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
8
+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp của mỗi nước.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên
tham gia BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kì.
+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán.
+ Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu
quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
+ Các chế độ BHXH cần phải được điều chỉnh định kì để phản ánh hết sự thay
đổi của điều kiện kinh tế -xã hội.
1.1.4. Quỹ bào hiểm xã hội
mỗi bên một phần bằng nhau. Trong đó, một số nước khác lại quy định, Chính phủ
bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi quản lí BHXH ....
Quỹ BHXH được sử dụng để chi trả chủ yếu cho hai mục đích sau: thứ nhất là
chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH như đã nêu ở mục 5, còn lại là chi trả cho
chi phí sự nghiệp quản lí BHXH. Trong hai khoản chi đó thì khoản chi thứ nhất là
quan trọng và chiếm phần lớn trong quỹ BHXH. Các khoản trợ cấp này cũng được
quy định về mức trợ cấp và thời gian hưởng một cách cụ thể và có sự khác biệt đối
với từng chế độ. Tại những nước khác nhau thì các khoản trợ cấp này cũng được
quy định khác nhau.
10
1.1.5. Phân loại quỹ BHXH:
Tuỳ theo mục đích và cách tổ chức của những hệ thống BHXH trên thế giới mà
quỹ BHXH được phân loại khác nhau:
q Phân loại theo các chế độ bao gồm: Quỹ hưu trí, tử tuất; Quỹ tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp; Quỹ thất nghiệp; Quỹ ốm đau thai sản.
v Phân loại theo tính chất sử dụng bao gồm: Quỹ ngắn hạn để chi trả cho các chế
độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm mất khả năng lao động
tạm thời; Quỹ dài hạn để chi trả trợ cấp cho các chế độ như hưu trí, tử tuất.
t Phân loại theo đối tượng tham gia bao gồm: Quỹ cho công chức Nhà nước,
quỹ cho lực lượng vũ trang, quỹ cho lao động trong các doanh nghiệp, quỹ cho
các đối tượng còn lại.
Việc phân loại quỹ như trên cần được thực hiện và cân nhắc tránh những tình
trạng phân nhỏ quỹ dễ gây ra tình trạng mất tập trung, không có sự bổ xung và hỗ
trợ lẫn nhau. Việc phân chia quỹ không hợp lí sẽ dẫn tới những ảnh hưởng xấu đến
việc chi trả cho các đối tượng, đặc biệt là vấn đề quản lí quỹ một cách hợp lí. Dựa
trên các cách tổ chức thực hiện các chế độ mà mỗi nước lại có những quy định
khác nhau về các quỹ thành phần. Các quỹ thành phần phải thực sự phù hợp với hệ
thống BHXH đó.
1.2. Tổng quan về cơ quan quản lý tài chính Bảo Hiểm Xã Hội
1.2.1. Khái niệm chung về quản lí tài chính Bảo Hiểm Xã Hội
quản lí, đặc biệt là khâu lập kế hoạch phải chú trọng tới vấn đề này. Đây cũng là
một đặc thù trong ngành Bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng vì tính đảo
ngược chu kì kinh doanh tức là thu phí trước chi trả cho các chế độ sau. Tuy có sự
hỗ trợ của NSNN, song quản lí tài chính BHXH phải góp phần giảm gánh nặng cho
NSNN và vẫn thực hiện chính sách xã hội này một cách tốt nhất.
NQuỹ BHXH phải được bảo tồn và phát triển: Như trên đã đề cập thì ngành Bảo
hiểm có đặc thù thu phí trước, chi trả sau, thời gian đóng và thời gian hưởng có thể
12
kéo dài, đồng tiền có giá trị về mặt thời gian. Do vậy cần đầu tư để bảo tồn và tăng
trưởng quỹ một cách hợp lí. Để đảm bảo nguyên tắc này cơ quan BHXH phải tăng
cường kiểm tra, giám sát hoạt động thu chi và quản lí quỹ thực hiện đầu tư phần
quỹ nhàn rỗi một cách có hiệu quả và tuân thủ các nguyên tắc sau:
+An toàn: Mục đích của quỹ là bảo đảm chi trả lương hưu và các trợ cấp BHXH
cho người lao động. Vì vậy, quỹ dù có đầu tư vào lĩnh vực nào cũng phải đảm bảo
an toàn cho khoản đầu tư đó. Đảm bảo an toàn là không chỉ bảo toàn vốn đầu tư về
danh nghĩa, mà còn là bảo toàn về cả giá trị thực tế, điều này càng có ý nghĩa quan
trọng trong thời kì lạm phát. Nói cách khác thì đầu tư quỹ phải lựa chọn lĩnh vực
để giảm thiểu rủi ro.
+ Hiệu quả: Đây là mục tiêu của việc đầu tư tăng trưởng quỹ do vậy nguyên tắc
này rất quan trọng và phải được đi liền với nguyên tắc thứ nhất. Lãi đầu tư không
chỉ góp phần đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản chi mà còn góp phần cho
phép hạ tỉ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động.
+ Khả năng thanh toán (tính lưu chuyển của vốn): Đây cũng là yêu cầu đặc thù
của nghành do các khoản chi trả là phát sinh sau và kéo dài nên các khoản đầu tư
phải đảm bảo tính thanh khoản để dễ dàng chi trả cho các đối tượng kịp thời. Đặc
biệt tránh những khoản đầu tư dễ vướng vào những vấn đề tồn khoản. Các hình
thức đầu tư dễ thanh khoản và an toàn thường được ưu tiên thực hiện trước.
+ Có lợi ích kinh tế, xã hội: Là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách xã hội,
do đó trong quá trình đầu tư phải lưu ý đến việc nâng cao phúc lợi cho người dân,
phải ra sức cải thiện chất lượng chung cho đời sống dân cư của đất nước. Các hình
+ Quản lí đối tượng bắt buộc tham gia BHXH theo quy định.
+ Quản lí công tác cấp sổ BHXH: Vì đây là căn cứ xác định quá trình đóng góp,
14
ngành nghề lao động, thời gian lao động, tên người lao động và một số thông tin
khác.
Quản lí quỹ lương của các doanh nghiệp:Theo những quy định hiện hành như
ngày nay thì phí thu BHXH thường được tính theo phần trăm tổng quỹ lương của
doanh nghiệp và tiền lương tháng của người lao động nên quỹ lương còn là cơ sở
để quản lí thu một cách thuận lợi. Dựa trên quỹ lương của doanh nghiệp BHXH có
thể đảm bảo thu đúng, thu đủ và hạn chế được tình trạng gian lận trốn đóng
BHXH. Bên cạnh đó chính các doanh nghiệp trở thành những “đại lí” thực hiện thu
và chi trả trực tiếp cho một vài chế độ là thực sự thuận lợi cho công tác thu phí nói
riêng và công tác thực hiện các chế độ BHXH nói chung.
Quản lí tiền thu BHXH:Các đơn vị, doanh nghiệp sẽ thực hiện nộp phí thông
qua tài khoản của BHXH. Do vậy, BHXH khó nắm bắt được tình hình thu. Để đảm
bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời cần có những quy định rõ ràng về thời gian nộp, hệ
thống tài khoản thu nộp phải thuận lợi và an toàn cho việc nộp. Việc nắm bắt tình
hình thu BHXH giúp quản lí quỹ dễ dàng, kịp thời điều chỉnh và đảm bảo cho công
tác chi trả được thực hiện một cách tốt nhất. Trong nội dung quản lí thu BHXH, tất
cả các đóng góp BHXH sẽ được quản lí chung một cách thống nhất, dân chủ, công
khai trong toàn hệ thống.
b. Quản lí chi BHXH.
Các khoản chi BHXH bao gồm các khoản chi cho các chế độ, chi quản lí và chi
khác. Trong đó có thể nói hai khoản chi đầu là rất lớn đặc biệt là chi cho các chế độ,
hơn nữa khoản chi này chính là thể hiện sự bảo đảm cuộc sống của chính sách
BHXH. Vì vậy nhắc đến quản lí chi là nhắc đến hai nội dung chính sau:
Quản lí hoạt động chi trả cho các chế độ:Mục tiêu của hoạt động quản lí chi
không với mục đích giảm khoản chi này một cách lớn nhất có thể mà quản lí để
tránh tình trạng chi sai chế độ hoặc chi không đúng đối tượng vừa tránh lãng phí lại
đảm bảo công bằng cho các đối tượng tham gia BHXH. Do vậy, để đảm bảo chi trả
16
trước, chi sau, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường với những cơ hội
cũng như những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào nên việc bảo toàn và phát triển
quỹ lại trở thành nhu cầu bức thiết. Nếu quỹ không chú trọng đến vấn đề đầu tư có
thể sẽ đứng trước tình trạng bội chi hay nói cách khác là chi vượt quá thu. Nếu đầu
tư tăng trưởng quỹ có hiệu quả thì đây là một nguồn thu bổ sung rất lớn cho quỹ để
đảm bảo cân đối thu chi từ đó giảm gánh nặng cho NSNN. Để hoạt động đầu tư
thực hiện đúng vai trò của nó thì phải đảm bảo những nguyên tắc như an toàn,
tránh rủi ro, có lãi và trên hết là thực hiện được lợi ích xã hội.
d. Quản lí hoạt động cân đối quỹ.
BHXH là chính sách xã hội nên khác với các loại hình bảo hiểm thương mại,
BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà mục đích lớn nhất là ổn định
cuộc sống của người lao động. Do vậy cân bằng thu chi là trạng thái mong muốn
của mỗi nước khi triển khai thực hiện BHXH. Để cân đối thu chi trên thực tế
thường phải có sự hỗ trợ của NSNN, đồng thời thì quỹ phải tìm cho mình những
nguồn thu khác để đảm bảo cân bằng quỹ. Trong đó các khoản chi và nguồn thu đã
được trình bày ở trên. Quản lí cân đối quỹ là việc làm hết sức quan trọng nhằm
phát hiện ra những thay đổi dẫn đến mất cân đối để có những biện pháp khắc phục
kịp thời.
1.2.3. Sự cần thiết của cơ quan nhà nước quản lý tài chính Bảo hiểm xã hội
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tồn tại thể hiện thông qua các mối quan hệ giữa
nhà bảo hiểm và người mua bảo hiểm, giữa nhà bảo hiểm đối với người thứ ba
khác nhau trong quá trình thiết lập, hoạt động, giải thể, phá sản,... Cũng như các
hoạt động, các mối quan hệ trong các lĩnh vực KT-XH. Môi trường pháp lý hoàn
thiện càng tạo ra được một hành lang cho hoạt động nghề bảo hiểm này phát triển
tốt phát huy cao độ tác dụng tích cực đối với đời sống KT-XH.
Nhà nước cần có sự kiểm tra đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm vì 2 lý do
chính sau đây:
17
- Do những đặc trưng riêng có của hoạt động kinh doanh bảo hiềm. Nhả bảo
chỉ là thể hiện tính ưu việt của mỗi Nhà nước mà chính Nhà nước cũng là chủ sử
dụng lao động lớn nhất trong xã hội. Các chính sách, quyết định của Nhà nước tác
động trực tiếp tới hoạt động quản lí. Môi trường kinh tế như GDP, thu nhập bình
quân đầu người, giá cả, tình trạng nền kinh tế tăng trưởng hay khủng hoảng, mức
sống tối thiểu, các dịch vụ công cộng... . Đây là các yếu tố tác động tới thu chi, cân
đối quỹ BHXH sao cho phù hợp đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động.
Bên cạch đó còn có các yếu tố như văn hoá, lối sống, truyền thống, trình độ nhận
thức,... nó tác động đến mức độ chấp nhận, sự đồng tình thực hiện của mỗi cá nhân
trong xã hôi. Chẳng hạn như ở nước ta có truyền thống “lá lành đùm là rách, lá
rách ít đùm lá rách nhiều” rất phù hợp với mục đích triển khai BHXH nên được
mọi người đồng tình thực hiện. Tất cả những yếu tố kể trên tác động tới nội dung
của những quy định trong các quy chế quản lí tài chính BHXH Việt Nam.
b. Nhân tố chủ quan
Những tác động của bản thân các yếu tố bên trong hệ thống như ý thức tự giác
của các đối tượng tham gia là người lao động và đặc biệt là chủ sử dụng lao động.
Yếu tố trình độ của các cán bộ trong ngành BHXH, điều kiện làm việc, trang thiết
bị phục vụ công tác,....cũng ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lí tài chính
BHXH. Trình độ cán bộ càng cao, cơ sở vật chất kĩ thuật cang đầy đủ và hiện đại
thì công tác quản lí tài chính BHXH càng thuận lợi, thực hiện càng có hiệu quả.
19
1.3. Kinh nghiệm về quản lí tài chính Bảo Hiểm Xã Hội ở một số nước trên
thế giới
Tính đến năm 1993, trên thế giới đã có 163 nước thực hiện chính sách BHXH,
trong đó số các nước thực hiện chế độ hưu trí, tai nạn lao động, ốm đau, thai sản là
nhiều nhất lên tới 155 nước, chiếm khoảng 95%, ít nhất là chế độ thất nghiệp là có
khoảng 63 nước, chiếm 38,6%. Việc thực hiện các chế độ là tuỳ thuộc vào điều kiện
tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước. Tuy nhiên xu hướng chung hiện nay
là đang dần thực hiện ngày càng đầy đủ hơn các chế độ. Đối với lịch sử phát triển của
ngành BHXH trên thế giới thì BHXH Việt Nam còn rất mới, như vậy chúng ta cần
học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước.
định của nền kinh tế mà khoản dự trữ này thường chỉ ở mức đủ chi cho các đối
tượng do quỹ đảm bảo trong một tháng, từ năm 2001 đã rút xuống khoản 0,8 tháng.
Cách này có những ưu điểm như: hạn chế được những tác động của môi trường
kinh tế, dễ dàng cân đối quỹ, giảm thiểu tình trạng bội chi, không hề gây gánh
nặng cho NSNN,... .
Cộng hoà Liên bang Đức không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc
nhiều chế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm thu, chi cho một
loại chế độ nhất định. Điểm đáng lưu ý ở nước này là những công chức Nhà nước (
những người được đề cử vào bộ máy quản lí Nhà nước) không phải đóng BHXH,
nhưng họ được nhận lương hưu khi hết tuổi lao động. Khoản chi này được lấy từ
nguồn thu thuế để trả. Có nhiều tổ chức cùng tham gia thực hiện các chế độ
BHXH, đặc biệt là sự có mặt của các tổ chức BHXH tư nhân, có thể mang lại sự
cạnh tranh giúp cho hoạt động ngày càng hiệu quả.
21
1.5.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Ngay sau khi thành lập nước, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành xây dựng một
hệ thống an toàn xã hội, chủ yếu bao gồm BHXH, cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội,
trợ giúp xã hội. Trong các chế độ đó BHXH giữ vai trò quan trọng nhất. Đến năm
1994, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Luật Lao động, trong đó chương
IX có những quy định cải cách hệ thống BHXH. Các chế độ BHXH chỉ được áp
dụng ở các khu vực thành thị và trong các doanh nghiệp. Tại các địa phương ở
Trung Quốc đã cụ thể hoá các chế độ, trong đó hai chế độ là hưu trí và thất nghiệp
đã được xây dựng thành Điều lệ, các chế độ khác về cơ bản còn là quy định tạm
thời song có hiệu lực khá cao.
Về nguyên tắc mỗi chế độ có một quỹ riêng. Nguồn quỹ gồm hai khoản: Một
khoản do chủ sử dụng lao động nộp và một khoản do người lao động đóng. Riêng
quỹ bảo hiểm tai nạn lao động thì chỉ do chủ sử dụng lao động đóng. NSNN sẽ hỗ
trợ khi mất cân đối thu chi do các nguyên nhân bất khả kháng, còn các trường hợp
khác tự người lao động và người sử dụng lao động bảo đảm. Các quỹ nhìn chung
được chia làm hai phần: Phần thứ nhất được đưa vào tài khoản cá nhân gồm toàn
tại BHXH Việt Nam.
Đối với hệ thống BHXH Trung Quốc, đây là hệ thống BHXH được tổ chức như
một hệ thống mở, các chính sách được cụ thể hóa và thực hiện chưa thực sự thống
nhất trong cả nước song tính hiệu lực tương đối cao. Đây cũng là một điểm mạnh
mà BHXH Việt Nam cần xem xét vì hiện nay tính hiệu lực trong các quy định của
nước ta là chưa cao. Các đối tượng bắt buộc tham gia của BHXH Việt Nam thực
hiện chưa đầy đủ, việc trốn đóng hay nợ đọng vẫn là những vấn đề còn tồn tại.
Bên cạnh đó, việc tổ chức quỹ thành hai phần: phần thứ nhất là một phần phí do
người sử dụng lao động nộp để sử dụng chung, phần thứ hai bao gồm phần phí do
người lao động nộp và phần còn lại do người sử dụng nôp. Phần thứ hai này được
tổ chức thành tài khoản cho người lao động, họ có thể chủ động hơn trong các kế
hoạch tài chính của mình.
23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ TÀI
CHÍNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM
2.1. Khái quát về Bảo Hiểm Xã Hội ở Việt Nam
2.1.1. Lịch sử phát triển Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
a. BHXH Việt Nam giai đoạn trước 1995.
Ngay từ đầu của cuộc kháng chiến, mặc dù còn rất nhiều khó khăn và phải giải
quyết nhiều công việc hệ trọng của đất nước nhưng Nhà nước ta vẫn luôn dành sự
quan tâm tới việc tổ chức thực hiện BHXH. Trước tiên Chính phủ cách mạng đã áp
dụng chế độ hưu trí cũ của Pháp để giải quyết quyền lợi cho một số công chức đã
làm việc dưới thời Pháp, sau đó đi theo kháng chiến nay đã già yếu. Sau cách mạng
tháng Tám thành công do còn khó khăn về nhiều mặt nên chế độ chỉ được thực
hiện đến năm 1949.
Năm 1950, Hồ Chủ Tịch kí Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành quy chế
công chức và Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành quy chế công nhân.
Theo các Sắc lệnh trên, công chức và công nhân đã có những quyền lợi về chế độ
hưu trí. Nhìn lai chính sách BHXH giai đoạn này chúng ta có thể nhận thấy các
chính sách được xây dựng và thực hiện ngay sau khi dành được độc lập tuy hoàn
có quy định tăng mức đóng BHXH và đặc biệt người lao động phải đóng BHXH.
Cơ chế hoạt động của BHXH được quy định trong chương XII của Bộ Luật lao
động do Quốc hội khoá IX thông qua ngày 23/6/1994, sau đó được cụ thể hoá
trong Điều lệ BHXH và hai Nghị định 12/CP và 45/CP ban hành năm 1995. Từ
đây ngành BHXH Việt Nam chuyển sang trang mới trong lịch sử phát triển của
mình.
b. BHXH Việt Nam giai đoạn sau 1995
Đây là giai đoạn chính sách và quản lí hoạt động BHXH có những đổi mới thực
sự từ cơ chế tập chung, bao cấp không đóng BHXH vẫn được hưởng BHXH sang
25